|
|
Bài viết nầy được khởi sự từ
mùa thu năm 2009, với một lối làm việc thật tài tử : khi nào rảnh
th́ viết, viết như một nhàn hạ, relax sau những ngày làm việc mệt
nhọc. Nên măi đến gần tết mới xong. Khi tôi đưa bài "World Cup 2010"
lên, và có viết vài đoạn về đá banh của Ex-Ryu. Không ngờ nó đưa đến
những kỷ niệm khó quên của chúng ta. Những bài viết thật cảm động
với h́nh ảnh cũ được đưa lên diễn đàn, mà trong đó bài viết của
Thạnh-san (San Diego) đă gợi lại những h́nh ảnh seishun jidai đến
cho tất cả chúng ta.

H́nh copy từ
email trên diễn đàn Ex-ryu
Tôi có hứa sẽ viết thêm về
những ngày tháng cũ. Nhưng vẫn chưa có cơ hội. Có một vài anh em hỏi
tôi "Sao chưa thấy bài viết của anh lên?" Có được những ngày lễ cuối
năm và đầu năm nghĩ ngơi, tôi có cơ hội để viết như lời đă hứa (như
là một resolution cho năm 2010).
Nhân mùa "dokusho" năm nay
(2009) khi thu về, tôi đọc lại quyển "Sài G̣n Năm Xưa" của cụ Vương
Hồng Sễn. Những bài viết của cụ đă đưa tôi về với những ngày tháng
năm xưa c̣n ở Việt Nam. Viết lại những ḍng chữ nầy như t́m lại
những h́nh ảnh ngày xưa c̣n bé, những ngày lớn lên trong khói lửa
chiến chinh, cũng như những ngày đi học xa xứ và trưởng thành ở Nhật
Bản.
Làm sao quên được những con
đường cũ từ đường Trần Quang Khải, Phan Thanh Giản, Hồng Thập Tự,
đưa tôi vào đại lộ Công Ḥa để đến trường Khoa Học trong những ngày
mà Sài G̣n chợt nắng, chợt mưa hay những cơn mưa rào đột ngột của
miền nam thân yêu với mưa nắng hai mùa; hay những con đường ở
Sendagaya ngày hai bữa mà đường tàu Shobu-sen (中央・総武線) đưa tôi đến
nhà ga Okubo, những con đường đưa tôi vào Kokusai, đi qua tiệm "Kurakunam"
của bà Định, hay từ nhà ga Komaba Todai Mae vào cư xá Komaba trong
cái lạnh mùa đông của Tokyo.

Sài G̣n ngày
mưa (ảnh trước năm 1975 từ Internet)

Trường Nữ
Trung Học Lê Văn Duyệt, Gia Định (ảnh năm 1970 từ Internet)

Trường
Petrus Trương Vĩnh Kư và hiệu đoàn
(h́nh từ Internet)

Trường Nữ
Trung Học Gia Long, Sài G̣n (ảnh trước năm 1975 từ Internet)

Viện Đại học
Sài G̣n số 3 Công trường Chiến sĩ (h́nh từ Internet)
Việt Nam có một lịch sử dài
chinh chiến như Trịnh Công Sơn đă viết "một ngàn năm đô hộ giặc Tàu,
một trăm nay nô lệ giặc Tây, hai mươi năm nội chiến từng ngày..".
Khi tuổi thơ đă bắt đầu có trí nhớ, những h́nh ảnh chiến tranh là
những h́nh ảnh đầu tiên đi vào trí nhớ của tôi. Tôi nhớ năm tôi
khoảng 5 tuổi, với trí nhớ cỏn con của 5 tuổi c̣n sót lại, lúc đó
tôi đang học tại một trường giữ con nít, mà về sau nầy gọi là trường
mẫu giáo trong một cái đ́nh ở Đakao, nơi đây có một cây cổ thụ rất
lớn, gần góc đường Trần Quang Khải và Đinh Tiên Hoàng (phía sau rạp
hát Casino Đakao. Không biết cây cổ thụ nầy bây giờ có c̣n không qua
những thăng trầm của đất nước?). Tôi c̣n nhớ đang ngồi học nghe
tiếng súng đ́ đùng, cô giáo dẩn cả một bầy trẻ đi núp vào một cái
pḥng trống và kín đoán để tránh đạn. Về sau nầy lớn lên học lịch sử
mới biết dạo đó khoảng năm 1955, B́nh Xuyên tấn công vào Sài G̣n.
Sau đó ba tôi đổi về một
nhiệm sở ở Tây Ninh. Tôi chính thức bắt đầu đi học. Tôi nhớ ngày đầu
tiên ba tôi dẩn tôi vào ghi danh học lớp năm trường Nam Tiểu Học, mà
ngày xưa tiếng b́nh dân gọi là lớp chót. Tôi nhớ tôi được mặc đồ mới.
Tôi nắm chặt lấy tay ba tôi trên con đường từ nhà đến trường. Khi
thầy giáo bảo các em học tṛ xếp hàng vào lớp. Ba tôi dẩn tôi vào
sắp hàng và bỏ tôi ở đó. Tôi khóc ̣a lên rồi chạy theo ba tôi. Thầy
giáo phải chạy theo nắm lấy tôi và đưa tôi vào lớp. Thầy tên là thầy
Huân. Sau nầy lớn lên đọc bài "Hôm Nay Tôi Đi Học" của Thanh Tịnh,
tôi chia xẻ được tâm trạng của ông trong ngày đầu tiên đến trường.
Tôi trải dài tuổi thơ bên
cạnh ḍng sông Tây Ninh hiền ḥa. Lên lớp tư học với thầy Ngưu mà
nghe nói thầy phải đạp xe đạp từ Long Hoa ra tỉnh để đi dạy. Lớp ba
với cô Thăng. Lớp nh́ với cô Hương và thầy Phong, rồi lớp Nhất với
thầy Sinh.
Trong những ngày tuổi nhỏ,
tôi rất thích đọc sách báo và có một trí nhớ khá dai. Ngay từ lớp ba
tôi đă thích đọc báo. Dạo đó ba tôi lấy báo "Tin Điễn". Thằng bạn
gần nhà, ba nó lấy báo "Tiếng Chuông". Sau nầy h́nh như báo "Tin
Điễn" bị đ́nh bản, ba tôi lấy báo "Lẽ Sống", Tôi đọc ngấu nghiến từ
trang ngoài qua trang trong. Tôi biết tổng thống Pháp là De Gaulle.
Thủ Tướng Anh là ông Mac Millan. Tổng Thống Hoa Kỳ là ông
Eisenhower.
Có một dạo má tôi mới sanh,
c̣n yếu không nấu nướng được. Nhà tôi phải lấy cơm tháng. Trong ba
tháng hè ở nhà, tôi xin được xung phong xách gồ mên lấy cơm, đi bộ
từ nhà với thằng bạn cùng xóm, cháu của ông giáo sư Vinh, lên xóm
nhà thờ thay v́ ba tôi phải chạy xe mobilette lên lấy cơm về. Lư do
rất giản dị, nhà bà nấu cơm tháng có báo "Sài G̣n Mới ", trong đó có
chuyện bằng tranh "Bàn Tay Máu" với Trần Ngọc, với cầu Bạch Hổ, với
vơ B́nh Định, đánh bọn hung ác và bọn vơ sỹ Thái Lan xất bất xang
bang. Tôi khoái và đọc mê mệt cho tới khi bà bảo tôi đi về v́ sợ đồ
ăn nguội.
Tôi cũng rất thích học về
lịch sử và địa lư. Tôi c̣n nhớ cả lớp chăm chú và thích thú nghe
thầy kể chuyện về Ngô Quyền đại phá quân Hán trên sông Bạch Đằng mở
đầu cho nền tự chủ của nước ta; hay Lư Thường Kiệt đánh tan quân
Tống và phá châu Khâm, châu Liêm. Học tṛ trong lớp nghe xong vỗ tay
nuồm nượp như đi coi đại nhạc hội. Tôi cũng nhớ hoài quyển Địa Lư
Toàn Thư lớp nh́ mà trong đó có h́nh "Ḥn Phụ Tử Hà Tiên" và "Phú
Quốc Cảnh Nắng Chiều". Đó là những năm thanh b́nh ngắn ngủi
1956-1960. Năm lớp nhất, tôi thi đậu vào lớp đệ thất
của trường Trung Học Công
Lập của tỉnh. Một cuộc sống mới bắt đầu. Tôi được mặc quần tây xanh,
áo trắng, thay thế cho quần xà lơn đen. Tôi hănh diện ḿnh là học
sinh của trường trung học duy nhất của tỉnh. Niềm vui chưa được trọn
vẹn, tôi bùi ngùi cho những thằng bạn học lớp nhất với ḿnh, nhưng
không may mắn đậu vào đệ thất, như Nguyễn Văn Tốt, Lê Công Thành.
Nhà thằng Tốt nghèo nhất trong bọn. Nhà nó ở xa tỉnh lỵ lắm, nên nó
được nhà trường cho ăn cơm "cantin"(note: hồi nhỏ nghe nói ăn cơm
cantin, nhưng không biết viết ra sao. Có nghĩa là chánh phủ trợ cấp
ăn trưa cho những học tṛ nghèo). Từ nhà nó đến trường, phải băng
qua một con rạch. Tới bờ sông, nó phải cơi quần áo. Sách vỡ và quần
áo bỏ vào bao nylon để trên đầu và lội qua sông. Tôi thương thằng
Tốt lắm v́ nó hiền và thỉnh thoảng nó đem cho tôi mấy con dế lửa mà
nó nói là mấy con dế đó sống ở hang rắn nên nó đá dữ lắm. Bây giờ
nghĩ lại tuổi nhỏ ngây thơ thật v́ dế mà sống chung với mấy chú rắn
th́ đâu c̣n để mà nó bắt cho tôi.
Nhà đứa nào khá giả một
chút th́ được đi học lớp tiếp liên để sang năm thi tiếp vào lớp đệ
thất. Đứa nào gia đ́nh nghèo như thằng Tốt th́ bỏ học theo cha mẹ
làm ruộng hay đi chăn trâu. Đó là kiếp sống của học tṛ ở nhà quê.
Một trong những người bạn cũ, tôi c̣n nhớ anh "Danh Ri". Anh là
người Việt gốc Miên. Anh làm Liên Đội Trưởng khi chúng tôi học lớp
ba. Nhiệm vụ của anh là lau bảng cho sạch sẽ sau giờ học. Khi có
thầy cô khác hoặc khách vào lớp, anh phải hô lên "đứng dậy". Anh
khoảng 16 tuổi và có vợ. Một hôm anh trèo cây bị té trặc chân và
không đi học được. Vợ anh phải vào lớp xin cho anh được nghĩ học.
Khi chị vào lớp cả lớp đứng dậy chào. Chị nói nhỏ cái ǵ với cô giáo
và chúng tôi không nghe được. Sau đó cô giới thiệu chị cho cả lớp và
cho biết anh "Danh Ri" bị té cây. Vài ngày sau đó, cả lớp hùn tiền
mua dầu Nhị Thiên Đường, vài trái xoài, trái ổi mang đến biếu anh.
Cả lớp cùng đi và đứng sắp hàng trước căn nhà lá mà anh ở với ba má
anh và vợ. Cái t́nh cảm của học tṛ tỉnh nhỏ nó mộc mạc và đậm đà
như thế. Tỉnh nhỏ, nhỏ đến nổi khi cô giáo bảo "Em hăy tả một tai
nạn mà em chứng kiến ". Em nào cũng tả "Ngày hôm qua em chứng kiến
một tai nạn trên đường Gia Long", v́ trong tỉnh chỉ có một con đường
chính duy nhất ở phố chợ. Đường Gia Long bắt đầu từ đầu cầu Quan (rạch
Tây Ninh) trước tiệm "chà và" bán vải đến cuối con đường Gia Long
trước rạp hát Lạc Thanh khoảng 400 thước. Đường Gia Long được coi là
con đường rộn rịp nhất của tỉnh. Tôi tả tai nạn như sau "Ngày hôm
qua em chứng kiến một tai nạn khảm khốc trước tiệm "Cẩm Sanh Đường"
trên đường Gia Long. Một xe ngựa (xe thổ mộ) đụng một xe máy (xe đạp).
Không có ai bị thương, nhưng xe máy bị cong niền. Hai ông xáp lại và
đánh lộn. Mọi người can gián và hai ông bỏ đi. Kết luận : Khi chúng
ta chạy xe nên cẩn thận. Nếu không, bánh xe sẽ bị cong niền và sẽ
xảy ra đánh lộn "

