|
|
CON
MÈO MUN
Cô Ba Tokai

Sàig̣n vào cuối thập niên 1950 rất an
b́nh, vùng Cầu Ông Lănh - Cầu Kho vựa của các thương thuyền Hậu
Giang mang nông sản cung cấp cho thành phố, dân cư sống nhờ buôn bán
ở các chợ. Đường Huỳng Quang Tiên (Cống Quỳnh nối dài) chưa tới một
ngàn mét nhưng vị trí thuận lợi, một đầu cắt bến Chương Dương, đầu
kia thông với đại lộ Trần Hưng Đạo dẫn đến bến xe đ̣ Nguyễn Cư Trinh
đi các tỉnh. Ngoài những căn phố tường gạch nóc ngói dọc hai bên
đường, phía sau các dăy nhà nầy là những hẽm nhỏ nhiều cái chái hay
gác lỡ lụp xụp mọc chen chút dọc theo con rạch sắp cạn nước. Như
những khu b́nh dân khác trong thành phố, đường tráng nhựa nhưng ổ gà
loang lỗ nên sau mỗi cơn mưa nhiều vũng nước đọng vài ngày mới ráo.
Những cột đèn giây nối chằng chịch không thứ tự, v́ câu điện lậu xài
chùa, phông-tên công cộng bên đường các chị em giành giựt nhau hứng
nước căi vă om ṣm. Đêm khuya khi vắng người, đàn chuột xuất hiện
lục lạo trong các đống rác bên lề kiếm ăn, cũng là lúc các chú mèo
hoang lẽo đẽo t́m mồi.
Từ đường Trần Hưng Đạo đến bến Chương
Dương khoảng nửa đường Huỳnh Quang Tiên phía tay trái cạnh phông-tên
nước một căn nhà trệt nhỏ cũ, tọa lạc trên vuông đất không rộng lắm,
trước nhà cây bàng to có lẽ được trồng khoảng mười năm trước. Bóng
mát của cây khá rộng, lá xanh to dầy đặc, vào những buổi trưa nóng
bức đây là chỗ nghỉ chân của các chị gánh hàng rong và những phu xe
xích lô tránh ánh mặt trời gay gắt. Người ta đồn ma hiện ở cây bàng nầy v́
trước đây có người treo cổ chết, với ánh đèn lờ mờ của cột điện,
những người gánh nước ở phông-tên về khuya thấy một người đàn ông
trung niên mặc bộ bà ba trắng ngồi trên cái ghế cạnh gốc cây bàng
như đang hóng mát. Những ai dạn dĩ ṭ ṃ lại gần th́ không có ǵ cả,
nghe nói người tự tử lúc sanh tiền là ông giáo rất giỏi văn chương.
Vào năm 1960, một gia đ́nh di cư từ miền
Bắc đến trú ngụ tại căn nhà nầy. Người chồng độ năm mươi tuổi tầm
vóc vừa cao, khoẻ mạnh hoạt bát, da ngâm tóc hớt ngắn điểm bạc. Vợ
độ bốn mươi lăm cao ốm, da trắng ít nói, tóc vấn răng đen ăn trầu và
cậu con trai hơn hai mươi cũng cao to lực lưỡng da ngâm đen, khoẻ
mạnh. Sau vài tháng gia đ́nh mở một cửa hàng giặt ủi, vuông đất
quanh nhà làm sân giặt phơi, nước từ phông-tên công cộng bên cạnh,
căn nhà cũ phía trước là nơi tiếp khách và ủi quần áo. Hàng xóm gọi
người chồng là ông Ba giặc ủi. Nhờ tánh cần mẫn làm việc có uy tín
nên tiệm giặc càng ngày càng phát đạt. Sau hơn một năm tiệm có thêm
ba người trai trẻ phụ trách việc giặt ủi, ông Ba đảm trách việc tiếp
khách nhận hàng, bà đi chợ làm cơm cho chồng con và thợ làm việc ăn
ở trong tiệm. Gia đ́nh ông Ba tiêu biểu cho những người Bắc di cư
vào Nam sinh sống, nhờ siêng năng biết dành dụm nên sau ba năm làm
việc họ đă dư giả. Chiều chiều rảnh rang ông Ba thường ra đứng trước
cửa tiệm cạnh gốc cây bàng hóng mát, nh́n xe cộ qua lại ngắm học tṛ
tan trường và thợ thuyền tan sở về. Có của ăn của để, ông Ba mướn
thợ sửa căn nhà thành hai tầng tiện nghi như nhà của những gia đ́nh
khá giả vào thời bấy giờ. Vài tháng sau lễ thành hôn của người con
trai được tổ chức, cô dâu khá xinh rước về bằng một tiệc cưới theo
lễ nghi miền Bắc.
