|
NHỮNG
Ý
TƯỞNG
KHÔNG
HỢP
THỜI
VỀ
VĂN
HÓA
VÀ
CÁCH
MẠNG
MAXIM
GORKI
Để kỷ niệm sinh nhật thứ 140 của Ông
(1868-2008)
NGUYỄN XUÂN XANH
|
|

|
Dân tộc này phải còn nổ lực rất nhiều đế đạt đến ý
thức về bản sắc và nhân phẩm của nó. Dân tộc này còn phải được trui
rèn trong ngọn lữa cháy không dứt của văn hóa, tinh thần nô lệ đã hằn
sâu trong nó phải bị tẩy sạch đi. MAXIM GORKI Người đầu bếp
này là viên hạ sĩ quan của đội cận vệ được giải ngũ, Michail Antonovič
Smuryj, một con người với sức mạnh thể lực tuyệt vời, vạm vỡ nhưng
cũng rất uyên bác; ông ta đánh thức sở thích đọc sách của tôi. Cho tới
thời điểm đó, tôi thù ghét sách vỡ và tất cả những gì in ấn, nhưng
bằng phạt đánh đòn và lòng thương yêu, người thầy đã buộc tôi phải
hiểu được ý nghĩa lớn lao của sách, và yêu nó. Cuốn sách đầu tiên mà
tôi say mê, đó là Huyền thoại về người lính đã cứu Peter Đại đế như
thế nào. Tại nhà của Smuryj có cả một cái rương chứa đầy phần lớn
những tập sách nhỏ được đóng bìa da. Đấy là một thư viện lạ lùng của
thế giới. Ở đây Eckhartshausen nằm bên cạnh Nekrasov, Anne Radcliffe
bên cạnh người ‘đương thời’, ở đây có Iskra (tia lửa), năm thứ 64, có
Stein des Glaubens (Hòn đá của lòng tin), và những cuốn sách của ngôn
ngữ Ukraina.
Từ giờ phút đó trở đi của cuộc đời tôi, tôi bắt đầu đọc tất cả
những gì rơi vào tay tôi; với 10 tuổi tôi bắt đầu viết nhật ký, để ghi
lại tất cả các ấn tượng mà tôi đã thu nhặt được trong đời và từ sách
vỡ.
Từ một đoạn văn tự thuật của Gorki 1926
|
|
Lời nói đầu
Trong bài này tôi không có ý định nói về cuộc đời của Gorki,
điều này sẽ vượt khỏi khuôn khổ này, mà chỉ muốn trình bày một số ý
tưởng của ông trong những bài viết của ông dưới cái tên do chính ông
đặt ra Những ý tưởng không hợp thời được đăng trên nhật báo
Novaja Žizn (Đời Mới) trong những năm 1917-1918 trong bối
cảnh của cách mạng tháng mười 1917. Không nghi ngờ, Gorki là người
ủng hộ một cuộc cách mạng triệt để để giải phóng nước Nga khỏi ách
thống trị của chế độ quân chủ đã kiềm hãm sự phát triển của xã hội
hằng nhiều thế kỷ, đã làm cho đất nước què quặt về khoa học, văn hóa
và nghệ thuật. Ông là “con chim báo bão” của một cuộc cách
mạng không tránh khỏi tại đất nước cùng khổ dưới ách thống trị độc
tài của nền quân chủ chuyên chính bóp nghẹt sự phát triển của đất
nước. Vở kịch “Dưới đáy” (Nadne) của ông năm 1902 được diễn
tại nước Nga vài trăm lần và chiếm lĩnh các sân khấu tây Âu, làm cho
ông nhanh chóng nổi tiếng thế giới. Vở kịch gợi ra rằng chỉ có một
cuộc thay đổi xã hội triệt để mới đem lại khúc quanh tốt hơn cho
nước Nga. Sân khấu đối với ông đã thay đổi từ trường học đạo đức
(Schiller) sang sân khấu của cách mạng.
Không nghi ngờ, Gorki ủng hộ cách mạng tháng Mười, ủng hộ
Lênin. Nhưng sự ủng hộ đó không diễn ra theo đường thẳng, hay một
chiều ngay từ buổi đầu. Lịch sử còn nhiều dấu hỏi. Những bài viết
Những ý tưởng không hợp thời cho thấy hơn bao giờ hết những suy
nghĩ rất độc lập của Gorki, rất ‘Gorki’ và vô cùng sâu sắc về những
vấn đề văn hóa, xã hội, lịch sử của nước Nga, sự am hiểu của ông về
dân tộc Nga và những con người của nó đến tận ‘tâm can’ của dân tộc
đau khổ này. Những bài viết Những ý tưởng không hợp thời mãi
đến khi chế độ Sô-viết sụp đổ mới được phép phổ biến chính thức tại
Nga.
Khi Những ý tưởng không hợp thời (về văn hóa và cách
mạng) được xuất bản ở CHLB Đức
năm 1974, thì một bình luận gia của một tờ báo ở Đức viết “Tôi đã
cầm lên tay cuốn sách trong mấy tuần qua có lẽ đến hai chục, nếu
không phải ba chục lần và đọc ngấu nghiến. Mỗi lần nó đều cháy bỏng
trên tay tôi. Một nhà báo, một chiến sĩ tuyệt vời! Đó là những câu
nói về người Nga, gây lên ấn tượng rằng một quốc gia đang tiến lên
bàn xưng tội. …”
Một tờ báo khác tên tuổi của Thụy Sĩ (Neue Zürcher Zeitung)
cũng đã bình luận về Những ý tưởng không hợp thời: “Điều
làm say mê của sự tập hợp lại các lời phê bình của Gorki nằm ở chỗ,
đây một nhà nhân bản và xã hội chủ nghĩa, mặc cho sự đổi thay của
bối cảnh chính trị, đã không biết sợ hãi để cho tiếng nói của lương
tâm vang lên.”
Cuộc đời của Gorki trong chừng mực nào không thoát khỏi hẳn di
sản nặng nề mà chế độ chuyên chính đã để lại. Ông là một con người
rất mạnh mẽ nhưng cũng không thoát khỏi hẳn hậu quả của di sản đó.