Cầu Quan Tây Ninh (khoảng năm
1965-1966 h́nh từ Internet)
Tôi cũng c̣n nhớ trong
khoảng thời gian thanh b́nh tạm bợ và ngắn ngủi nầy, nhưng thể thao
ở miền Nam nở rộ.
Về bóng bàn chúng ta có
những tay bóng bàn lừng danh thế giới như Mai Văn Ḥa, Lê Văn Tiết,
Lê Văn Inh. Ông Lê Văn Inh h́nh như định cư và sống tại Australia.
C̣n các ông Mai Văn Ḥa và Lê Văn Tiết th́ không nghe tung tích ǵ.
Hai ông nầy đă tung hoành trong các giải ở Đông Nam Á. Tôi cũng c̣n
nhớ năm 1958, ông Lê Văn Tiết đă oanh liệt hạ danh thủ Nhật Bản lúc
bấy giờ là ông Ogimura để đoạt giải vô địch Pháp Quốc năm 1958 đưa
nền bóng bàn Việt Nam lên hàng đầu của thế giới.
|
|

Lê Văn Tiết với chiếc cúp vô địch Pháp mở rộng 1959...
(*) |

Lê Văn Tiết với chiếc cúp vô địch miền Nam đoạt được năm 18 tuổi,
sau khi hạ một loạt đàn anh khét tiếng
(*)
|
|
Về quần vợt, chúng ta có Vơ
Văn Bảy, Vơ Văn Thành (không biết có bà con ǵ không ), đă có một
thời làm mưa gió trong giới quần vợt ở Đông Nam Á.
Năm 1959 cũng là năm lần
đầu tiên, tôi được chứng kiến đua xe đạp "Ṿng Đua Cộng Ḥa " (có lẽ
copy Tour De France của Pháp), đi qua Tây Ninh. Nào có con Phượng
Hoàng Lê Thành Các, Ngô Thành Liêm (Cảnh Sát Đô Thành), vua Leo Núi
Vũ Minh Chúc (TQLC). Đây là lần đầu tiên và lần cuối cùng tôi nghe
nói về Ṿng Đua Cộng Ḥa.
Về lực sỹ đẹp th́ có lực sỹ
Nguyễn Công Áng. Bơi lội th́ có Phan Hữu Dơng (HQ)
Tưng bừng nhất và được
nhiều người theo dơi nhất là đá banh. "Đá Banh" nghe thật mộc mạc và
b́nh dân như người dân miền Nam chất phác và hiền ḥa. Chỉ cần một
trái banh là cả xóm có thể tham gia vào môn thể thao b́nh dân nầy.
Nhà tôi lúc đó có một cái "ra dô". Mỗi khi có trận túc cầu quốc tế
là hàng xóm xúm lại nghe ông Huyền Vũ tường thuật. Dạo đó thường th́
có hội Nam Hoa (không nhớ là của Hương Cảng hay Đài Loan), hội tuyển
Nam Vang, Thái Lan, Mă Lai đến đá với hội tuyển Sài G̣n (& hội tuyển
Việt Nam) trên sân Tao Đàn và về sau trên sân Cộng Ḥa (trên đường
Nguyễn Kim khi sân nầy ra đời).
|
|

HLV Weigang (dấu tṛn) và đội tuyển miền Nam trong những ngày tập
huấn trước giải Merdeka 1966 - Ảnh tư liệu
(*) |

Đội tuyển miền Nam trước giờ lên đường sang Malaysia dự Merdeka 1966
(*)
|
|
Hội Tuyển Túc Cầu Việt Nam lúc đó được coi như là
một đội cầu mạnh nhất ở Đông Nam Á. Việt Nam chơi theo đội h́nh
2-3-5 (Metodo, Ư đă dùng system nầy thắng World Cup năm 1934 &
1938). Thành phần hội tuyển Việt Nam như sau :
Trong
khuôn gỗ Rạng
Hậu
vệ Tỷ
Hiển
Tiếp
Ứng Đực I Tam
Lang Thanh
Trên
đạo can thành Ngôn Thuận
Chiêu Vinh Ngầu
|

