Kính thưa quư anh chị,
Chuyến đi thăm Hà Nội và Sài G̣n tháng 2 năm 2008 vừa qua, đă
đưa đến nhiều nghĩ ngợi, và suy tư. Tôi đă nghĩ là liệu ḿnh có
thể đóng góp ǵ cho khoa học Việt Nam, với số vốn liếng học hỏi ở
Nhật Bản và Mỹ, khoảng hơn 40 năm qua. Tôi đă thấy một số vấn đề
cấp bách mà cá nhân tôi nghĩ nên thực hiện. Tôi xin mạn phép ghi
chép lại một số để trao đổi cùng tất cả quy' vị.
Thu gọn trong tầm nh́n ḿnh, tôi thấy Việt Nam nên xúc tiến Công
Nghệ Cao DNA/RNA. Nếu chúng ta tŕ hoăn 5 năm, hay 10 năm nữa, th́
rất có thể các vấn đề nhiễm trùng trong thực phẩm, thức ăn, nhiễm
trùng bệnh tật sẽ tiếp tục triển khai trong quần chúng. Theo tôi
th́ ngành DNA dùng trong chẩn đoán virus, bacteria, fungus, hoàn
toàn chưa được áp dụng sâu rộng trong quần chúng tại Việt Nam.
Khi về Việt Nam, tôi đă được dặn ḍ kỹ lưỡng là không uống nước đá,
không ăn rau sống dĩ nhiên là v́ chưa quen với đồ ăn Việt Nam.
Nhưng tôi đă bị đau bụng khi đến ăn một tiệm ăn sang trọng ở Hà
Nội, mặc dầu là ăn đồ đă nấu chín.
Khi tôi vào nhà hàng, họ đều nói rằng ở đây dùng nước "sạch" và đồ
ăn chín. Nhưng ai là người biết nước đá sạch đến độ nào? và đồ ăn
nấu chín đă giết được bacteria đến mức độ nào?
Tôi đến thăm Viện Huyết Học ở Bệnh Viện Bạch Mai. Được cho xem
thuốc thử DNA/RNA, đă được mua từ Mỹ. Nhưng thuốc thử được dùng
rất ít, v́ giá là 10 USD/ một test. Được biết là Viện Huyết Học đă
mua 1000 DNA tests cho HIV, HCV, HBV, đă lâu, nhưng chỉ dùng có
10-100 test thôi, v́ quá đăt, cho người b́nh thường ở Viet Nam. Họ
cho biết là nhiều bệnh viện ở VN dùng phương pháp ELISA, để chẩn
đoán protein độc, và antibody. Họ chỉ dùng DNA/RNA test để kiểm
chứng lại các trường hợp bệnh nhân đă có bệnh HIV (AIDS). Các
phương pháp ELISA này chỉ cho biết khi antibody đă sinh sản trong
cơ thể, v́ protein độc đă phát sinh trong quá tŕnh sinh học trong
cơ thể. Phương pháp này không cho biết là bệnh nhân nhiễm trùng,
trước khi phát bệnh, và mức độ nhiễm trùng đến mức độ nào? Đây là
những câu hỏi quan trọng cho bác sĩ, cho chuyên gia chẩn bệnh, và
cho nhà nước.
Thưa quư vị, chỉ có khoa học DNA/RNA mới cung cấp những tín hiệu
chính xác nhất, và một cách định tính, và định lượng. DNA/RNA test
chưa được sử dụng một cách phổ thông ở Việt Nam là v́ ngành Công
Nghệ DNA/RNA chưa được phát triển trên toàn cơi Việt Nam, khoa học
DNA/RNA rất có thể chỉ được ứng dụng trong pham vi nhỏ, Trường Đại
Học, Sở Nghiên Cứu Sinh Học. Có nghĩa ngành DNA/RNA dùng trong
việc chẩn đoán bacteria, virus, fungus, chưa được nâng lên hàng
công nghệ ở Việt Nam. Tôi luôn luôn nghĩ rằng: "NGỪA BỆNH QUAN
TRỌNG HƠN LÀ CHỮA BỆNH".
