|

Nên sử dụng công cụ chống bán phá giá
Trần Lê Anh
PGS. Kinh tế và Quản trị Kinh doanh
Đại học Lasell, Boston, Hoa Kỳ
Trong bài viết “Bô-xít Tây Nguyên và tính chất
bắc-nam trong ngoại thương” (TBKTSG số ra ngày19-2-2009) GS. Trần
Văn Thọ đă chỉ ra sự chênh lệch đáng báo động trong cán cân và cơ
cấu thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc. Ông đă có khuyến cáo
chính phủ Việt Nam cần xem xét và chuyển dịch cơ cấu kinh tế để tiến
lên quan hệ mậu dịch hàng ngang với Trung Quốc nhằm cải thiện cán
cân mậu dịch nói riêng và nền kinh tế nói chung. Đây là vấn đề
chính sách kinh tế chiến lược lâu dài mà Việt nam bắt buộc phải quan
tâm.
Mới đây, tôi càng giật ḿnh hơn khi đọc được
các con số thống kê sơ bộ về mậu dịch với Trung Quốc được công bố
gần đây bởi Tổng cục Thống kê. Trong năm 2008, Việt Nam đă nhập
khẩu từ Trung Quốc số lượng hàng hóa có giá trị lên đến 15,65 tỉ đô
la trong khi chỉ xuất được 4,53 tỉ đô la giá trị hàng hóa sang Trung
Quốc. Theo đây th́ con số nhập siêu sơ bộ từ Trung Quốc trong năm
2008 lên đến trên 11 tỉ đô la. Một con số nhập siêu lớn một cách
nghiêm trọng trong một nền kinh tế tương đối vẫn c̣n khá nhỏ của
Việt Nam.
Con số nhập siêu đối với Trung Quốc này có thể
phản ánh ảnh hưởng tiêu cực của nó lên một phần không nhỏ của nền
kinh tế Việt Nam, đặc biệt là ở khả năng sống c̣n của các doanh
nghiệp cạnh tranh trong nước và ảnh hưởng liên quan trực tiếp đến
công ăn việc làm của người dân. Trước t́nh trạng đáng báo động này,
cần phải có giải pháp ngắn hặn có thể thực thi gấp nhằm bớt đi sự
bất cân bằng trong quan hệ mậu dịch hai nước. Theo tôi, giải pháp
cần cân nhắc là các doanh nghiệp trong nước bị ảnh hưởng nghiệm
trọng bởi nhập khẩu từ Trung Quốc nên yêu cầu Bộ Công Thương Việt
Nam xem xét để tiến hành điều tra chống phá giá đối với một số mặt
hàng của Trung Quốc (chẳng hạn như sắt thép các loại).
Theo số liệu của Tổ chức Mậu dịch Thế giới (WTO)
th́ Trung Quốc là nước bị điều tra chống phá giá nhiều nhất trên thế
giới. Kể từ đầu năm 1995 cho đến giữa năm 2008, Trung Quốc đă phải
đương đầu với 640 vụ điều tra chống phá giá, chiếm hơn 19% trong
tổng số 3305 vụ toàn cầu. Trong tổng số 640 vụ này, Trung Quốc thua
(bị đánh thuế chống phá giá) 441 vụ, chiếm gần 21% trong tổng số
2106 vụ bị áp dụng thuế trên toàn cầu. Gần đây nhất, vào giữa tháng
1 năm nay, Liên hiệp Âu châu (EU) đă quyết định tạm thời áp dụng 25%
thuế chống phá giá đối với mặt hàng thanh thép tṛn của Trung Quốc.
Và năm ngoái, Bộ Thương Mại Hoa kỳ cũng đă áp dụng thuế chống phá
giá đối với một số mặt hàng sắc thép của Trung Quốc, chẳng hạn như
85,55% đối với ống thép.
Với kỷ lục là bị đơn dẫn đầu toàn cầu như vậy,
rơ ràng là nhiều nước đă không ngần ngại sử dụng luật chống phá giá
để đối đầu với hàng xuất khẩu của Trung Quốc. Chính xác hơn, 29
nước đă điều tra Trung Quốc bán phá giá; dẫn đầu là Ấn Độ với 108
lần, kế đến là Hoa Kỳ với 84 lần, thứ ba là EU với 82 lần. Ngay cả
một số nước thuộc ASEAN cũng dám đối đầu với Trung Quốc để bảo vệ
các công ty nội địa trước sự xâm nhập ồ ạt của hàng Trung Quốc (xem
bảng dưới đây).
|
Nước điều tra
Trung Quốc bán phá giá |
Số lần điều tra Trung Quốc bán phá giá
(Từ 1995 đến giữa 2008) |
Số lần áp dụng thuế chống phá giá đối với hàng
Trung Quốc |
|
Indonesia |
8 |
5 |
|
Thái Lan |
6 |
3 |
|
Phi Luật Tân |
2 |
2 |
|
Malaysia |
1 |
1 |
Nguồn: WTO
|
|
|
Qua các số liệu thống kê th́ ta có thể thấy
rằng các nước càng “mạnh”, thể hiện qua khả năng của hệ thống pháp
lư và quyết tâm chính trị, th́ càng sử dụng biện pháp chống phá giá
đối với Trung Quốc. Ân Độ đă thể hiện rơ ràng bản lĩnh không hề e
dè của ḿnh trên mặt trận kinh tế trước nước láng giềng sát vách khi
trở thành nước dẫn đầu trong việc điều tra chống phá giá đối với
Trung Quốc. Lư do chính Ấn Độ vượt qua cả Hoa Kỳ và EU trong việc
áp dụng thuế chống phá giá đối với hàng Trung Quốc là v́ hai nước
láng giềng này có nhiều ngành sản xuất cạnh tranh trực tiếp với nhau
hơn.