Hội Tuyển Túc Cầu VNCH đoạt giải
Merdeka năm 1966
|

Trung vệ Phạm Văn Lắm và chiếc cúp vô địch
Merdeka 1966 (*)
|
|
H́nh như
đây là thành phần hội tuyển đá bại Miến Điện 1-0 ở chung kết để đoạt
giải Merdeka 1966. Riêng thủ môn Phạm Văn Rạng với đôi tay vàng được
mệnh danh là "Lưỡng Thủ Vạn Năng". Trên đạo can thành chúng ta có
cặp bài trùng Ngôn Thuận (Quan Thuế). Riêng Ngầu (Tổng Tham Mưu)
được ông Huyền Vũ gọi là con thần mă. Đặc biệt nhất là không ai qua
mặt được ông Đỗ Thới Vinh, thường được gọi là "Vinh đầu sói". Ông
chơi cho các đội như Quân Cụ, Tổng Tham Mưu, Quan Thuế. Với lối chơi
thông minh và tài lừa banh tuyệt vời ông và Rạng được tuyển lựa vào
Hội Tuyển Á Châu. Hậu vệ th́ có Phạm Huỳnh Tam Lang (Cảnh Sát Đô
Thành) thật vững chắc trong vai tṛ trung ứng. Ông cũng là captain
của hội Tuyển VN. Hậu vệ th́ có Tỷ. Ông có tài lừa và thích lên cao,
nhưng khi banh xuống nhanh quá ông thường không về kịp.
Dạo đó các
hội đá banh tập trung ở thủ đô Sài G̣n như Tổng Tham Mưu, Quan Thuế,
AJS/Cảnh Sát Đô Thành, Quân Cụ, Ngôi Sao Gia Định. Nên thành lập
được "Hội Tuyển Sài G̣n" để chơi với các đội của Trung Hoa Dân Quốc,
Hong Kong, Thụy Điễn, Thái Lan, Nam Dương, Mă Lai. Nhưng sau trận
thắng Merdeka 1966, chiến tranh đă tràn về thành phố như Tết Mậu
Thân năm 1968, miền Nam đă không có tiền để gởi các phái đoàn tham
dự các cuộc tranh tài ở Đông Nam Á nữa. Thật tiếc thay.

Sài G̣n
Vang Bóng Một Thời
Năm 1956,
(Tài liệu của nhà văn Hoàng Hải Thủy ) Hội Tuyển
Bóng Bàn VNCH đoạt
chức Vô
Địch
Toàn Đội
Thế Giới ở Tokyo, Nhật Bản.
Việt Nam-Nhật
Bản vào chung kết. Huề 2-2, trận quyết
định thắng bại
được tranh giữa
Mai Văn Hoà và hảo
thủ Nhật. Tay vợt Nhật này vừa
đoạt chức
Vô Địch
Đơn Nam Thế
Giới.
Mai Văn Hoà thắng
3-2, mang Cúp Vô Địch
Toàn Đội
Bóng Bàn Thế Giới về cho Việt Nam Cộng Hoà.
Năm
1958,
(viết theo trí nhớ nên thời gian tháng năm có thể thay đổi một ít,
nhưng ghi đúng tên của các danh thủ đương thời) Lê Văn Tiết đánh bại
Ogimura (Japan) tại Paris đoạt giải vô địch bóng bàn Pháp Quốc
Năm 1959,
(Tài liệu của nhà văn Hoàng Hải Thủy ) Hội Tuyển Túc Cầu
VNCH đoạt
Huy Chương Vàng — Vô Địch
— Giải Túc Cầu SEA Games — Thế Vận
Đông Nam Á.
Năm 1966,
Hội Tuyển Túc Cầu VNCH đoạt Cúp Vô Địch Giải Merdeka ở Mă Lai

Nhắc tới đá banh mà không
nhắc tới Ông Huyền Vũ là một thiếu sót lớn. Với một trí nhớ phi
thường ông nhớ tên các cầu thủ ngoại quốc khi tường thuật và lối nói
hấp dẩn, ông đă lôi cuốn thính giả làm người nghe cảm thấy như ḿnh
đang ngồi ở sân Công Hoà coi trận đấu "...Ngầu như con thần mă
vượt qua được hậu vệ Mă Tiến Đức, đưa banh sang phải cho Vinh. Vinh
nhận đưa banh, nh́n bạn đồng đội, lừa qua được một địch thủ, và nhóm
banh vào giữ cho Chiêu đang chạy tới. Chiêu sút mạnh vào khung thành.
Thủ môn Nam Hoa Lưu Kiến Trung tung người lên định đỡ banh ra ngoài,
nhưng đă trể banh đă nằm gọn phía trái của khung thành. Hội Tuyển
Sài G̣n làm bàn và dẫn trước 1-0 ở phút thứ 10 của trận đấu" hay "
chúng tôi đang ở những giây phút cuối cùng của trận đấu và chắc chắn
hội tuyển Sài G̣n sẽ thắng với tỷ số 3-1". Ông Huyền Vũ là sỹ
quan đặc phái làm việc ở Đài Phát Thanh Sài G̣n. H́nh như ông đóng
lon Đại Úy khi miền Nam thất thủ. Ông qua Mỹ và định cư ở tiểu bang
Virginia. Ông đi học lại lấy bằng BS, đi làm và về hưu. H́nh như ông
qua đời khoảng 3-4 năm trước.

Ông Huyền Vũ
(h́nh từ Internet)
Vào những tháng hè, má tôi
thường gởi tôi về Sài G̣n sống với cậu tôi để ông anh bà con kèm
thêm toán và cũng có dịp giúp bà ngoại tôi bán báo. Lúc đó khoảng
1958, 1959, bà ngoại tôi có một sập báo ở ngă tư đường Phạm Đăng
Hưng và đường Hiền Vương, trước tiệm chă cá "Thăng Long". Lúc đó
chưa có vơ đường của Ḥa Thượng Tâm Giác và chưa có xa lộ Sài G̣n
Biên Ḥa. Cuối đường Hiền Vương là con sông (nay là cầu Sài G̣n trên
xa lộ Biên Ḥa). Bên tay trái là một xóm lao động gọi là "Bến Cỏ" (chắc
ngày xưa ở đó cỏ nhiều lắm chăng?). Quẹo phải là đường Nguyễn Bỉnh
Khiêm. Đi một chút xíu nữa là có đ́nh Tân An nằm bên tay trái. Tiếp
tục đi nữa là đến đài phát thanh Sài G̣n nằm bên tay mặt (không biết
có phải là đường Phan Đ́nh Phùng không? lâu quá rồi nên không nhớ
nữa), rồi "Sở Thú", trường Trưng Vương và Vơ Trường Toản. Trong lúc
bán báo, tôi có dịp đọc thêm và mở mang sự hiểu biết của ḿnh. Với
lứa tuổi 9- 10 tuổi tôi có một chút kiến thức về lịch sử và trào lưu
quốc tế. Cũng nhờ vậy, mà năm tôi học đệ lục(12 tuổi?), tôi đă đứng
trước lớp thuyết tŕnh về đề tài Đệ Nhị Thế Chiến- Chiến Trường Âu
Châu. Nay bà ngoại tôi đă quy tiên. Nhưng h́nh ảnh bà cháu đứng bán
báo năm xưa trên đường Phạm Đăng Hưng vẫn c̣n sống nguyên vẹn trong
tôi như ngày nào.
Lúc đó ông anh đang học đệ
tứ trường Nguyễn Công Trứ ở đường Hai Bà Trưng. Nhà ở sau rạp hát
Văn Hoa (Đa Kao) nên ông anh thường dẩn tôi đi coi hát bóng. Tôi nhớ
khi rạp hát Văn Hoa khai trương ông anh dẩn tôi đi coi phim "Đông
Kinh Trong Bóng Tối Hải Hùng". Không biết tiếng Nhật gọi là ǵ và ai
đóng. H́nh như nói về Yakuza
Cậu tôi thích văn chương và
thường tổ chức các buổi làm luận văn. Kêu các con cháu lại và ra đề
tài để làm. Đứa nào được chấm nhất sẽ được cho tiền đi coi hát bóng
và ăn cà rem. Trong đám anh chị em bà con làm luận văn, h́nh như tôi
là người có khiếu nhất về viết văn, nên lần nào tôi cũng chiếm giải.
Tôi thích nhất là đi coi ở rạp Eden v́ nó có vẽ classic và nhất là
có bán cà rem "Eskimo" mà tôi không bao giờ t́m thấy ở Tây Ninh. Tôi
thích collect mấy tờ quăng cáo của các rạp hát bóng ở Sài G̣n Gia
Định từ Eden, rạp Đại Nam (đường Trần Hưng Đạo), rạp Palace (cũng
trên đường Trần Hưng Đạo đi về hướng Chợ Lớn), rạp Khải Hoàn (đường
Cống Quỳnh), rạp Rex, rạp Kinh Đô (đường Lê Văn Duyệt), rạp Casino
Sài G̣n (đường Pasteur), rạp Lê Lợi (đường Lê Thánh Tôn), rạp Vĩnh
Lợi (đường Lê Lợi), rạp Diên Hồng (đường Phạm Ngũ Lăo), rạp Nam Việt
(đường Tôn Thất Đạm), rạp Olympic (đường Hồng Thập Tự, về sau là
Đoàn cải lương Kim Chung đóng đô thường trực), rạp Nam Quang ở gần
đó (đường Lê Văn Duyệt, nơi thường bán sách báo cũ), rạp Long Phụng
(đường Lê Thánh Tôn và Lê Văn Duyệt, chỉ hát phim Ấn Độ), rạp Long
Thuận (rất nhỏ, nằm gần ga xe lửa Sài G̣n, cũng gần rạp Long Phụng),
rạp Cao Thắng ở gần chùa Tam Tông Miếu(đường ǵ quên mất rồi?).Ở
Đakao th́ có rạp Văn Hoa, Casino, Modern (kế bên chợ Tân Định), Kinh
Thành (đường Hai Bà Trưng), ngày xưa c̣n có rạp hát Asam (h́nh như
bên kia đường là ḿ cây nhăn, gần sân vận đông Hoa Lư). Ở Gia Định
th́ có rạp Huỳnh Long (đi qua cầu sắt Gia Định), rạp Cao Đồng Hưng,
rạp Đại Đồng (đường Nguyễn Văn Học). Riêng rạp Lê Lợi th́ thường
chiếu những phim classic như La Valse Dans L'Homme, An Affair To
Remember, The Man Who Knew Too Much, The Bridge Over The River Kwai,
Sans Famille phỏng theo tiểu thuyết của Victor Hugo. Riêng phim The
Man Who Knew Too Much, và The Bridge Over The River Kwai, phải đợi
qua đến Mỹ, tôi mới được xem trên AMC channel (American Movies
Classic). Cuốn phim làm tôi nhớ lại ngày xưa ông anh thường hu't gió
bản "Que Sera Sera" và "Cầu Sông Kwai", cùng với những bản nhạc
thịnh hành thuở đó như "Smoke Gets in Your Eyes", “Bernadine”,
“April Love” (Pat Boone). Thỉnh thoảng tôi có phone nói chuyện với
ông anh settled down ở Baltimore và nhắc lại chuyện cũ, ổng cười mà
nói "sao mầy nhớ dai quá vậy Tuấn".