Ông Ba rất tự măn những ǵ đang có, vợ
hiền dâu ngoan con hiếu giúp ông chăm nôm công việc. Nhưng sau tiệc
cưới không lâu ông nhúm bệnh, thoạt tiên nghĩ chỉ nhức đầu nóng
sơ nhẹ, nhưng triệu chứng kéo dài cả tháng không khỏi, một đêm thân
nhiệt lên cao miệng nói xảm, ông vùng dậy xé quần áo chạy quanh nhà
như người mất trí. Tin ông Ba giặt ủi phát điên được đồn đi
nhanh, người bày thầy nầy kẻ chỉ lương y nọ, gia đ́nh ông cố gắng
chăm sóc thuốc thang nhưng không giảm. Những người biết chuyện kể
vài tháng trước khi lên lầu, người thợ dựng cây đ̣n dong v́ lư do
nào đó đă căi vă với ông Ba kịch liệt, bỏ về giữa chừng, hôm sau anh
đến làm việc b́nh thường đến khi căn nhà hoàn tất. Mọi người khuyên
bà Ba nên t́m thầy pháp cúng có lẻ hiệu quả hơn thầy thuốc.
Vài ngày sau một thầy pháp trong chiếc
áo lễ, tay cầm cờ ngủ sắc được mời đến lập bàn thờ, t́m khắp nơi có
một đồng xu bùa ếm được đặt ở cây cột chính dưới nóc nhà, sau khi
người thầy pháp lên đàng đồng xu được bỏ đi. Tiếng chiêng mỏ trống
đánh lên khiến đông trẻ con và những người hiếu kỳ tụ lại coi đầy
trước cửa tiệm giặc ủi. Ông Ba đang nằm thiêm thiếp trên tầng hai,
th́nh ĺnh vùng dậy chạy nhanh tới hành lang la ó rồi nhảy từ căn
gác xuống, nhanh nhẹn hai chân đạt đất như con mèo nhảy từ
trên cao xuống chạy thẳng ra đường. Trẻ con và người coi trước cửa
sợ hải chạy tán loạn, con trai chạy theo ôm lại nhưng ông vùng mạnh
làm anh té xuống đất rồi đứng dậy tiếp tục chạy theo bố, những người
thợ trong tiệm cũng theo giúp kéo ông về. Ông Ba tuổi đă hơn năm
mươi nhưng lúc ấy như con trâu điên, sức mạnh lạ kỳ ba người trai
trẻ rượt theo mới bắt được đem về nhà, bước vào nhà ông vẫn la to
tiếng, trợn nh́n người thầy pháp bằng đôi mắt đỏ ao vẻ thù hận. Bốn
người trai trẻ giữ hai tay hai chân buộc lại bằng dây thừng, ông nằm
dăy dụa một lúc mệt nên ngủ yên.
Sau khi thầy pháp dời đồng xu ếm khỏi
trần nhà bệnh trạng ông Ba không thuyên giảm, vợ con cố cho cháo sữa
vào miệng, nhưng tay chân vẫn bi buộc. Sau vài tháng người sa sút
hẳn, lúc ngủ trông ông rất mỏi mệt, khi thức lúc khóc lúc cười. Bà
Ba đi đến nhiều chùa xin xâm khấn vái, ai bày đâu bà đến đấy không
màng thầy pháp hay thầy thuốc, gia đ́nh đă tuyệt vọng chỉ mong phép
nhiệm mầu xuất hiện hoặc phước chủ may thầy gặp được quư nhân.
Một hôm có người bày, một thầy người
Trung Hoa từ Hồng Kông được mời đến Việt Nam đang chữa bệnh cho một
thân chủ giàu, đang có mặt tại Chợ Lớn, bà không ngại tốn kém đă mời
được vị nầy đến nhà. Người thầy độ hơn bốn mươi tuổi tướng cao, sang
trọng mặt sáng da trắng, với bộ quần áo vest trắng thắc nơ đen giầy
trắng, trông không giống như những thầy pháp xứ ta. Ông đến bằng
chiếc xe Mercedes có tài xế và một người thông ngôn, trên cổ khoác
chiếc khăn quàng màu trắng dài khoảng hai thước bề ngang độ ba tất,
trên khăn viết một gịng chữ Hán to màu đen. Ông Ba nằm trên bộ ván
trong nhà, khi thầy bước vào nh́n, ông nh́n lại nhưng mặt có vẻ sợ
sệt, tay chân bị trói nhưng ông rán ngồi dậy che mặt xây hướng khác,
lấm lét không dám nh́n thẳng mắt người thầy Trung Hoa. Sau khi quan
sát con bệnh, hỏi qua triệu chứng, lên bàn cúng vái xong thầy cho
biết thần xác ông Ba đang bị ngự trị bởi một con linh miêu.