Nhận định sau đây của ông dường như cũng đúng phần nào cho chính bản
thân ông: “Người ta không yêu mến những con người mạnh mẽ trên
đất nước Nga, cho nên những con người đó không sống lâu được trong
đất nước chúng ta. Cuộc đời không yêu anh ta, văn chương cũng thế;
nó tìm mọi cách có thể được để làm liên lụy ý chí mạnh mẽ của anh ta
vào những mâu thuẩn, đẩy nó vào cái xó đen tối của ngõ cục, hạ thấp
nó xuống ngang bằng các điều kiện sống ô nhục để rồi hạ thủ nó.
Người ta không đi tìm và yêu mến người chiến đấu, người kiến trúc
của những hình thái mới của cuộc sống, mà yêu người ngoan ngoãn để
nhận vào mình những tội nhẹ đáng ghét của những người tầm thường.”
Vâng, ông không thoát khỏi hẵn những mâu thuẩn và ngõ cục
của xã hội trong thời đại ông, và luôn chực bị hạ thủ theo
nghĩa này hay nghĩa khác, như những ai đã biết về cuộc đời ông.
Maxim Gorki sinh ra năm 1868 tại Nižnij Novgorod, với tên thật
là Alexej Maximovitsch Peschkov, và mất năm 1936 tại Moscow, hưởng
thọ 68 tuổi. Ông là con trai của một người bố thợ mộc, lớn lên hầu
như không được học hành, sau đó làm công nhân, và làm một cuộc hành
trình xuyên nước Nga. Là con người của tự học từ trường đời: “Người
thầy đầu tiên của tôi một người lính – đầu bếp Sumuryj; người thầy
thứ hai là luật sư Lanin, và người thứ ba là Korolenko (văn hào)”.
Ông bắt đầu sự nghiệp văn học với một tác phẩm đầu tiên năm 1882 (Makar
Tuschdra). Vỡ kịch “Dưới đáy” năm 1902 qua đêm đã đem lại ông
tên tuổi thế giới. Năm 1905 ông quen với Lênin. Sau chuyến đi Mỹ năm
1906 ông sống nhiều năm tại châu Âu, trở về Nga 1913. Trong những
năm 1919 và 1921 ông ủng hộ những người Bolschevik. Năm 1921 ông lại
ra nước ngoài. 1928 trở lại Nga, 1932 trở thành chủ tịch đầu tiên
của Hội văn học Sô-viết vừa được thành lập. Cái chết của ông còn
nhiều bí ẩn.
Từ 1917 đến tháng 6, 1918 Gorki viết một cách hệ thống cho
công chúng: diễn văn, bình luận, kêu gọi, phát thảo, xã luận. Ông
ủng hộ một cuộc cách mạng nhưng nghi ngờ chiến thắng của giai cấp vô
sản, xác định mối quan hệ giữa trí thức và cách mạng, viết lời kêu
gọi cho các dân tộc mỏi mệt vì chiến tranh cho năm 1918, và đóng vai
trò người quan sát không thiên vị của lịch sử.
Để hiểu Gorki, thật là một thiếu sót lớn nếu bỏ qua Những ý
tưởng không hợp thời, và sẽ không hiểu được chân thật Gorki.
Chúng tôi muốn kỷ niệm sinh nhật thứ 140 của ông bằng sự giới
thiệu Những ý tưởng không hợp thời qua một số chọn lọc. Trong
chừng mực nào, đó cũng chính là những ý tưởng không hợp thời về
những vấn đề của Việt Nam. Chúng ta đọc Những ý tưởng không hợp
thời mà không khỏi không liên tưởng đến những vấn đề vẫn còn rất
thời sự của Việt Nam đang tiềm ẩn xung quanh dai dứt. Khỏa hết đi
những mắc mứu đau khổ của lịch sử, chúng ta sẽ thấy Những ý tưởng
không hợp thời của Gorky sẽ tỏa sáng trên những miền đất tăm tối
của lịch sử, và một ‘góc khuất’ của Gorki được sáng ra, giúp ta nhìn
thấy những vấn đề dai dẵng của cá nhân và xã hội quanh ta đã được
tích tụ thành những lớp địa chất lịch sử tối tăm từ bao đời, và cũng
gợi ra một cuộc thay đổi toàn diện.
Cám ơn Gorki.
Nguyễn
Xuân Xanh
Chọn lọc và chuyển ngữ
TP Hồ Chí Minh, cuối 2008
THƯ GỬI BẠN ĐỌC
MAXIM GORKI
Dân tộc Nga đã kết hôn với Tự do. Chúng ta hãy tin rằng từ
mối liên kết này những con người mới mạnh mẽ sẽ hình thành trên đất
nước đã bị đọa đày về tinh thần và thể xác của chúng ta.
Chúng ta hãy tin vững chắc rằng các sức mạnh của lý trí và
của ý chí, những cái đã bị đè nén và dập tắt qua hằng trăm năm áp
bức, sẽ bùng cháy như ngọn lữa sáng trong con người Nga.
Chúng ta không được phép quên rằng tất cả chúng ta là những
con người của ngày hôm qua, và tác phẩm vĩ đại của sự tái sinh của
đất nước chính là nằm trong tay của những con người, do những ấn
tượng nặng nề của quá khứ, đã bị giáo dục trong tinh thần đố kỵ lẫn
nhau, không tôn trọng người đồng loại và trong tinh thần của chủ
nghĩa vị kỷ đáng ghét.
Chúng ta đã được dạy dỗ lớn lên trong một không khí của
“thế giới ngầm”. Điều mà chúng ta gọi là hoạt động hợp pháp xét theo
bản chất của nó thì hoặc là sự tự hào vào khoảng chân không, hay là
tính bè phái chính trị thiển cận của các phe nhóm hay cá nhân; một
cuộc chiến tranh huynh đệ giữa con người với nhau mà ở đó cảm giác
về nhân phẩm đã bị biến chất thành sự háo danh bệnh hoạn.
Chúng ta đã sống giữa những sự đểu giả đầu độc tâm hồn từ
chế độ cũ, giữa sự vô chính phủ mà nó đã sinh ra; chúng ta đã thấy
sức mạnh quyền uy của những kẻ phiêu lưu là vô độ như thế nào, những
kẻ đã cai trị chúng ta; cho nên chúng ta bị tiêm nhiễm với tất cả
những tính chất, tất cả các thói quen và cách hành xử của những con
người đã khinh bỉ và nhạo báng chúng ta.