Bài hát "Cầu Sông Kwai" lời
Việt được ghi lại theo trí nhớ. H́nh như người đặt là "Cô Hằng"
người thực hiện tờ program cho rạp hát Đại Nam. Năm đó khoảng 1958,
1959 hay 1960
* Ô nầy,
Mặt trời lên dăy núi xa,
xa vời
Người mơ về nơi quê nghèo chân trời
Người yêu c̣n ngóng chờ
Mắt hoen trong chiều vắng
ḷng sầu nhớ thẩn thờ
Từng chiều, từng sớm chốn xưa ngóng trông anh về
Căn vườn xưa không bóng người tới
Lá úa tháng năm rơi nghẹn ngào đêm tối
Gió mưa âm thầm căn nhà vắng im tiếng cười
* hát trở lại
http://www.youtube.com/watch?v=83bmsluWHZc&feature=fvw
http://www.youtube.com/watch?v=xvWLMkxSwIo&feature=related
Ba tôi đổi về Biên Ḥa
1964. Tôi năn nỉ ba má tôi cho tôi ở lại học nốt xong đệ tam & đệ
nhị. Nhưng ba má tôi làm sao chấp nhận lời yêu cầu của tôi. "Nhà đâu
có dư giă, giàu có mà con đ̣i hỏi như vậy? má tôi vỗ về tôi. Thế rồi
tôi cũng bỏ thành phố nhỏ bé, nơi tôi đă sống cả một thời ấu thơ, bỏ
những người bạn cũ mà ra đi. Lần đầu tiên trong đời những giọt nước
mắt chảy dài trên má vi` giă từ bạn bè, thầy cô, nhớ những cây
phượng vỹ mà chúng tôi học tṛ lớp nhất trồng dọc theo hàng rào sân
trường. Về Biên Ḥa, thành phố nhộn nhịp hơn, lớn hơn, vui hơn.
Nhưng tôi như một con chim nhỏ trong chiều mưa, tôi cảm thấy đời là
cả một cô quạnh, một trống trải trong ḷng. Sau khi đi học về, tôi
phụ má tôi làm cơm và rữa chén v́ các em c̣n nhỏ. Cơm nước xong, tôi
thả bộ xuống bờ sông Đồng Nai. Sông Đồng Nai lớn hơn rạch Tây Ninh,
có lẽ 5-7 lần chăng? Đứng trên nhà Thủy Tạ trước dinh tỉnh trưởng
nh́n sông nước mênh mông chỉ thấy bóng dáng mờ mờ của người đứng bên
kia bờ. Bên trái là cầu Gành. H́nh ảnh cầu tôi đă được thấy trong
quyển "Địa Lư Toàn Thư" khi tôi học lớp nh́ của thuở thanh b́nh năm
xưa. Nh́n mây trắng bay bay bay trong buổi hoàng hôn thấy một nổi
buồn vô tận.
Tuổi trẻ dể làm bạn. Tôi có
được hai người bạn mới. Một người bạn sống tại Biên Ḥa từ nhỏ và
một người bạn cũng "lính mới" như tôi mới đến từ B́nh Dương. Tôi ṭ
ṃ hỏi anh bạn từ B́nh Dương "bạn có buồn không?" Anh bạn trả lời "có,
nhưng ít thôi". Tôi hỏi "tại sao là ít?" Anh bạn trả lời là từ B́nh
Dương qua Biên Ḥa khoảng 1 tiếng nên không đến nổi nào. Thế rồi 3
đứa trở thành bạn thân với nhau. Cùng học, cùng đố nhau, cùng chia
xẻ những tâm sự riêng cho nhau, nhất là anh bạn ở B́nh Dương. Anh
bạn đào hoa và chững chạc hơn tôi. Anh bạn không mắc cỡ và ngượng
ngập khi nói chuyện với con gái. Thuở đó tôi mơ ước tôi được như anh.
Lên đến đệ nhị, ban Pháp Văn và Anh Văn phải tách ra, chứ không học
chung con trai với nhau như hồi đệ tam, nên tôi phải đổi qua lớp
khác và học chung với con gái. Lần đầu tiên học chung với con gái,
tôi hồi hợp và mắc cỡ. Không dám nói chuyện với chị nào cả. Con trai
ngồi một bên. Con gái ngồi một bên. Tôi ngồi đầu bàn thứ ba. Rồi một
ngày như mọi ngày, đâu có ǵ xảy ra, nên tôi cảm thấy yên tâm. Trong
lớp có một cô gái nhỏ ngồi đầu nhứt hay quay lại nói chuyện với cô
bạn ngồi phía sau, nhưng mỗi lần như vậy là 4 mắt nh́n nhau (v́ tôi
ngồi hàng thứ ba bên trái của cô và tôi ngó ra cửa lớp ở bên tay mặt
chứ không phải có ư nh́n cô). Tôi cảm thấy như có một cái ǵ lâng
lâng trong ḷng. Mấy tháng sau, tôi không c̣n dùng "xe lam" đi học
nữa, mà là đi bộ. Châu tên anh bạn cùng đi bộ với tôi hằng hàng, nhà
ở bến "xe lô", ghé nhà, rồi hai thằng đi bộ đến trường. Từ Nguyễn
Hữu Cảnh quẹo qua Trịnh Hoài Đức, qua rạp hát Biên Hùng, qua quốc lộ
1 và đi đến trường (chắc khoảng 2-3 cây số). Đi bộ như vậy có nhiều
th́ giờ để nói chuyện hơn và cũng có dịp đi bộ sau người ta. Rất
tiếc ngày đó bài hát "Ngày Xưa Hoàng Thị" chưa ra đời. Điều lạ lùng
là học cùng lớp, biết nhau mà ra ngoài đường giống như hai người xa
lạ.