Không biết con mèo từ đâu đến, có thể
người chủ trước của nhà nầy đă nuôi nó, thân to hơn những mèo b́nh
thường, bộ lông toàn đen, tai vểnh. Ban ngày không thấy nhưng về đêm
nó xuất hiện với cặp mắt sáng ngời trong bóng tối, đôi khi nửa đêm
ông Ba thức giấc thấy con mèo ngồi nh́n ḿnh chằm chằm. Nó chuyền từ
tủ nầy sang bàn nọ rất nhanh nhẹn, đôi khi nhảy từ trên nóc nhà
xuống đất. Nhờ nó các chú chuột không dám léo lánh tới đây, nhưng
thức ăn trong bếp thường bị mất. Có lần bà Ba đuổi không cho vô nhà
nhưng nó vẫn trở lại tiếp tục ŕnh rập ăn vụng những khứa cá kho
hoặc những miếng thịt trong bếp. Loài mèo khi phóng uế dấu nơi kín
hay đào lỗ chôn, có thể con mèo nầy dấu chất bẩn dưới mái nhà hoặc
kẹt tủ, gằm giường nên nhiều nơi xông mùi hôi, cả nhà đều nhận thấy
nó gây phiền phức. Ông Ba có thói quen mỗi chiều sau khi tiệm
đóng cửa thường nhâm nhi vài ly rượu nếp trước bữa cơm tối. Đây cũng
là thú của các ông lớn tuổi, nếu có bạn càng vui, bằng không các ông
uống một ḿnh với vài món đồ nhấm đơn sơ như một miếng khô mực và
vài lát khế chua. Tối hôm ấy ông ngồi tại bàn, nhậu được vài ly bụng
đang đói, nghe vợ vừa làm cơm vừa than phiền: ”Bố tiên sư nhà mèo,
hai con cá rán trong chảo mi ăn mất một, nếu cứ ăn mănh như thế nầy
có ngày ta thịt mi cho rảnh“. Ông Ba đang đói lại có hơi men nên
liên tưởng đến món thịt mèo ướp ngũ vị hương nướng khói nghi ngút,
mùi thơm bay ngào ngạt, cho vào miệng nhai ngấu nghiến nhấm một cụm
rượu nếp th́ không ǵ bằng. Điều nầy thúc đẩy ông đến việc làm thịt
con mèo hiện đang lẩn quẩn đem lại nhiều phiền phức trong nhà. Vài
ngày sau không ai thấy con mèo đen nữa.
Chuyện con mèo mun xảy ra khoảng một năm
trước đă bị gia đ́nh ông Ba quên lăng, hôm nay được khơi lại v́ lời
của người thầy, tất cả nh́n nhau không nói tiếng nào. Bà Ba h́nh
dung lại con mèo bị chồng nhấn nước đến chết để làm thịt, v́ đúng
vào ngày xui tháng hạn nên ông đă mang tai kiếp. Khi giận chỉ nói
xuông không ác ư, bà hối hận tự trách ḿnh đă không ngăn cản hành
động của chồng lúc ấy.
Người thầy Trung Hoa làm một gói bùa cho
ông Ba đeo và nhiều tấm khác dán trong nhà, dặn bà Ba cúng vái và ra
toa thuốc nấu cho ông uống. Bệnh trạng ông Ba giảm dần, không c̣n mê
sảng, ăn được. Sau hôm ấy người thầy đă trở lại hai lần nữa, ông vẫn
mang chiếc khăn quàng trên cổ nhưng phục sức thoải mái không phải bộ
quần áo trắng trịnh trọng như buổi đầu. Rồi thầy trở về Hồng Kông
nhưng ông Ba vẫn uống thuốc thầy ra toa một năm sau mới thôi.
Từ ngày ông Ba nhúm bệnh măi hai năm sau
mới khỏi, người gầy hẳn. Con trai điều hành tiệm giặc ủi, cô dâu
sinh được bé trai khấu khỉnh. Mỗi tháng đến ngày rằm, mồng một bà Ba
đều mang hoa quả đến chùa dâng hương, không biết bà cúng trả lễ trời
Phật đă phù hộ chồng bà lành bệnh hay cầu nguyện cho vong hồn con
mèo mun được siêu thoát. Hằng ngày ông Ba chỉ chơi đùa với cháu, có
điều lạ mỗi buổi sáng sớm và chiều mát ông ra đứng trước tiệm dưới
gốc cây bàng ngâm thơ, hành động nầy trước khi bệnh chưa bao
giờ có. Giọng ngâm của ông thảnh thót vang xa, hàng xóm ở trong
nhà dù cửa đóng cũng nghe được, thơ ông ngâm thật phong phú từ những
tác phẩm lớn như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Chinh Phụ Ngâm đến các
bài thơ nổi tiếng và những câu hát vè trong dân gian ……Đứng trước
tiệm khi thấy h́nh ảnh gợi nhớ điều ǵ, ông có thể xuất khẩu ngay.