Chẳng lúc nào và bằng cách gì chúng ta có thể phát triển
trong bản thân chúng ta cảm giác của trách nhiệm cá nhân cho cái tai
họa của đất nước, cho cuộc đời nhục nhã; chúng ta đã bị tiêm nhiễm
chất độc từ xác chết của nền quân chủ dẫy chết.
[…]
Bẩn thỉu, hỗn độn và độc hại đủ loại vẫn còn đầy đủ đó, tất
cả không dễ biến mất nhanh chóng đâu; trật tự cũ tuy bị xóa sổ về
thể xác, nhưng về tinh thần nó vẫn còn sống tiếp tục xung quanh ta,
trong chính chúng ta. Con rắn Hydra nhiều đầu của Thất học, Man dã,
Ngu dốt, Đểu cán và Thô bạo đã không bị giết chết; nó đã dấu mình
nhưng không mất đi khả năng nuốt chửng những linh hồn sống.
Người ta không được phép quên rằng chúng ta đang sống trong
một cánh rừng của một khối người tính đến hàng triệu, những người
dốt nát về chính trị và không được giáo dục về xã hội. Những người
không biết họ muốn gì chính là những người nguy hiểm về xã hội và
chính trị. Khối dân cư này sẽ không bị phân hóa nhanh chóng theo
giai cấp và theo những quyền lợi được ý thức rõ ràng, họ sẽ không tự
tổ chức được nhanh chóng và có năng lực cho cuộc tranh đấu xã hội
một cách có ý thức và sáng tạo. Bao lâu họ không được tổ chức, thì
họ sẽ nuôi dưỡng các con quái vật của quá khứ bằng nước cốt dơ bẩn
và không lành mạnh của họ, những cái quái thai của chế độ cảnh sát
trị mà người dân trung bình đã quen thuộc...
[…]
Chúng ta chứng kiến một khoảnh khắc cực kỳ khó khăn, buộc
đòi hỏi phải động viên tất các lực lượng của chúng ta, lao động kiên
trì và sự thận trọng cao nhất trong quyết định. Chúng ta không được
quên những lầm lỗi có hậu quả nặng nề của 1905 và 1906; sự thanh
toán dã man theo sau những lầm lỗi đó đã làm chúng ta kiệt quệ một
thập niên, và đánh mất đi sự lãnh đạo. Trong thời gian này chúng ta
đã suy sụp về chính trị và xã hội; cuộc chiến tranh hủy diệt hàng
trăm nghìn con người trẻ tuổi đã làm tiêu hao sức mạnh của chúng ta
nhiều hơn nữa, bởi vì nó phá hoại đời sống kinh tế của đất nước đến
tận gốc rễ.
Thế hệ đầu tiên nhận lãnh trật tự của cuộc sống mới đã
đương nhiên hưởng được Tự do một cách ‘bất chiến tự nhiên thành’;
thế hệ này hầu như không biết gì về những nổ lực kinh khủng của
những con người đã phá hủy từng mãng thành trì đen tối của chủ nghĩa
quân chủ Nga. Người dân thường không biết gì về hoạt động gậm nhấm
khủng khiếp này, vì lợi ích cho anh ta; công việc khổ sai này không
hề đi vào ý thức của người dân nào của khoảng 1000 quận huyện của
nước Nga.

Bút
tích của Maxim Gorki 1909
Chúng ta có chủ đích, và có nghĩa vụ xây dựng cuộc sống mới
trên những nền tảng mới, những cái mà chúng ta hằng mơ ước. Chúng ta
hiểu biết những nền tảng này bằng lý trí, chúng đã được chúng ta
biết về mặt lý thuyết, nhưng không tồn tại trong bản năng chúng ta,
và chúng ta sẽ gặp vô vàn khó khăn trong việc đưa chúng vào cuộc
sống, vào lối sống Nga cũ kỹ. Chúng ta đặc biệt gặp khó khăn, bởi vì
chúng ta, tôi nhắc lại, là một dân tộc hoàn toàn không được giáo dục
về mặt xã hội, và cả giai cấp tư sản của chúng ta, giai cấp đang nắm
quyền hiện tại, về mặt này cũng ít được giáo dục luôn. Người ta phải
nhớ lại rằng giai cấp tư sản không tiếp quản một nhà nước, mà là sự
đổ nát của một nhà nước; từ những đống gạch vụng hỗn mang này giai
cấp tư sản chiếm lãnh quyền trong những điều kiện còn khó khăn vượt
bậc so với những điều kiện của năm 1905 và 1906. Nó có nhận thức
được hay không rằng công việc của nó chỉ có thể thành công trong sự
liên kết với dân chủ, và sự nổ lực nhằm củng cố các vị trí vay mượn
từ chế độ cũ là hoàn toàn vô nghĩa? Chắc chắn giai cấp tư sản sẽ
quay sang hữu một ít, nhưng với cái đó người ta không nên vội vã,
nếu người ta không muốn lập lại lầm lỗi đen tối của 1906.
Nền dân chủ cách mạng bản thân nó phải thấu hiểu và thực
hiện những nhiệm vụ nhà nước phổ thông; nó phải tham gia tích cực
vào tổ chức các lực lượng kinh tế của đất nước, vào sự phát triển
năng lực sáng tạo, và việc bảo vệ tự do của nước Nga chống lại các
cuộc tấn công từ bên ngoài và bên trong.
Chỉ mới có một chiến thắng duy nhất – đó là sự chiếm lĩnh
quyền lực chính trị; nhiều cuộc thắng lợi khó khăn hơn nhiều còn cần
phải được giành lấy, nhưng trên hết chúng ta có nghĩa vụ phải chiến
thắng các bệnh ảo tưởng của chính mình.
Chúng ta mới lật đổ chế độ cũ; chúng ta đã thành công không
phải vì chúng ta tượng trưng cho một sức mạnh, mà vì chế độ đã để
cho chúng ta mục nát, và chính bản thân nó cũng mục nát tận gốc rễ,
và đã sụp đổ ngay trong cú đẩy hợp lực lại đầu tiên của chúng ta.