Rạp Biên Hùng (**)

Trường Ngô Quyền (**)
Rồi ngày nầy qua ngày khác.
chúng tôi miệt mài học hành, đậu tú tài I và lên đệ nhất. Thầy dạy
toán tên là thầy Kỷ rất thích tôi và cô bé đó. Thầy hay kêu chúng
tôi lên bản làm toán Lượng Giác. Thầy chia bảng đen ra làm hai, mỗi
đứa một bên. Lần nào cô bé cũng làm xong trước tôi. Tôi cũng làm
xong, nhưng chậm hơn. Ḷng tự ái của "Tuấn, chàng trai nước Việt"
nổi lên, sau cơm tối là tôi học đến 2 giờ sáng mỗi ngày. Không c̣n
cái cảnh đi dạo bờ sông như năm xưa nữa. Ba má tôi thấy tôi học
khuya quá sợ tôi bị ho lao. Người bạn ngồi kế bên (ở Long Thành)
biết được những "bí mật trầm lặng của 4 mắt nh́n nhau " đó nên làm
quân sư cho tôi, nghe cũng có lư "sắp sữa hết niên học rồi, mầy
không nói th́ bao giờ mới nói? " Rớt hay đậu ǵ tôi cũng phải rời
trường. Tôi lấy hết can đảm viết lại bài thơ của Nguyễn Công Trứ "Ṿng
trời đất dọc ngang, ngang dọc. Nợ tang bồng vay trả, trả vay " (Nh́n
lại thấy ḿnh quá "cù lần" mà "cù lần lửa" nữa). Viết xong lại không
có cái cảnh "giữa sân trường" trao thơ. Đành phải nhờ ông quân sư
trao dùm. Ông hay thiệt, mới trao hôm nay, ngày hôm sau tôi nhận
được thơ trả lời. Thơ viết trên giấy pelure màu xanh, tới những 4 tờ
lận, bài thơ do cô bé đặt ra. Tôi nhận được thơ và đọc những ḍng
thơ mà tưởng ḿnh trong mơ. Bài thơ thật hay. Tôi đi t́m cô bé để
làm quen. Rất tiếc đó là ngày cuối niên học và cô bé đă đi về. (khi
đọc những ḍng chữ nầy hy vọng bà xă tôi không co "ngắc" tôi. Chuyện
ngày xưa c̣n bé mà)
Tôi có nói chuyện với người
bạn ngồi kế bên về bài thơ. Anh nói cho anh mượn anh đọc. Và anh
không bao giờ trả lại. Khi tôi tốt nghiệp đại học ở Nhật năm 1974,
tôi có nhận được thơ anh bạn gởi cho tôi từ Việt Nam và nói xin lỗi
là anh đă giữ bức thơ quá lâu và muốn trả lại cho tôi.
Năm đệ nhất cũng là năm đầy
kỷ niệm nhất, không biết v́ đó là năm cuối cùng của trung học hay là
năm chợt biết ḿnh biết "để ư" đến ai đó.Tôi theo gia đ́nh đến Biên
Ḥa năm tôi học đệ tam. Lần lần t́m hiểu và đọc lịch sử về xứ Trấn
Biên, tôi cảm thấy thích thú và yêu xứ bưởi vô cùng:
Nhà Bè nước chảy chia
hai,
Ai về Gia Định, Đồng Nai th́ về.