Trong suốt thời gian làm việc ở Mỹ, tôi đă được may mắn làm việc
trong các nhóm nghiên cứu về DNA, và nhất là trong những năm làm
với hăng Applied Biosystem Inc.(ABI, 1988-1992), tôi đă là một
chuyên gia trong bộ môn thiết kế những máy DNA synthesizer, và
tổng hợp các phosphoramidite A, G, C, T, và tổng hợp hoá chất mầu
fluorescein (FAM) dùng trong việc sản xuất DNA cho antisense, và
cho PCR, và cho việc phân tích GEN (Gene Analyzer, Gene Scanner).
Việc công nghệ hoá sản xuất DNA/RNA tại Việt Nam, sẽ giúp việc
chẩn đoán vi sinh vật có hại, dùng ngay trong nước, và ngoài ra có
xuất khẩu sang các nước lân cận, Châu Mỹ, Châu Úc, Châu Phi, nếu
sản phẩm của chúng ta có phẩm chất tốt. Và việc xuất khẩu này sẽ
trở thành nguồn lợi kinh tế đáng kể cho Việt Nam. Để thực hiện
điều này chúng ta cần một đội ngũ chuyên gia hoá học và sinh học
được huấn luyện kỹ lưỡng, một nhà máy có tiêu chuẩn GMP (General
Manufacturing Practice) với toàn bộ thiết bị tân tiến.
Năm ngoái, báo chí Mỹ đă đăng tải một tin liên quan đến E. Coli có
trong thịt nguội, ở Mỹ. Việc nhiễm trùng thực phẩm này đă làm cho
một số người bị ngộ độc và có người chết. Tin này đă được đăng tải
trên tạp chí C&E NEWS, báo của hội hoá học toàn nước Mỹ, American
Chemical Society. Bài báo này cho biết là USDA (United State
Department of Agriculture), đă điều tra và biết được sự nhiễm độc
sinh ra bởi E. Coli từ một ḷ sát sinh, khi các nhân viên đă làm
thủng ruột của con lợn trong khi làm thịt, và từ đó E Coli đă vào
trong thịt nguôi. Như vậy nhờ sự chẩn đoán dùng DNA/RNA mà người
ta đă biết được thịt nguội đă bị nhiễm trùng như thế nào, trong ḷ
sát sinh, từ con lợn nào và nhiễm trùng đến mức độ nào. Gần đây
nhất ở Mỹ, người ta đă thấy có nhiễm trùng E. Coli trong rau nhập
cảng từ Mexico, và họ đă cấm bán lọai rau nhập cảng này. Các tín
hiệu này đă được cung cấp từ thuốc chẩn đoán vi sinh vật độc hại
dùng DNA/RNA amplification, và chỉ có khoa học DNA/RNA mới cho
chúng ta phương pháp định tính, và định lượng chính xác như vậy.
Cho đến nay người ta biết rằng mỗi một vi sinh (virus, bacteria,
fungus....) mang một di truyền, Gen, riêng biệt, đặc thù cho mỗi
lọai, người ta goi la DNA. Một vi sinh vật có thể chứa vài DNA
trong tế bào vi sinh. Và mỗi tế bào vi sinh có thể sinh sản hơn
11,000 RNA (mRNA, rRNA, microRNA....) đặc thù cho mỗi lọai, để
sinh sản ra các tế bào khác, và protein độc, xâm nhập vào cơ thể
loài người. Các chuyên gia có thể dùng Amplifications (PCR, TMA....)
để chẩn đoán các vi sinh vật.