Chỉ nội sự thật rằng chúng ta từ lâu đã không quyết định được một cú
đẩy như thế, mặc dù chúng ta chứng kiến đất nước suy sụp thế nào,
chúng ta cảm nhận được người ta đã sử dụng bạo lực đối với chúng ta
thế nào, sự do dự lâu ngày đó đã minh chứng sự yếu đuối của chúng ta.
Nhiệm vụ của giai đoạn hiện tại là củng cố lâu dài các
thành quả chúng ta đã dành được; nhưng điều này chỉ có thể đạt được
bằng sự đoàn kết hợp lý tất cả các lực lượng có năng lực lao động
cho sự đổi mới về tinh thần, kinh tế và chính trị của nước Nga.
Sự nhận thức một cách can đảm những chỗ yếu của mình là sự
thúc đẩy tốt nhất cho một ý chí lành mạnh và cho cách tự đánh giá
đúng đắn chính mình.
Các năm chiến tranh đã cho chúng ta thấy rõ một cách khủng
khiếp chúng ta bệnh hoạn như thế nào về văn hóa, yếu kém ra sao về
mặt tổ chức. Sự tổ chức các lực lượng sáng tạo của đất nước là quan
trọng cho chúng ta như bánh mì và không khí.
Chúng ta đã khao khát tự do cao độ. Với thái độ thiên về
chủ nghĩa vô chính phủ, chúng ta sẽ dễ dàng đánh mất tự do – khả
năng đó là hiện thực.
Không ít nguy cơ đang đe dọa chúng ta. Chúng ta chỉ có thể
đối phó và khuất phục chúng nếu chúng ta lao động âm thầm và đoàn
kết cho sự củng cố trật tự của cuộc sống mới.
Sức mạnh sáng tạo và quý báu nhất chính là con người; con
người càng phát triển về tinh thần, và càng được trang bị về kiến
thức kỹ thuật tốt hơn, lao động của nó càng vững chắc và quý báu hơn,
và chính nó càng trở thành có văn hóa và có tính cách thời đại hơn.
Điều đó chúng ta chưa hiểu; giai cấp tư sản không quan tâm
đúng mức đến việc tăng trưởng năng suất lao động; con người, đối với
họ vẫn giống như con ngựa, là nguồn sức kéo thô thiển.
Quyền lợi của tất cả con người có một cơ sở chung mà trên
đó họ đoàn kết lại mặc cho sự đối kháng giai cấp không thể loại bỏ:
sự phát triển và tích lũy tri thức. Tri thức là một vũ khí cần thiết
trong cuộc đấu tranh giữa các giai cấp đang ngự trị trong trật tự
thế giới hiện hành. Cuộc chiến đấu này là một thời khắc bi thảm của
giai đoạn lịch sử này đã có sẵn, một sức mạnh tất yếu trong sự phát
triển văn hóa, - và nó không thể tránh khỏi được.
Tri thức là sức mạnh cuối cùng sẽ phải đưa con người đến
chiến thắng các sức mạnh thô thiển của thiên nhiên, và sẽ tạo điều
kiện để chế ngự các sức mạnh này theo các lợi ích của con người và
của nhân loại.
Tri thức phải được đại chúng hóa, người ta phải làm cho nó
trở thành công việc của cả dân tộc; tri thức chính là nguồn gốc của
lao động hiệu quả, là cơ sở của văn hóa. Và chỉ có tri thức mới làm
cho chúng có năng lực tự nhận thức, giúp chúng ta đánh giá đúng sức
lực và nhiệm vụ của chúng ta, và chỉ ra cho chúng ta con đường rộng
lớn đến những thắng lợi tương lai.
Lao động âm thầm là lao động hiệu quả nhất.
Sức mạnh, cái đã củng cố tôi trong suốt cuộc đời và vẫn còn luôn
củng cố như thế trên quả đất này, đã và vẫn còn là niềm tin của tôi
vào lý tính của con người. Cho đến hôm nay, cuộc cách mạng Nga
trong mắt tôi là một chuỗi những diễn biến hân hoan và sáng sủa của
lý tính. Một dấu hiệu mạnh mẽ đặc biệt của lý tính thầm lặng là ngày
23 tháng Ba, ngày của những mai táng tại Marsfeld.
Lần đầu tiên và gần như trực tiếp tôi cảm nhận được tại
cuộc diễu hành này của cả hằng trăm ngàn người: Vâng, nhân dân Nga
đã hoàn tất cuộc cách mạng, những người chết đã sống lại, và nhân
dân bây giờ hướng về tác phẩm cao cả của hòa bình – đó là cuộc xây
dựng các hình thức mới của cuộc sống tự do hơn.
Thật là hạnh phúc biết bao được chứng kiến ngày này!
Và từ trái tim mình tôi cầu chúc cho nhân dân Nga rằng nó luôn
luôn tiếp tục đi như thế, một cách thầm lặng và mạnh mẽ, tiến lên và
cao hơn, cho đến cuộc Đại lễ của Tự do của toàn thế giới, của Bình
đẳng và Huynh đệ của tất cả con người!
»»¨»»
Nếu chúng ta nhìn tổng quát về hoạt động toàn diện và nhiều
mặt của chế độ quân chủ, thì ý nghĩa của hoạt động này sẽ hiện rõ ra
trước chúng ta, rằng bộ máy quan liêu làm tất cả mọi thứ để ngăn
chặn sự phát triển về chất lượng và số lượng của giới trí thức.
Chế độ cũ đã bất lực, nhưng bản năng sống còn đã chỉ ra cho nó
rất đúng, rằng kẻ thù nguy hiểm nhất của nó chính là bộ óc con người,
và do đó nó tìm mọi cách có được để ngăn cản sự tăng trưởng của các
lực lượng trí thức của đất nước, và làm cho nó què quặt đi. Trong
hoạt động tội ác này, (một) nhà thờ đã giúp sức nó một cách hiệu quả,
cái đã bị bộ máy quan lại của nó nô dịch, và một xã hội đã bị lung
lay về tâm lý cũng tiếp tay cho nó không kém, một xã hội trong những
năm qua đã hoàn toàn để nó cưỡng bức.
