|

Ngũ Chi Minh
Đạo và đạo Cao-Đài
Nguyễn Việt-Sơn
Năm 1644 nhà Măn-Thanh chiếm Bắc Kinh, các di thần nhà Minh khi
chạy tị nạn về phương Nam đă mang theo với họ phong tục tập quán và
dĩ nhiên, tôn giáo của người Trung Quốc. Trong các cộng đồng Minh
Hương có Ngũ Chi Minh Đạo, bắt đầu từ 1650 đến 1670, họ di chuyển
sang Việt Nam mang theo lời tiên tri của vị sư trưởng phái Minh Sư
lúc bấy giờ. Vị sư trưởng nầy qua cơn thiền định mới có lời tiên tri
và khuyên các đệ tử ḿnh nên đi sang phía Nam v́ ông biết ngày sau
phương Nam sẽ có hội Long Hoa và sẽ có một mối đạo lớn xuất hiện
mang tên là Cao-Đài. Khi sang Việt Nam, phái Minh Sư lập chùa lập
miễu trong khắp miền Nam Việt Nam, và trong suốt 250 năm, trên trang
b́a quyển kinh của họ luôn luôn có mang hai câu đối vốn là di bút
của người sư trưởng nói trên như sau [1]:
"Cao như Bắc khuyết nhân chiêm
ngưỡng"
"Đài tại Nam phương đạo thống truyền"
Cùng với phái Minh Sư là bốn phái khác của Minh Đạo: Minh Lư,
Minh Đường, Minh Thiện và Minh Tân.
Năm 1926 khi đạo Cao-Đài mở ra, năm chi phái Minh Đạo liền gia
nhập phong trào Cao-Đài và họ được gọi là Ngũ Chi Đại Đạo [3], đặc
biệt phái Minh Sư bỏ luôn tên Minh Sư và biến thành tên Cao-Đài vĩnh
viển.
Việc chia rẻ của Cao Đài xảy ra năm 1930, chỉ bốn năm sau khi mở
đạo. Trong số 3 triệu rưởi dân ở Nam Kỳ bấy giờ có đến 1 triệu là
theo đạo Cao-Đài, và trong số đó có rất nhiều người Việt gốc Hoa vốn
là môn đệ cũ của Ngũ Chi Minh Đạo. Việc nầy là điều làm người Pháp
vô cùng lo ngại. Toàn Quyền Đông Dương (Pasquier) báo cáo về Pháp sự
lo ngại của ḿnh v́ "trong 4 năm, đạo Cao-Đài đă chinh phục nhiều
tín đồ hơn cả Thiên Chúa Giáo đă làm trong suốt 300 năm" [2]. Kế
hoạch người Pháp từ đó là: chia rẻ và phá hoại
Ông Lê văn Trung, người lănh tu. Cao Đài lớn nhất bấy giờ liền bị
phao tin nghi ngờ là đă đem tiền quỹ giúp cho phong trào Đông Du và
cho Kỳ Ngoại Hầu Cường-Để. Từ đó Cao-Đài bị chia rẻ, các chi phái
Minh Đạo lại biến thành các chi phái Cao Đài với các lănh tụ và
Thánh Thất riêng. Bên cạnh đó là cả chục chi phái Cao-Đài khác cũng
nổi lên ầm ỉ cũng đ̣i "tự do độc lập tự cường". Trong số đó có nhóm
Cao-Đài Trung Hoa của ông Cao Triều Phát, một trong những người Minh
Hương giàu có nhất Nam Bộ thời bấy giờ. Ông Phát có mưu đồ lớn định
mang đạo Cao-Đài vào Trung-Hoa nhưng rốt cuộc chiến tranh Trung Nhật
rồi chiến tranh Quốc Cộng làm cản trở. Rốt cuộc tài sản ông vào tay
Việt Minh và ông có thành lập một tổ chức tên gọi Thanh Niên Cao Đài
cho Việt Minh.
Đặc biệt chi phái Cao-Đài Minh Lư biến tên thành Minh Chơn Lư và
không thờ Thiên Nhăn (Celestial Eye) như các phái Cao-Đài khác, họ
lại thờ h́nh tương Ngọc Hoàng Thượng Đế. Trụ sở Minh Chơn Lư là chùa
Tam-Tông-Miếu (Saigon) nổi tiếng ở VN với bộ lịch tử vi tướng số mỗi
năm. Hiện nay họ vẫn c̣n xữ dụng đồng tử (mediums) để tiếp xúc với "phía
bên kia" như ngày xưa trước khi có đạo Cao-Đài.
Trong các kinh nhật tụng của Cao-Đài có đến 4 bài kinh làm bằng
chữ Hán Việt, có lẻ xuất xứ từ Ngũ Chi Minh Đạo, đọc nghe êm tai
nhưng ư nghĩa th́ thật là mịt mù cho người Việt không thông chữ Hán
hay không đọc qua bản dịch nghĩa tiếng Việt.
Người lănh tu. Cao-Đài duy nhất c̣n ở lại Tây Ninh đến 1956 là
ông Phạm công Tắc. Ông Tắc, tước phong Hộ-Pháp, vốn người Thiên Chúa
Giáo được cơ bút gọi sáng lập đạo Cao-Đài, ông rất thông minh, bảo
hoàng, cứng rắn và rất có vẽ lănh tu. Nhờ sự "độc tài sáng suốt" của
ông, đạo Cao-Đài dựng lên Ṭa Thánh và tiếp tục tồn tại ở Tây-Ninh
cho đến ngày nay.
Theo lời một giáo-sư người Nga, Dr. Sergei Blagov, của The
Institute of Oriental Studies ở Moscow [2], năm 1990 đạo Cao-Đài có
khoảng 4 triệu tín đồ kể cả những người trẻ mà ông không biết khi
lớn lên họ có c̣n theo Cao-Đài hay không. Theo giáo sư Blagov, đạo
Cao-Đài có tất cả hai lần cơ hội để nắm chính quyền ở Nam Kỳ VN,
nhưng họ đă để mất v́ kém quyết định. Người Cao-Đài duy nhất được
làm lănh tụ trong chính phủ Miền Nam là ông Phan Khắc Sữu, ông Sữu
theo đạo Cao-Đài từ 1940s và là hội trưởng của tổ chức Cao-Đài
Thống-Nhất, thành lập năm 1965 tại Saigon [2].
Tham khảo:
[1]- Đại Đạo Sử Cương, Trần văn Rạng, Saigon, 1970.
[2]- The Cao-Đài: A New Religious Movement, Sergei Blagov, Moscow,
1999.
[3]- Chú thích của tác giả: Ngũ Chi Đại Đạo theo chính nghĩa của đạo
Cao-Đài là Phật-Đạo, Tiên-Đạo, Thánh-Đạo, Thần-Đạo và Nhân-Đạo. Việc
Ngũ Chi Minh Đạo xưng là Ngũ Chi Đại Đạo cũng là một mối tranh cải
lớn trong nội bô. Cao-Đài.
|