Thí dụ: Có hai cô gái trẻ sánh vai đi qua trước mắt, ông ngâm ngay :
“Đầu ḷng hai ả tố nga, Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân”. Khi thấy
một bà gánh nước, ông xuất khẩu : “Hỡi cô gánh nước bên đàng, sao cô
múc ánh trăng vàng đổ đi”. Hoặc một người gánh chiếu đi ngang liền
ngâm ngay bài thơ của Nguyễn Trăi –Thị Lộ: “Hỡi cô bán chiếu gon,
………. đă có chồng chưa được mấy con”.
Bộ hành không ở xóm nầy thấy lạ cười
nghĩ rằng ông điên. Thật vậy ông đă từng bị điên, hiện tại không ai
rơ t́nh trạng tinh thần của ông thế nào. Ông vẫn ăn uống như thường,
b́nh tĩnh không la sảng quậy phá như lúc bệnh nặng, không làm hại ai,
nhưng h́nh như ông đang sống ở thế giới khác với mọi người chung
quanh. Gia đ́nh ông coi đây là sự may mắn trong nổi bất hạnh, không
mong ǵ hơn.
Vậy nguyên nhân gây bệnh điên của ông Ba
là ǵ?
V́ bùa ếm của người thợ mộc sửa nhà?
Thông thường theo tổ nghiệp những người thợ trong lúc cất nhà đều ếm
nặng hay nhẹ gia chủ tùy theo cảm t́nh của họ. Nạn nhân thường bị
bệnh nặng hoặc nhẹ cũng có trường hợp mất mạng, ông Ba đă gây gỗ với
người thợ mộc nên bị ếm nặng là đương nhiên.
V́ ông ăn thịt con mèo mun? Xă hội Việt
Nam theo truyền thuyết loài mèo khi sanh con xong ăn nhao của nó,
nên nhao mèo rất hiếm thấy. Nếu ai có được nhao mèo sẽ gặp nhiều may
mắn, nhưng ngược lại giết ăn thịt mèo sẽ mang lại điều xui xẻo,
huống chi đây là con mèo mun. Ngay cả xă hội Tây Phương cũng tin gặp
con mèo toàn đen là điềm chẳng lành. Thuyết ông Ba bị điên v́ ăn
thịt con mèo mun được nhiều người chấp nhận. Nhưng gịng chữ Hán
trên chiếc khăn quàng cổ của ông thầy Trung Hoa và những tấm bùa dán
trong nhà có ảnh hưởng ǵ, đă khiến bệnh ông Ba thuyên giảm?
V́ hồn ma treo cổ trên cây bàng? Ông Ba
dọn đến nhà nầy mua bán ṣng phẳng không sang đoạt của ai, ông cũng
không gây ra nguyên nhân khiến người treo cổ. Có nhiều câu hỏi được
đưa ra: Ông giáo tự vận trên cây bàng phải là chủ trước của căn nhà
và con mèo mun không? Tại sao sau khi lành bệnh ông Ba giặt ủi trở
nên thông thạo thi phú?
Hay cả ba đều là nguyên nhân hoặc c̣n
một lư do nào khác? Không ai biết cả !!!!
Cô Ba Tokai
California, Tết Tân Măo 2011
Ghi chú: Câu chuyện trên có vẻ
hoang đường nhưng là sự thật, được ghi lại qua tai nghe mắt thấy của
tác giả. Là khách hàng của tiệm giặt, đă tiếp xúc thường với gia
đ́nh ông Ba, là một trong những đứa trẻ chứng kiến lúc ông Ba nhảy
từ tầng hai căn gác xuống đất xông chạy ra đường, như khi ông thầy
Trung Hoa đến bước ra từ xe Mercedes đi vào tiệm giặc. Buổi sáng tôi
rời VN đi Nhật năm 1968, ông Ba vẫn đứng ngâm thơ cạnh cây bàng. Đến
năm 2000 khi trở lại đường Hồ Hảo Hớn (tên mới) mọi việc thay đổi,
gia đ́nh ông Ba đă dời đi nơi khác, cây bàng cũng không c̣n.
|
|