Chiến tranh đã phơi bày ra một cách khủng khiếp những hệ quả
của tình trạng bệnh hoạn tinh thần lâu đời này, bởi vì đứng trước
một kẻ thù có trình độ văn hóa cao và được tổ chức tuyệt hảo, nước
Nga đã tỏ ra yếu ớt và bất lực.[…]
Trong một đất nước được thiên nhiên ưu đãi với tất cả tài
nguyên và tài năng thì, như hệ quả của sự bất lực về tinh thần của
nó, tình trạng vô chính phủ trên tất cả các lãnh vực đã bộc lộ rõ ra.
Công nghệ và kỹ thuật ở trong trạng thái phôi thai, và không có mối
liên hệ với khoa học; khoa học tự nó nằm ở đâu đó trong những sân
sau, trong bóng tối, và dưới sự giám sát thù địch của một quan chức;
nghệ thuật, do bị giới hạn và biến dạng bởi kiểm duyệt, đã tách ra
khỏi cái chung để đánh mất mình trên đường đi tìm các dạng thể mới
và một nội dung sống động, thúc đẩy và nâng cao nhân phẩm.
Khắp nơi, trong nội tâm của con người cũng như xung quanh nó,
chúng ta thấy sự tàn phá, đổ nát, hỗn loạn và những dấu vết của một
trận đánh kéo dài, như trận đánh chống lại Chan Mamaj.
Di sản mà chế độ quân chủ đã để lại là khủng khiếp.
Dù chúng ta muốn nói một lời an ủi thế nào đi nữa, chân lý của
thực tại không thể cho phép một sự an ủi, và người ta phải nói với
tất cả sự thẳng thắng: Chế độ quân chủ, trong nổ lực bóp nghẹt nước
Nga về tinh thần, đã đạt đến sự thành công gần như tuyệt hảo.
Cách mạng đã đánh đổ nền quân chủ, điều đó đúng! Nhưng điều đó
có lẽ cũng có nghĩa rằng cuộc cách mạng đã mang chứng bệnh ngoài da
vào bên trong bên trong nội tạng. Người ta không được phép tin rằng
cách mạng đã chữa trị và làm phong phú cho nước Nga về mặt tinh thần.
Một câu tục ngữ cổ nhưng không phải dỡ nói rằng: “Căn bệnh đến bằng
một lạng, nhưng nó đi bằng một cả một cục chì”. Quá trình mở mang
trí thức của đất nước diễn ra vô cùng chậm chạp; nhưng chính vì thế
lại càng cần thiết hơn bao giờ hết cho chúng ta, và cuộc cách mạng
bây giờ, thông qua những lực lượng lãnh đạo của nó, nhất định phải
tự nhận lãnh tránh nhiệm lập ra những tổ chức và định chế lo cho
việc phát triển các lực lượng trí thức của đất nước một cách kiên
trì và tức khắc.
Lực lượng trí thức là lực lượng sản xuất quan trọng nhất về
mặt chất lượng. Sự ưu tư về một sự tăng trưởng nhanh như có thể phải
là sự ưu tư nóng bỏng của tất cả mọi giai cấp.
Chúng ta cùng đảm đương công việc của một sự phát triển toàn
diện về văn hóa; cách mạng đã đánh đổ những trở ngại trên con đường
dẫn đến một sự sáng tạo tự do. Và giờ đây chính ý chí của chúng ta
phải chứng minh tài năng và thiên phú cho chính mình và thế giới
thấy. Sự cứu rỗi chúng ta là lao động, vâng chúng ta hãy tìm thấy
trong đó một niềm vui.
“Không phải lời nói mà là hành động đã tạo ra thế giới”, đó là
một sự diễn tả rất hay, và cũng là một chân lý không thể nghi ngờ
được.
Cách mạng và Văn hóa
18.4.1917
»»¨»»
Cấu trúc mới của đời sống chính trị đòi hỏi ở chúng ta một cấu
trúc mới của tâm hồn.
Trong hai tháng dĩ nhiên người ta không thay đổi được hoàn
toàn, nhưng chúng ta càng rũ sạch mình khỏi bụi bẩn của quá khứ, thì
sức khỏe tinh thần chúng ta càng tốt hơn, lao động sáng tạo ra các
hình thức mới của sự tồn tại xã hội càng có năng suất cao hơn.
Chúng ta sống trong một cơn bảo của các xúc cảm chính trị,
trong sự hỗn độn của một cuộc chiến đấu giành quyền lực; cuộc chiến
đấu này đánh thức bên cạnh các tình cảm tốt đẹp còn cả những bản
năng đen tối. Điều đó là tự nhiên, nhưng lại đe dọa bẻ cong đi tính
cách của chúng ta, và làm cho nó phát triển một cách giả tạo theo
một hướng nhất định. Chính trị là miếng đất trên đó các loại cây gai
của sự thù địch độc hại, các nghi kỵ xấu xa, các sự lừa dối trơ trẻn,
vu khống, các thói háo danh bệnh hoạn và sự khinh thường nhân cách
phát triển nhanh chóng và um tùm. Nếu đếm hết những cái xấu chứa
trong con người – thì tất cả những thứ đó đều phát triển đặc biệt
rất nhanh trên miếng đất của cuộc đấu tranh chính trị. […]
Sự thù địch giữa con người là một hiện tượng không bình thường;
những tình cảm tốt đẹp nhất của chúng ta, những ý tưởng lớn nhất của
chúng ta được hướng đến việc loại bỏ sự thù địch xã hội trên thế
giới. Những tình cảm và ý tưởng này tôi sẽ gọi là “chủ nghĩa lý
tưởng xã hội”, bởi vì sức mạnh của nó cho phép chúng ta khuất phục
được tất cả những cái kinh tởm trong cuộc sống, và hướng về một cách
dẽo dai và bền bỉ về sự công bằng và cái đẹp của cuộc sống, hướng về
tự do. Trên con đường này chúng ta đã sinh ra các anh hùng, những
người dám chết vì tự do, những con người đẹp nhất trên trái đất; tất
cả những cái đẹp trong ta sẽ tuôn ra từ sự phấn đấu này. Những nhân
tố tốt đẹp nhất của tâm hồn chúng ta sẽ được đánh thức một cách
thành công nhất, mạnh mẽ nhất bằng sức mạnh của nghệ thuật. Khoa học
là lý trí của thế giới, nghệ thuật là linh hồn. Chính trị và tôn
giáo chia con người thành các nhóm lẻ; nghệ thuật khám phá cái nhân
tính chung trong con người, và thống nhất chúng ta lại. Không có gì
uốn nắn tâm hồn con người một cách dịu dàng và nhanh chóng như thế,
như là ảnh hưởng của nghệ thuật và khoa học.