Cầu Gành Trên Sông Đồng Nai (ảnh
từ internet)
Ngày
nay th́ cái tên Gia Định
không
c̣n
nữa. C̣n
Đồng
Nai thi` chắc không
giống Biên
Ḥa
ngày
xưa của tôi.
Những gót
chân
tôi
trên
quăng
đường
từ
trước
quán
cơm xă
hội
trên
đường
Nguyễn Hữu Cảnh, quẹo qua
đường
Trịnh Hoài
Đức
đi
ngang qua ngơ
hẻm
nhà
ai đó, mà lần
nào
đi
ngang qua
đó tim tôi
cũng
đập
mạnh,
đi
ṿng
qua rạp hát
Biên
Hùng
và
theo quốc
lộ
1 đi
đến
trường Ngô
Quyền,
những dấu chân
đó
đă phủ
bụi
thời gian. Cả
một
thời xuân
xanh với quần xanh,
áo
trắng, phù
hiệu
may trên
túi
"Trường Trung Học Ngô
Quyền",
với những người bạn, quê
ở
Công
Thanh, quê
ở
Long Thành,
quê
ở
Dĩ An, quê ở
Hố
Nai, mà nay không
biết lưu lạc nơi
đâu.
Nh́n
lại những ngày
tháng
cũ
thấy
cay cay trên
vành
mi.
Dẫu áo
thư
sinh có bạc
màu,
Cuối trời lưu lạc vẫn t́m
nhau.
Trong một ngày cuối tháng
12 gần Noel, tiết trời lành lạnh, tôi rời bỏ người thân, rời bỏ
thành phố thân yêu, Biên Ḥa, Sài G̣n, bỏ lại sau lưng những con
đường đầy lá me vàng bay lả tả trong những chiều lọng gió, những cây
phượng đỏ với tiếng ve sầu trong những ngày tháng hạ oi ả : tôi đi
học xa. Xa hơn ḿnh tưởng tượng. Ngồi trên chuyến phi cơ 707 của Air
France rời phi trường Tân Sơn Nhất mà tôi rưng rưng nước mắt. Nh́n
qua khung cửa sổ phi cơ, thành phố Sài G̣n thân yêu nhỏ dần, nhỏ dần,
rồi chỉ thấy mây trắng bao quanh phi cơ. Ngày xưa khi đọc quyển "Đời
Phi Công" của Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh mà mơ ước được tung cánh
chim sắt, mơ với mộng hải hồ, được vui cùng mây cùng gió.
Cánh chim tung gió reo
hồ hải,
Muôn vạn v́ sao đẹp ngă đường
(thơ Toàn Phong Nguyễn Xuân
Vinh)
Mơ những chuyến đi xa như
ông đă bay trên ṿm trời Salon De Provence [L'École de l'Air (the
French Air Force Academy, Location Salon-de-Provence], hoặc những
chuyến bay đêm trên ṿm trời Casablanca mà nơi đó có "Rick's Café
Américain" đầy khói thuốc trong cuốn phim "Casablanca" (1942,
Humphrey Bogart, Ingrid Bergman). Ngày hôm đó tôi không phải là phi
công, nhưng tôi được đi xa như ḿnh mơ, ḿnh ước, cớ sao tại có
những giọt nước mắt làm mắt tôi đỏ. Thế mới biết gia đ́nh là tổ ấm,
là nơi chúng ta quay về khi vui, cũng như những khi buồn.
Trong chuyến bay ngày hôm
đó tôi có vài bạn đồng hành như Dương Tuấn Kiệt, Ong Trung, Vương
Định Cường, Tôn Thất Giai nên nổi buồn vơi bớt phần nào. Xuống phi
trường Haneda, lạnh quá. Tháng12, Tokyo đă vào đông. Được ông bạn Lê
Ngọc Thành ra đón. Đi mono rail về Hamamatsucho (浜松町駅).
Rồi đổi qua tàu Kokutetsu
Yamate-sen (国鉄,山手線). Thấy Thành xong xáo, đi lên đi xuống, nghe
tiếng Nhật ào ào trên xe điện, tôi phục quá. Thành qua hồi tháng 9,
định học khóa mùa thu, nhưng trễ, nên phải đợi khóa mùa xuân. Ngồi
trên điện, nh́n cái ǵ cũng lạ, cũng hay. Nhất là hệ thống xe điện
của Nhật. Tôi khoái quá, "nhất định phải học về hệ thống xe điện của
Nhật mới được", tôi tự nhủ.
Về sau nầy học hỏi thêm,
tôi lại mơ ước học về hệ thống Shinkansen. Hệ thống shinkansen đă
phục vụ từ năm 1964 khi có Tokyo Olympic, 19 năm sau khi người Nhật
bại trận và đầu hàng đồng minh ngày 15 tháng 8 năm 1945 (終戦記念日). Chỉ
19 năm, người Nhật đă làm thế giới ngẩn ngơ với sự phục hồi nhanh
chóng trên những điêu tàn, trên những đóng gạch vụn của hai quả bom
nguyên tử, với những kỹ thuật hiện đại, mà shinkansen là một trong
những kỷ thuật đó. Hệ thống shinkansen dùng kỹ thuật riêng gọi là
ATC (Automatic Train Control). Hệ thống nầy không dùng những signals
hoặc cổng chận khi xe điện đi qua (crossing) của hỏa xa hiện tại
(conventional rail). Nhưng hệ thống nầy dùng những đường hầm
(tunnels and viaducts). Vận tốc của shinkansen năm 1964 vào khoảng
200 km/h. Ngày nay, vận tốc của shinkansen (Nozomi) vào khoảng 300
km/h. Khi vào đại học, học về môn "Seigyo Kogaku: Chế Ngự Công
Học"(Control System theory), tôi có nói chuyện tương lai tôi muốn
học về hệ thống hỏa xa và shinkansen, với ông trợ giáo thụ dạy môn
nầy, th́ ông bảo tôi rằng, tốt nghiệp xong, vào làm cho "Kokutetsu"
(国鉄), sẽ học hỏi được nhiều thêm. Nhưng hoàn cảnh và nhất là sau
khúc quanh 75, tôi đă không theo đuổi được giấc mơ về shinkansen nữa,
mà bây giờ đi làm về semiconductor.
Trở
lại
câu chuyện đi Thành đón tôi ở
Haneda về.
Trên xe điện,
thấy người Nhật ăn bận thật lịch sự.
Ai cũng thắt
cà vạt, bận áo bành tô. Ở
Việt
Nam chỉ
có mấy
ông lớn mới ăn mặc như
vậy
thôi. Xe điện chạy khoảng 30 phút, th́ Thành bảo tôi, "tới rồi,
xuống Tuấn ". Tôi đọc hàng chữ
romaji trên nhà ga, "Takadanobaba". Lúc đó chưa
quen, chữ
"Takadanobaba" dài quá, đọc
cong lưỡi. Đi bộ
khoảng
15 phút, Thành quẹo tay trái vô một ngơ hẽm, nói là hẽm chứ
rộng
răi hơn ngơ hẽm ở
Việt
Nam. Chỗ
apato Thành ở
tên là Totsuka-sho, Thành nói "pḥng tao
ở
tầng
hai". Tôi rất tự
nhiên "như
người
Hà Nội", tay mang vali, mang giày lên cầu thang. "Hê, Tuấn mầy phải
cởi giày ra, rồi mang dép nầy nè mới được lên lầu". "Đâu có biết,
tưởng giống như
bên
ḿnh
chứ".
Đó là bài học
đầu tiên tôi học được khi mới tới Nhật. Bước vào pḥng Thành thấy đă
quá, có trải thảm đỏ,
có cái đèn thật
dễ
thương
treo ở
trần
nhà giữa pḥng, có sợ
dây ḷng tḥng xuống.
Thành kéo sợi dây xuống là đèn cháy lên. Thành nói để
tao đốt
ḷ sưởi cho ấm. Từ
nhỏ
tới
lớn chưa bao giờ
thấy
ḷ sưởi nên tôi đứng quan sát. Thành dùng diêm quẹt mồi lửa. Vài
phút sau, thấy căn pḥng đă bắt đầu ấm.
Tôi ở
chung với
Thành vài tháng và sau đó dọn
vào Kokusai khi anh Hồ
Lai Phượng
đi trường
Gunma. Khoảng
nữa
năm sau, Tú, Quang và Thọ
kêu tôi về share pḥng ở Sendagaya (千駄ケ谷).
Tôi về đó ở chung với
các bạn,
vui thật
và nhiều
kỷ
niệm.
Tôi nhớ
thầy
Hojo (thầy
dạy
tiếng
Nhật
ở
Kokusai) phải
dẫn
chúng tôi đến
chào bà chủ
mướn
nhà, thật
ra gọi
geshuku th́ đúng hơn
là apato. Khi chúng tôi dọn
vào th́ mới
biết
phía sau là "Từ
Mẫu
Hội
Quán" của
các chị.
Nhưng
các chị
th́ đi nhà ga Shinanomachi (信濃町駅)
c̣n chúng tôi th́ đi nhà ga Sendagaya (千駄ケ谷駅).
Từ đó chúng tôi gọi
geshuku nầy
là "Từ
Phụ Hội
Quán". Các bạn
trai đến
thăm chúng tôi rất
thường
xuyên, nhưng
không biết
là đến
thăm chúng tôi hay là thăm "Từ
Mẫu
Hội
Quán"
ở phía sau. Nhà ga Sendagaya gần
Kokuritsu Kyogijo và Meiji Jingu (国立競技&
明治神宮野球場),
mùa thu đầy
lá vàng dọc
theo đường
vào Meiji Jingu nơi
Tokyo Roku-Dai chơi
yakyu
ở đây. Vào dịp
weekend tôi thường
vào đây để
nh́n lá vàng bay lả tả thật
lăng mạn
mà chợt
nhớ
bài tập
đọc
Pháp Văn năm xưa
ở
đệ ngũ, đệ tứ, Anatone De France, viết
về
vườn
Luxembourg.
Sau năm Nhật Ngữ, các bạn roommate của tôi rũ nhau
về Kansai. Thái Văn Quang, Nguyễn Văn Tú thi đậu vào Kansai Dai
(関西大学), c̣n Thành và tôi vào Himeji Công Nghiệp Đại Học (姫路工業大学) ở
Hyogo Ken (兵庫).

Himeji Công Nghiệp Đại Học (姫路工業大学)
(h́nh từ Internet)
Xa vắng bạn bè ở Kokusai,
thấy nhớ Tokyo quá. Nhưng sau đó tôi cảm thấy t́nh thầy tṛ ở đây
rất gần gũi. Hầu như mỗi weekend, Kagawa Ken- Ichi sensei và
Atsuko-sensei đến đón Thành và tôi đi thăm viếng các nơi lịch sử ở
Himeji hay ở Kobe, Kyoto, Nara. Thầy dạy ở Himeji Kodai, c̣n
Atsuko-sensei th́ dạy ở Himeji Joshi dai. Hai thầy cô không có con,
nên coi chúng tôi như con. Đặc biệt nhất là năm 1970-1971 xảy ra Y
Học bộ của Todai băi học v́ vấn đề intership
(東京大学においては、医学部の新左翼学生が登録医制度反対などを唱え通称「インターン闘争」に始まる東大紛争を展開した ) rồi Hiệp
Ước An Ninh Nhật Mỹ (安保条約) và chiến tranh Việt Nam. Himeji Kodai
cũng bị ảnh hưởng và băi học như nhiều trường quốc lập và công lập
đại học khác bởi Todai Funsho (東大紛争), tôi c̣n nhớ hai thầy Kamioka (Ph.D,
USC) và Fujiwara dạy về "Cơ Khí Thiết Kế" đến nhà trọ (geshuku) của
chúng tôi đưa bài học và project thiết kế để vẽ trong lúc trường băi
khóa. C̣n Kagawa sensei th́ bắt chúng tôi vào pḥng nghiên cứu của
thầy để thầy dạy như thường lệ. Thầy nói "sekkaku ryu gaku shita
noni, benkyo shimasho". May mà "zengakuren" (Toàn Học Liên) không
biết, nếu không thầy bị phiền.

Kagawa-sensei, Atsuko-sensei & ex-ryu
Himeji (姫路) là thành phố
lớn thứ hai trong Hyogo-Ken (兵庫県), sau Kobe. Là một thành phố
Jokamachi (城下町) với Himeji-jo (国宝姫路城, http://en.wikipedia.org/wiki/Himeji_Castle)
được coi là castle đẹp và lớn nhất nước Nhật và đă được cho vào tài
sản văn hóa của thế giới(日本で初の世界文化遺産となりました). Himeji-jo cũng là nơi
được đóng các phim về samurai gần đây nhất là "The Last Samurai"
(Tom Cruise, Ken Watanabe). Trong những ngày weekend, tôi đi làm bồi
rữa chén cho một nhà hàng nằm trong khu vực nầy gọi là "Resuto
house" (Rest House). Lúc đó thấy nó đẹp nhưng về sau nầy mỗi lần
nh́n nó thấy nó đẹp hơn, nhất là năm 2004 trước khi về Tokyo dự đại
hội exyu, trong lúc Bắc Cali đi thăm viếng Osaka, tôi và bà xă tôi
về thăm Himeji. Thầy Komatsu và Atsuko-sensei dẫn bà xă tôi và tôi
đi thăm Himeji-jo. Đây đâu phải là lần đầu tiên tôi đi thăm
Himeji-jo đâu, nhưng lần đó tôi thấy Himeji-jo đẹp và hùng vĩ thật.
Komatsu sensei giải thích thêm về lịch sử của từng nơi. Tôi hiểu
thêm và thích thú vô cùng. Ngày xưa có đi, nhưng không hiểu nhiều về
lịch sử. Qua đến Mỹ nầy học hỏi thêm, tôi mới hiểu nhiều về lịch sử
nước Nhật hơn là khi tôi ở bên đó.