Việt Nam mặc dù đă bị các nước điều tra bán phá
giá 23 lần nhưng chưa lần nào tuyên bố điều tra chống bán phá giá
đối với nước khác. T́nh trạng này xảy ra có lẽ là do luật về chống
bán phá giá là một lĩnh vực tương đối quá mới mẻ đối với Việt Nam,
và kiện tụng ở lĩnh vực này liên quan đến nước khác cho nên có tính
nhạy cảm chính trị khá cao. Tuy nhiên, là một nước ngày càng thâm
nhập sâu vào hệ thống mậu dịch toàn cầu, Việt Nam bắt buộc phải tăng
cường thực thi và hoàn thiện thêm Pháp lệnh chống bán phá giá
hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam (được ban hành vào năm 2004)
nhằm đảm bảo một sân chơi công bằng cho các doanh nghiệp trong nước.
Các nước trong khu vực đă và đang làm như vậy (xem bảng dưới đây).
|
Nước / Lănh thổ |
Tổng số lần điều tra chống bán phá giá đối với các nước khác
(Từ 1995 đến giữa 2008) |
|
Trung Quốc |
141 |
|
Hàn Quốc |
107 |
|
Indonesia |
67 |
|
Malaysia |
43 |
|
Thái Lan |
39 |
|
Phi Luật Tân |
17 |
|
Đài Loan |
13 |
|
Việt Nam |
0 |
Nguồn: WTO
|
|
Theo luật chống phá giá (mỗi nước thành viên
của WTO ban hành một luật riêng nhưng phải phù hợp với Hiệp định
Chống Phá giá của WTO) th́ cần phải thỏa măn hai điều kiện căn bản
để có thể áp dụng thuế chống phá giá. Điều kiện thứ nhất là cần
phải chứng minh là các nhà xuất khẩu nước ngoài có bán phá giá. Có
hai h́nh thức được cho là bán phá giá: (a) bán ở thị trường xuất
khẩu rẻ hơn thị trường trong nước, và (b) bán dưới giá thành sản
xuất. Điều kiện thứ hai là sự bán phá giá này có gây thiệt hại đáng
kể (hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể) đối với các nhà sản xuất
trong nước. Tuy chỉ có hai điều kiện nghe có vẻ đơn giản vậy, nhưng
trong thực tế th́ việc thực thi luật chống phá giá để cứu nguy một
ngành sản xuất nội địa nào đó là khá phức tạp và thường được quyết
định bởi yếu tố chính trị nhiều hơn là yếu tố pháp lư thuần túy. Dù
sao đi nữa th́ ta hăy thử nh́n sơ qua t́nh trạng hàng nhập khẩu của
Trung Quốc vào Việt Nam qua hai điều kiện này.
Trước hết, với một lượng nhập khẩu lớn một cách
báo động từ Trung Quốc, và đặc biệt là khi nhiều mặt hàng nhập khẩu
này có khuynh hướng ngày càng thay thế sản suất trong nước, ta có
thể thấy rằng một số hàng nhập khẩu Trung Quốc đă và đang trực tiếp
làm thiệt hại đáng kể đến một số ngành sản xuất của Việt Nam. Tuy
nhiên, thiệt hại đến mức độ nào th́ phải do các doanh nghiệp (hoặc
các hiệp hội đại diện cho các doanh nghiệp) trực tiếp nêu ra với Bộ
Công Thương Việt Nam. Theo tôi nghĩ, các doanh nghiệp và hiệp hội
có liên quan nên nghiên cứu kỹ t́nh h́nh để có thể nộp đơn kiện theo
đúng yêu cầu của pháp luật. Cho dù có thành công hay không th́ đây
cũng là một điều kiện trau dồi kinh nghiệm khá tốt cho những vấn đề
tranh chấp không thể tránh khỏi trong quan hệ mậu dịch quốc tế.
Về phương diện chứng minh hàng Trung Quốc bán
phá giá, nó cũng sẽ phụ thuộc vào kết quả điều tra cũng như khả năng
đưa ra chứng cứ của các doanh nghiệp bị thiệt hại trong nước. Tuy
nhiên, cũng có thể phỏng đoán trước một phần dựa trên cơ sở suy luận
rằng: nếu như các mặt hàng của Trung Quốc (chẳng hạn như sắt thép)
bị đánh thuế chống phá giá ở các nước khác th́ có khả năng rất cao
là Trung Quốc cũng bán phá giá các mặt hàng đó ở Việt Nam.
Với
cái nh́n trên th́ ta có thể kết luận rằng việc các doanh nghiệp bị
thiệt hại trong nước xúc tiến yêu cầu chính phủ Việt Nam tiến hành
điều tra chống phá giá với một số mặt hàng của Trung Quốc là một
điều hợp lư, khả thi, và có thể thành công. Làm được như vậy th́
lợi ích được rất nhiều mặt. Nó không những cứu nguy một số ngành
sản suất trong nước mà c̣n giảm bớt sự mất cân bằng nghiêm trọng
trong cán cân mậu dịch Việt-Trung và chứng tỏ sự trưởng thành hơn
của doanh nghiệp và sự quyết đoán của chính phủ Việt Nam trong việc
sử dụng các công cụ pháp lư chính đáng để bảo vệ quyền lợi của ḿnh
trong sân chơi mậu dịch toàn cầu.
..............................
“Bài này đă đăng trên TBKTSG số ra ngày 12/3/2009” - Đăng lại
trên ERCT với sự đồng ư của tác giả
|