Quyền thù địch của giai cấp vô sản đối với các giai cấp khác
có thể được viện giải. Nhưng đồng thời chính giai cấp vô sản mang ý
tưởng vĩ đại và đem lại hạnh phúc của một nên văn hóa mới, ý tưởng
của một tính huynh đệ phổ quát vào cuộc sống chúng ta.
Vì thế, chính giai cấp vô sản phải từ bỏ các phương pháp cũ
trong cách đối xử con người bởi chúng không thích hợp.
Chính giai cấp vô sản phải phấn đấu bền bỉ mở rộng và làm cho
thêm thâm sâu tâm hồn, cái khung chứa của tồn tại chúng ta. Đối với
giai cấp vô sản, những tài năng của nghệ thuật và khoa học có một
giá trị cao – đối với gian cấp vô sản, những thứ đó không phải là sự
giết chết thời gian nhàn rỗi, mà là những phương tiện để thâm nhập
vào những bí mật của cuộc đời.
Tôi cảm thấy xa lạ khi nhìn thấy giai cấp vô sản, được đại
diện bởi cơ quan thừa hành và tư duy của nó, hội đồng binh sĩ và
công nhân, tỏ ra dững dưng và bàng quang khi các nhà âm nhạc, nghệ
sĩ và diễn viên, và những người khác, những người không thể thiếu
cho tâm hồn của giai cấp vô sản, lại được gửi ra mặt trận như bia đỡ
đạn. Nếu dân tộc chúng ta gửi những con người tài năng nhất của nó
ra chỗ sát sinh, chẳng phải nó làm suy yếu trái tim của nó và rứt đi
những phần thịt tốt nhất ra khỏi cơ thể hay sao?
Có lẽ chỉ để một người Nga tài năng giết chết một người Đức
tài năng về nghệ thuật sao? […]
Hãy suy nghĩ nhân dân đã tốn bao nhiêu công sức để đào tạo nên
những con người tài năng, những người để diễn tả được cảm xúc và ý
tưởng của tâm hồn nó?
Sự sợ hãi trước ý tưởng, đó chính là sự sợ hãi trước hoạt động
tự do của lý tính. Sự sợ hãi này của người dân là chỗ dựa của tòa
nhà mục nát của chế độ quân chủ, chế độ đã gần như thủ tiêu đất nước
chúng ta. […]
20.4.1917
»»¨»»

Maxim
Gorki 1903
Đó là tội ác và đê tiện nếu bây giờ giết chóc lẫn nhau, bởi vì
chúng ta có cái quyền tuyệt vời để tranh cãi nhau trong danh giá, và
quyền để khác nhau về ý kiến trong danh giá. Những ai suy nghĩ khác
hơn sẽ bất lực để cảm nhận và công nhận mình là con người tự do.
Giết chóc và bạo lực là lý lẽ của chế độ chuyên quyền; đó là những
lý lẽ hèn hạ và bất lực, bởi vì họ ức hiếp một ý chí khác; giết một
con người không có nghĩa, và không bao giờ có nghĩa là giết chết đi
một ý tưởng, hay chứng minh được sự không đúng đắn của một ý tưởng,
hay sự sai lệch của một ý kiến.
Cái hạnh phúc lớn của tự do không được phép làm ảm đạm đi bằng
tội ác đối với con người, vì nếu không, chúng ta sẽ đánh chết tự do
bằng chính bàn tay của chúng ta.
Chúng ta phải hiểu, và cuối cùng phải hiểu, rằng kẻ thù khủng
khiếp nhất của tự do và của công lý nằm trong chính chúng ta; đó là
sự ngu muội của chúng ta, sự tàn bạo của chúng ta, và cả cái hỗn độn
của những cảm giác đen tối vô chính phủ đã được nuôi dưỡng bởi sự
đàn áp không chùng tay của chế độ cũ ở mọi thời, bởi sự hung ác vô
liêm sĩ của nó trong tâm hồn chúng ta.
Chúng ta có hiểu được điều đó?
Nếu chúng ta không khả năng hiểu được, chúng ta sẽ không từ bỏ
các hành động bạo lực hung ác nhất chống lại con người, như thế sẽ
không có tự do cho chúng ta. Nếu thế thì tự do chỉ là một ngôn từ mà
chúng ta không có sức mạnh để mang lại cho nó một nội dung cần thiết.
Tôi nói, những kẻ thù chính của chúng ta là ngu dốt và tàn bạo.
Chúng ta có chống lại chúng, có muốn chống lại hay không?
Đó không phải là câu hỏi hoa mỹ, mà một câu hỏi về chiều sâu
và tính đúng sự thật của hiểu biết của chúng ta về các điều kiện mới
của đời sống chính trị, câu hỏi của một sự đánh giá mới của con
người và vai trò của nó trên thế giới.[…]
Và bây giờ, được giải phóng khỏi sự nô lệ bề ngoài, chúng ta
lại tiếp tục sống với những cảm xúc của những người nô lệ.
Một lần nữa: kẻ thù không thương tiếc của chúng ta chính là
quá khứ chúng ta.
Hởi các công dân! Chúng ta không tìm được trong chúng ta sức
mạnh để giải phóng mình ngay lập tức khỏi quá khứ này hay sao, vứt
bỏ đi sự dơ bẩn và quên đi những cái vô liêm sĩ đẫm máu của nó hay
sao? Hãy trưởng thành hơn, hãy ưu tư hơn và cẩn thận hơn trong cách
đối xử với chính chúng ta. Và đó là điều bức thiết!
Về
giết người
23.4.1917
»»¨»»
Tổ quốc sẽ ít bị đe dọa hơn, nếu có nhiều văn hóa hơn.