Himeji Jo
Trong thời gian đi học ở
đây, tôi có một chiếc xe gắn máy Honda mà ông bà chủ geshuku cho
mượn. Trong những ngày nghĩ ngắn tôi không có đi Tokyo, tôi thường
chạy Honda đi thăm các thành phố lân cận như Kurashiki (倉敷市) ở
Okayama-ken (岡山県), hoặc Tottori-Ken (鳥取県)

Kurashiki 倉敷
Thời sinh viên không có
tiền, tới đâu là tôi đi t́m koban, để mấy ông cảnh sát dẫn tới nhà
thờ t́m chỗ ngủ dùm. Gặp mấy ông cha rất tử tế, đem futon, mềm gối
ra, trải cho ngũ qua đêm. Có nhiều ông hỏi thêm về hoàn cảnh gia
đ́nh hoặc giải thích thêm về lịch sử như Okayama-ken ngày xưa gọi là
Bizen (備前). Ngày nay có một thành phố nằm trong Okayama cũng tên là
Bizen, rất nổi tiếng về đồ gốm. C̣n Himeji ngày xưa gọi là Harima.
Điều đó giải thích cho tôi biết tại sao có một hăng đóng tàu lớn ở
Himeji tên là "Ishikawa-Harima Juko KK” (Ishikawajima-Harima Heavy
Industries Co).
Nói đến Jokamachi (城下町) làm
tôi nhớ đến bài hát "Watashi no Jokamachi"(わたしの城下町) do Koyanagi
Rumiko-san(小柳ルミ子)) hát khoảng năm 1971 và bài hát được giải Nihon
Record Taisho năm đó. Xin vào
website sau đây để thấy Jokamachi nó
dễ thương như thế nào.

Từ ngày qua Mỹ, tôi vẫn giữ
thông lệ gởi thiệp chúc tết các sensei và các bạn Nhật vào tháng 12
và gọi phone chúc tết vào ngày đầu năm. Nay thầy Kagawa và Fujiwara
đă qua đời. Nhân đại hội Ex-ryu ở Tokyo năm 2004, như đă nói, tôi có
dịp về Himeji thăm lại trường cũ. Thầy Kagawa đă qua đời 2 năm trước
đó. Thầy Fujiwara cũng đă mất. Chỉ c̣n lại thầy Kamioka và thầy
Komatsu (shido sensei). Thầy Komatsu và vợ thầy có dịp qua Mỹ chơi,
thăm Thành và tôi khoảng 10 năm trước, và ở nhà Thành khoảng một
tuần. Thầy đột nhiên qua đời tháng 10 năm 2008 và được đem về nguyên
quán ở Suwa, Nagano-Ken. Tôi chỉ c̣n liên lạc được với Atsuko-sensei
và các người bạn Nhật. Nhân ngày hội ngộ Tokyo 2004. Atsuko-sensei
sau khi gặp tôi và bà xă tôi ở Himeji, lại chịu khó đi Shin Kansen
lên Tokyo t́m chúng tôi ở hotel và dẫn chúng tôi đi thăm mộ của
Kagawa sensei ở Asakusa, và dẫn chúng tôi đi ăn ở một restaurant
được lập từ thời Minh Trị Thiên Hoàng tên là "Kawamatsu" (Xuyên Tùng)
ở Asakusa. Nếu anh chị nào muốn thưởng thức món ăn chính góc từ thời
Minh Trị cũng như muốn tưởng tượng như ḿnh sống dưới thời Minh Trị
Thiên Hoàng (virtually) xin thử Kawamatsu (tel 03-3841-1234 (honkan)
hoặc 03-3841-2345, betsukan).

"Kawamatsu" (Xuyên Tùng)
restaurant ở Asakusa (h́nh từ Internet)
Thú thật tôi quư từng giây
phút mà tôi có được trong tiệm nầy. Atsuko sensei năm nay bà 94 tuổi.
Cứ mỗi lần tôi điên thoại thăm bà, bà thường nói "asobi ni itte
kudasai. Watashi wa kotoshi 94 yon sai desu yo. Itsu ka shinu no wa
wakaranai yo".
Thế rồi, sau 4 năm ở thành
phố Jokamachi. Tôi rời Himeji tiếp tục học lên cao học. Lần nầy tôi
không đi về phía tây hoặc phía nam nữa, mà đi về hướng đông. Ngày
xưa ở Kokusai, tôi thường lên sân thượng vào mùa hè, nh́n những
chuyến tàu màu orange (chuo-sen, 中央 線) đi về phía Takao-san mà không
biết đi nữa là tới đâu. Lần nầy th́ tôi có câu trả lời cho câu hỏi 5
năm trước. Tôi đi về Yamanashi-ken. Ông giáo thụ dạy tôi về "Chấn
Động Công Học" ở Himeji Kodai, Sekiguchi-sensei, giới thiệu tôi đến
người bạn của ông dạy ở Yamanashi Daigaku là giáo thụ Maegawa sensei
(Todai, Ph.D MIT). Hai tiếng đồng hồ xe điện từ Shinjuku đến Kofu-eki,
not bad, tôi tự nhũ. Tháng ba tốt nghiệp, lănh bằng xong và
suisensho của Sekiguchi-sensei, tôi trở về geshuku đóng thùng sách
vỡ, futon, mền gối và "Kokutetsu nimotsu" (国鉄) đến chở ra nhà ga lên
Kofu (甲府). Tôi trả xe Honda, cám ơn và từ giả ông bà chủ geshuku.
Bạn bè đưa tôi ra nhà ga. "Sayonara Himeji, Sayonara Shirasagi-jo (một
tên khác của Himeji-jo)".
Thay v́ đi tới Shinjuku,
rồi từ Shinjuku lấy tàu đi Kofu. Tôi hà tiện, đi Shin Kaisoku (新快速)
từ Himeji tới Kyoto (1 hr 15 min). Từ Kyoto đi tàu thường qua Tsu
(津市) thuộc Mie-ken. Tới Nagoya-eki khoảng 9, 10 giờ đêm. Đợi ở
Nagaoya eki khoảng 30 phút hay 1 tiếng, tôi đáp tàu kyuko (chuo
honsen) đi Nagano. Trời tháng ba c̣n lạnh, tôi ngồi co ro bên cạnh
những group đi Nagano ken trượt tuyết. Trước lạ sau quen. Họ cũng là
những sinh viên như tôi. Nam có, nữ có, sau khi biết tôi ryu Việt
Nam, vừa mới tốt nghiệp và sắp sữa vào học ở Yamanashi, họ chúc mừng,
mời uống sake (chai nhỏ mua ở kiosk). Tui cũng kampai với đám sinh
viên nầy. Họ rất nhiệt tâm. Thấy tôi lạnh họ đưa áo ski cho tôi mặc
đỡ. Cũng nhờ sake và áo ấm nầy tôi qua được một frozen night. Khoảng
7, 8 giờ sáng tàu đến Okaya/Matsumoto (松本市), tôi đổi tàu kyuko đi
Kofu/ Shinjuku homen. Tàu đến Kofu khoảng 10-11 giờ sáng. Tính ra
tôi ngồi trên xe điện khoảng 24 tiếng.
Tôi hỏi nhân viên nhà ga đi
đến trường (họ gọi tắt là Nashi Dai, 梨大, thay v́ 山梨国立大学). Họ bảo đi
bộ khoảng 10-15 phút là tới. Tôi thả dọc theo Takeda Dori. H́nh như
tuyết đỗ đêm qua, hay ngày trước đó, c̣n đọng lại trên đường đi. Ở
đây lạnh hơn Himeji, nhưng phong cảnh đẹp hơn.
Th́ ra đường nầy là tên của
ông Takeda Shingen (武田信玄) một lănh chúa nổi tiếng trong thời"Sengoku
Jidai (戦国時代 giữa thế kỷ thứ 15 và đầu thế kỷ 17), trước thời
Tokugawa shogun.