Trong Amplification, người ta dùng các DNA/RNA nhân tạo mang
complementary sequence với các DNA/RNA đặc thù cho mỗi vi sinh vật,
những DNA/RNA nhân tạo này được gọi là primers, T7s, Non-T7s,
molecular probes.... Các DNA/RNA nhân tạo này chỉ phản ứng với các
DNA/RNA của vi sinh vật đặc thù nào đó, mà chúng ta muốn chẩn đoán,
trong nhiệt độ và Enzyme cần thiết. Molecular Probe nhân tạo, mang
một hoá chất mầu (Fluorescein), và một quencher, ở hai đầu của
DNA/RNA, và sẽ chỉ phát ra ánh sáng mầu khi t́m đúng được các
DNA/RNA thiên nhiên đặc thù phát sinh từ vi sinh vật, mà nó đang
t́m kiếm, và sẽ chỉ phát ra ánh sáng với làn sóng đă đinh. Và máy
vi tính trong hệ thống Amplification sẽ cho biết về định tính và
định lượng về sự hiện diện của vi sinh vật này dựa vào tần số ánh
sáng mà máy tiếp nhận được.
Trong việc chẩn đoán bệnh lao, Tuberculosis, nếu chúng ta dùng
khoa học DNA/RNA, th́ việc chẩn đoán diễn ra trong ṿng 30 phut,
và bác sĩ có thể biết rất chi tiết là bệnh nhân nhiễm bệnh lao
thuộc lọai vi khuẩn TB nào, vi trùng bệnh lao này đă phát sinh ở
đâu và tại sao bệnh nhân đă nhiễm bệnh để nhà nước có thể lập hàng
rào y tế ngăn chận việc lan truyền của bệnh nguy hại.
Bệnh ung thư tử cung (Cervical Cancer) sinh ra bởi Human
Papillomavirus, cũng như các bệnh ung thư khác, tế bào ung thư
không sinh ra trong quá tŕnh sinh học như các vi sinh vật sinh
bệnh thông thuờng, có nghĩa là các tế bào ung thư không sinh sản
ra mRNA, và các chuyên gia không thể cấy nhân tạo, trong pḥng thí
nghiệm. Chúng ta chỉ có thể chẩn đoán dựa vào DNA mà không thể dựa
vào mRNA. Tế bào ung thư thường phát sinh ra hàng trăm DNA có các
điểm khác nhau rất nhỏ. Thí dụ như trong tế bào ung thư tử cung.
Các chuyên gia đă dùng phương pháp Sequencing, khám phá được hơn
50 loại Genotype khác nhau. Tuy nhiên trong đó họ t́m được vài
Genotype độc hại nhất. Khoa học DNA/RNA cũng cho chúng ta biết
được tín hiệu trên một cách rất đầy đủ.
Với Microarray, các chuyên gia có thể tổng hợp đến 3,000 DNA/RNA
nhân tạo trên một cm2 của miếng kính Bio-Chip. Cho nên để chẩn
bệnh, như bệnh ung thư tử cung, với 50 DNA/RNA Genotype trên một
Bio-Chip, là điều có thể thực hiện được. Microarray có thể được
dùng để chẩn đoán được các bệnh ung thư phức tạp hơn nữa, các bệnh
ung thư này có thể sinh ra vô số Genotype rất gần nhau.
Nói một cách tổng quát th́ việc chẩn đoán vi sinh vật độc hại, và
sinh bệnh có thể được dùng ít nhất là hai phương pháp Peptide, và
DNA/RNA. Cả hai phương pháp đều có tinh ưu việt riêng của nó, tùy
theo cách dùng cho tiện dụng và thích hợp cho mỗi trường hợp chẩn
bệnh, để t́m phương pháp trị liệu hữu hiệu. Tôi chỉ muốn trao đổi
ư kiến với quư vị về một phương pháp để giải quyết các trường hợp
đặc thù, tôi không hề muốn phủ nhận hoàn toàn phương pháp dùng
Peptide, để xin thay thế bằng phương pháp DNA/RNA. Tôi viết bài
này chỉ nhằm mục đích đưa ra chứng cớ cụ thể về sự hữu hiệu trong
việc chẩn đoán dùng DNA/RNA, để giới thiệu cùng quư vi độc giả
nhân ngày kỷ niêm 25 năm cua phương pháp định tính, và đinh lượng
PCR (Polymerase Chain Reaction) trong việc phân tích di truyền.