Rất tiếc dường như chúng ta không đạt đến các quyết định rõ ràng văn
hóa nào là cần thiết cho chúng ta, và loại văn hóa nào chúng ta cần
đến. Trong thời gian đầu của cuộc chiến, khi các nhà triết học
Moscow so sánh Kant và Krupp
rất sâu sắc và hoàn toàn thành thật, thì những quyết định này đối
với chúng ta là không rõ ràng.[…]
Nói thế nào đi nữa, chúng ta đã quan tâm ít ỏi nhất đến sự phát
triển của văn hóa phương Tây – của khoa học thực nghiệm, nghệ thuật
tự do và của một nền công nghiệp hùng mạnh. Và cho nên một cách tự
nhiên, quần chúng của chúng ta không hiểu được ba nền tảng của văn
hóa.[…]
Kể cả các khoa học nhân văn lẫn tự nhiên có thể có một vai trò trọng
đại vào việc nâng cao phẩm chất của các bản năng, nhưng một sự tham
gia của các nhà khoa học vào cuộc sống trong lúc này hãy còn ít.
Tôi chưa biết trong thể loại văn hóa đại chúng có một quyển sách nào
được viết đàng hoàng và thuyết phục nói về tầm quan trọng của vai
trò tích cực của công nghiệp trong quá trình phát triển văn hóa hay
không. Dân tộc Nga cần lắm một quyển sách như thế từ lâu.[…]
Đối với tôi, lời kêu gọi “Tổ quốc bị lâm nguy” là không đáng
sợ hơn lời kêu gọi “Hỡi các công dân! Văn hóa bị lâm nguy!”
9.5.1917
»»¨»»
Tôi biết rằng tương lai của dân tộc là không có ý nghĩa gì đối
với những nhà giáo điều điên rồ: họ xem dân tộc như chất liệu cho
các cuộc thử nghiệm xã hội; tôi biết rằng tất cả những tình cảm và
suy nghĩ, những thứ có thể xé nát trái tim của những người dân chủ
chân thật, lại đều là xa lạ đối với họ.
8.11.1917
»»¨»»
Giới trí thức Nga còn phải nhận lãnh sứ mạng to lớn là chữa
trị dân tộc về mặt tinh thần. Họ có nhiều tự do hơn cho nhiệm vụ này,
và không có nghi ngờ gì họ cùng với phần phát triển nhất của giới
tri thức lao động vô sản hôm nay còn đang chìm đắm và nghẹt thở
trong khối người không được giáo dục sẽ hoạt động cho sự đổi mới
tinh thần của đất nước.
Giới trí thức vô sản và dân chủ có nhiệm vụ đoàn kết tất cả cá
lực lượng trí thức của đất nước trên cơ sở của lao động văn hóa.
Nhưng công việc này chỉ có thể thành công nếu chúng ta từ bỏ chủ
nghĩa bè phái của các đảng phái và hiểu rằng người ta không những
xây dựng nên ‘con người mới’ và chúng ta không phục vụ cho chân lý
nếu chúng ta để các phương pháp đông cứng lại thành giáo điều, mà
chúng ta còn làm tăng lên số các sai lầm nguy hại làm cho lực lượng
chúng ta phân tán đi.[…]
Đất nước chúng ta cần hai cơ quan với những nhiệm vụ khác nhau:
một cái cần báo cáo về công việc của khoa học thuần túy và ứng dụng,
cái kia về công việc văn hóa và giáo dục; các cơ quan này có thể sẽ
rất hữu ích cho việc giáo dục ý tưởng và tình cảm. Chúng ta phải lao
động, các công dân quý mến, chúng ta phải lao động! Chỉ có lao động
mới có thể cứu rỗi chúng ta, không gì khác!
1.5.1918
»»¨»»
Cuộc cách mạng, thoát thai từ một cuộc chiến tranh, chắc chắn
sẽ tỏ ra bất lực khi giai cấp vô sản không đem cả sức lực lao động
vào cuộc xây dựng xã hội, mà chỉ biết nghe lời các người lãnh đạo
của nó, phá hủy đến cùng các cơ sở kỷ thuật của “giai cấp tư sản”
thay vị học hỏi để nắm vững chức năng vận hành của chúng và kiểm tra
lao động như cần thiết.
Cuộc cách mạng sẽ tiêu vong bởi sự kiệt quệ bên trong nội tâm
nếu giai cấp vô sản chỉ biết khép mình vào tính không khoan nhượng
cuồng tín của các ‘ủy viên nhân dân’ và ngày càng xa dần dân chủ. Ý
thức hệ của giai cấp vô sản không phải là ý thức hệ của chủ nghĩa
ích kỷ giai cấp; các bậc thầy của nó, Mác và những người khác, đã
đặt lên vai những lực lượng tốt của nó nhiệm vụ giải phóng con người
khỏi sự nô dịch về xã hội và kinh tế.
13.1.1918
»»¨»»
Và rồi dân tộc yếu đuối và dốt nát này, có một khuynh hướng tự
nhiên hướng về chủ nghĩa vô chính phủ, dân tộc đó phải là nhà lãnh
đạo tinh thần của thế giới, là Đấng Cứu Rỗi của châu Âu chăng? […]
Ngọn lửa đã được đốt lên, nhưng nó cháy tồi; nó hôi mùi nước
Nga, một nước Nga dơ bẩn, say xỉn và tàn bạo. Họ kéo lê và xô đẩy
nước Nga bất hạnh đến Golgatha để đóng đinh, để cho thế giới được
cứu rỗi.
Đó phải chăng là ‘Chủ nghĩa cứu rỗi’ bằng một trăm sức ngựa?
Cuộc cách mạng của chúng ta đã làm cho tất cả bản năng tồi tệ
và dã man có dịp phát triển tự do, những bản năng đã tích tụ dưới áp
lực nặng nề của nền quân chủ; đồng thời nó đã vứt bỏ sang một bên
không thương tiếc tất cả lực lượng trí thức của nền dân chủ, tất cả
năng lượng đạo đức của đất nước. Chúng ta thấy trong đám người phục
vụ cho chính thế Sô-Viết luôn luôn có những con người hối lộ, đầu cơ
và những tên bịp bợm, trong khi những người lương thiện và siêng
năng đi bán báo trên đường phố hay lao động chân tay, để khỏi phải
đói và không làm tăng thêm lớp người thất nghiệp.