Tượng Ông Takeda Shingen Trước Nhà
Ga Kofu, Yamanashi-Ken

TAKEDA SHINGEN FESTIVAL, KOFU, YAMANASHI (ảnh
từ internet)

TAKEDA SHINGEN FESTIVAL, KOFU, YAMANASHI (ảnh
từ internet)
Ông đă đánh bại Tokugawa
Ieyasu (徳川家康) năm 1572 ở Mikata Ga Hara (三方ヶ原), nhưng sau đó ông bị
bịnh qua đời. Tokugawa Ieyasu b́nh định nước Nhật và thành lập
Tokugawa shogun, trị v́ nước Nhật 265 năm (cho đến thời Tokugawa
Yoshinobu (The Last Shogun) trao quyền hành ở Edo lại cho Minh Trị
Thiên Hoàng và về ở ẩn ở Shizuoka. Năm Minh Trị 35 (1902), Minh Trị
Thiên Hoàng phong chức Công Tước (公爵) cho ông. Năm Taisho 2 (1913),
ông mất tại Ueno, chấm dứt một thời một huyền thoại về ḍng họ
Tokugawa).
Lúc đó Yamanashi gọi là xứ
Kai (甲斐国, Kai no kuni). Trên lá cờ của ông khi ra trận có 4 chữ
Fūrin Kazan (風林火山). Dưới trướng ông có 24 danh tướng, một trong
những danh tướng đó là Yamamoto Kansuke, đă được NHK đưa lên Kinga
Drama, "風林火山", mà tôi được coi trên TV của vùng San Francisco Bay
Area mấy năm trước.

山梨国立大学
(h́nh từ Internet)
Trở lại trên đường đến
trường, tôi thích thú với cảnh đẹp có vẽ lăng mạng với tuyết trắng ở
đây. Tôi nh́n về phía tây, thấy Fuji-san với tuyết phủ trắng trên
đỉnh thật đẹp. Tôi vào gakusei-ka, tự giới thiệu và cần chỉ đường về
geshuku nơi mà họ đă gởi thơ cho tôi biết và tôi đă gởi tiền đặt cọc.
Gakusei –ka sốt sắng, ông kakaricho nói là geshuku ở gần trường nên
ông đi với tôi. Đúng như ông nói, đi bộ có 5-7 phút đă tới. Ông dẫn
tôi giới thiệu với okasan của ông chủ v́ ông chủ đi làm. Cả bà và
ông dẫn tôi lên pḥng và đưa ch́a khóa pḥng cho tôi. V́ đồ đạc chưa
tới và c̣n tới 2-3 tuần nữa mới nhập học nên tôi quyết định đi Tokyo
lên ở nhà Lâm Văn Hải. Xe điện chạy qua những vườn nho. Lần đâu tiên
tôi mới thấy cây nho (budo-en, 勝沼の葡萄園) ở Katsunuma, nằm trên những
dàn cây đóng chạy dài thẳng tấp dọc theo đường rầy xe điện. Đây là
wine country của Nhật, thảo nào rượu wine của Yamanashi rất nổi
tiếng. Tháng ba, những vườn cây momo nở hoa thật đẹp. Phía xa là
Fuji-san và dăy minami Alps với tuyết phủ trắng.

(h́nh từ
Internet)

(h́nh từ Internet)
Trong
thời gian đi học ở Yamanashi, tôi thường lên Tokyo đi làm hè dokata
ở Takadanobaba. Sau 75, có một thời gian ngắn tôi bỏ học đi làm đủ
nghề và sau đó trở lại đi học để hoàn tất master. Mùa hè 75, t́nh cờ
tôi đi rửa chén ở một nhà hàng sushi ở Shimbashi, tôi làm chung với
thầy Thích Chơn Thành. Măi đến mùa thu năm 2006 tôi mới gặp lại thầy
nhân bữa "Hát Cho Mùa Thu" do một số anh chị em exyu Nam Cali tổ
chức. Xúc cảm cho cuộc gặp gỡ 30 năm sau, tôi có làm một bài thơ :
Những Con Đường Cũ
Vào mùa xuân năm đó.
có những người bỏ đi,
và có những người ở lại.
Thầy và tôi,
hai kẻ lạc lơng trong chiều Đông Kinh,
với sắc đèn néon,
nhộn nhịp,
phố phường đầy người qua lại,
sao trong ḷng băng giá, buồn tênh.
Shimbashi,
dấu chân xưa của những buổi chiều,
những buổi chiều cô đơn buồn tủi.
Hai thầy tṛ thui thủi,
trong một tiệm sushi,
rữa từng ly bia,
Kirin, Sapporo,
mà người khách dừng chân uống vội.
Bưng ra,
từng dĩa sushi mang sắc màu vương giả:
taihen omachi itashimashita.
Cám ơn thầy,
ở nơi đây tôi t́m thấy ở thầy,
một sức sống vào ngày mai mănh liệt.
Cuộc đời vẫn trôi đi trong tháng ngày oi ả,
như con tàu qua lại ở nhà ga.
Và khi heo mai nhè nhẹ thổi trên cành,
tôi trở lại đời sinh viên nghèo khó
Gặp lại thầy nơi đây,
giữa những người bạn cũ, giữa mùa thu.
H́nh ảnh Shimbashi,
bỗng đâu lại hiện về,
trong những ngày khốn khó,
thầy đă thắp cho tôi,
những ngọn lửa cuối đường
những hy vọng vương lên
hành trang cho cuộc đời,
Shimbashi,
vẫn con tàu Keihin Tokuku- sen nga`y qua lại,
để nhớ về con phố cũ đường xưa.
Thung Lũng Hoa Vàng
Mùa Thu 2006

Nhà Ga Shimbashi, Tokyo.
(h́nh từ Internet)
Tháng
hai trước khi tốt nghiệp có hăng design ở Shinjuku Sumitomo building
đến campus, interview và sau đó mướn tôi làm về design.
Tôi
làm ở đó được hai năm và sau đó qua Mỹ đoàn tụ với gia đ́nh. Thế là
tôi ở Nhật qua bốn đời thủ tướng : Sato Eisaku, Tanaka Kakuei, Miki
Takeo và Fukuda Takeo.
Nh́n
lại quăng đường đời đi qua, trong ḷng không khỏi ngậm ngùi. Những
biến động của thời cuộc, những nổi trôi của đất nước đă gắn liền với
cuộc sống của chúng ta. Ex-ryu đă tung cánh trên khắp nẻo đường thế
giới : từ Mỹ, qua Canada, đến Pháp, Đức, Úc và Nhật. Nhật Bản, nơi
chúng ta đă trải dài lứa tuổi thanh xuân, nơi chúng ta trưởng thành,
và là nơi đă cho chúng ta những kiến thức như ngày hôm nay. Nhật
cũng là nơi mà tôi c̣n có những vị thầy khả kính, những người bạn
cùng pḥng nghiên cứu lúc nào cũng chào đón tôi trong t́nh thương
của thầy tṛ, của bạn bè thân thương mỗi khi tôi có dịp shukucho qua
Nhật. Xin được đốt nén hương để tưởng niệm những vị thầy khả kính đă
qua đời như Kagawa –sensei (người coi chúng tôi như con), Sekiguchi
-sensei (Danh Dự Giáo Thụ và cũng là Gakucho của Himeji Kodai),
Furuya-sensei (Danh Dự Giáo Thụ và Gakucho của Yamanashi Daigaku),
Komatsu-sensei (Shido-sensei ở Himeji Kodai), Fujisawa-sensei (shido-sensei
ở Yamanashi Daigaku). Cũng cám ơn nước Mỹ đă mở rộng ṿng tay đón
nhận exryu và đồng bào tỵ nạn Việt Nam của chúng ta.
Thung
Lũng Hoa Vàng
Mùa Đông, Tháng Hai 2010
PS: Mời click vào đây để
nghe lại bản nhạc "
Yesterday one
more " với nhiều kỷ niệm
.......................
*
H́nh của : VietBao.vn
** H́nh của : Nhi Bui |
|