16.3.1918
»»¨»»

Một cảnh trong vở “Dưới đáy”. Sân khấu đối với
Gorki không
còn là trường học đạo lý mà đã trở thành sân khấu
của cách mạng
Người ta không yêu mến những con người mạnh mẽ trên đất nước Nga,
cho nên những con người đó không sống lâu được trong đất nước chúng
ta.
Cuộc đời không yêu anh ta, văn chương cũng thế; nó tìm mọi cách có
thể được để làm liên lụy ý chí mạnh mẽ của anh ta vào những mâu
thuẩn, đẩy nó vào cái xó đen tối của ngõ cục, hạ thấp nó xuống ngang
bằng các điều kiện sống ô nhục để rồi hạ thủ nó. Người ta không đi
tìm và yêu mến người chiến đấu, người kiến trúc của những hình thái
mới của cuộc sống, mà yêu người ngoan ngoãn để nhận vào mình những
tội nhẹ đáng ghét của những người tầm thường.
Từ vật liệu này – từ các người nông dân thất học, kém ý chí – những
kẻ mơ mộng và học giả kiểu mọt sách muốn thành lập một nhà nước xã
hội chủ nghĩa mới – mới không những về hình thức, mà về cả bản chất
lẫn tinh thần. Rõ ràng trong những công việc của mình những người
kiến trúc phải để ý đến những đặc thù của vật liệu.
22.3.1918
»»¨»»
Bản chất đích thực của văn hóa và ý nghĩa của nó nằm ở chỗ
biết kinh tởm đích thực mọi cái dơ bẩn, đê tiện, dối trá và thô bạo
làm hèn hạ đi con người và làm cho nó đau khổ. Chúng ta phải học
ghét cái đau khổ; chỉ như thế chúng ta mới thanh toán nó được. Chúng
ta phải học yêu thương con người như nó trong hiện tại, và cũng phải
yêu thương nó một cách nhiệt tình, như nó trong tương lai.
Cái gì chữa trị chúng ta và làm sống lại sức mạnh của chúng ta?
Cái gì có thể làm mới lại chúng ta từ bên trong?
Chỉ có lòng tin vào chính chúng ta, không có gì khác. Chúng ta
phải nhớ lại nhiều điều, bởi vì trong cuộc chiến đấu giành lấy quyền
lực và một miếng bánh mì chúng ta đã bỏ quên đi quá nhiều.[…]
Đối với phần lớn trong họ, chủ nghĩa xã hội chỉ là một học
thuyết kinh tế được xây dựng trên sự ích kỷ của giai cấp công nhân,
cũng giống như các học thuyết khác dựa lên sự ích kỷ của giai cấp tư
hữu.[…]
Người ta chỉ có thể thật sự cảm xúc và hiểu văn hóa nếu người
ta kinh tởm sâu sắc tất cả những gì tàn bạo, thô lỗ và đê tiện trong
chính bản thân và trong môi trường xung quanh.[…]
Việc chúng ta không hiểu hay đánh giá thấp các sức mạnh của
tri thức là một sự cản trở nghiêm trọng ‘trên con đường tiến lên văn
hóa’. Không có tri thức và ý thức về chính mình, chúng ta sẽ không
bao giờ ra khỏi vũng bùn dơ bẩn của hiện tại.
16.5.1918
»»¨»»
Chúng ta sống một đời sống thảm hại và xấu xa – về điều đó
chúng ta không phải nói, ai cũng biết; chúng ta đã sống như thế đã
rất lâu, nhưng dưới chế độ quân chủ chúng ta sống thảm hại hơn, và
xấu hổ hơn. Lúc đó chúng ta đã mơ đến tự do mà không cảm nhận được
sức mạnh sống động và sáng tạo của tự do. Nhưng hôm nay cuối cùng
cả dân tộc cảm nhận được sức mạnh này. Dân tộc sử dụng nó một cách
ích kỷ, tàn bạo, ngu ngốc và ghê tởm – tất cả những cái đó đều đúng.
Nhưng đã đến lúc phải nhận thức điều cực kỳ quan trọng, và đánh giá
đúng, rằng con người, khi đã sống trong sự nô dịch tàn bào, thì được
giải phóng ra khỏi những gông xiềng nặng nề và gây biến dạng. Trong
nội tâm, chúng ta chưa khắc phục được di sản của sự nô dịch, chúng
ta chưa tin rằng mình đã tự do, chúng ta không biết sử dụng những
lợi ích của tự do. Cho nên – đặc biệt từ sự không chắc chắn – chúng
ta sống một cách ghê tởm, thô bạo và tàn bạo một cách bịnh hoạn, cho
nên chúng ta sợ hãi nhau và gây kinh hoàng cho nhau một cách ngu
ngốc và nực cười.
Tuy thế cả nước Nga, đến tận đáy, tận con người hoang dã cuối
cùng của nó, không chỉ tự do bề ngoài, mà cả bên trong bị chấn động
đến tận nền tảng, và đến các lớp địa chất nền tảng của nó: quán tính
châu Á, tính thụ động phương Đông của nó.
Những dày vò, đau khổ khiến dân tộc Nga phải gầm rú và lăn lộn
như con thú. Phải thay đổi diện mạo tâm lý của nó, các thành kiến và
định kiến, bản chất tinh thần của nó. Nó phải nhanh chóng hiểu một
điều: dù kẻ thù bên ngoài có dũng mãnh và tham lam đến đâu, dân tộc
Nga có một kẻ thù bên trong nguy hiểm hơn nhiều – đó là thái độ của
nó đối với chính nó và với con người mà nó đã không được dạy giỗ để
biết tôn trọng và quý trọng; đó là quan hệ của nó đối với tổ quốc mà
anh ta không có cảm xúc, thái độ của anh ta đối với lý tính và tri
thức mà anh ta không biết sức mạnh của nó và cũng không biết quý
trọng. Anh ta gán hai thứ đó như một loại phát minh của giai cấp địa
chủ chỉ có thể gây hại cho người nông dân.
Dân tộc Nga sống vô thức trong sự khôn vặt cũ kỹ của châu Á mà
không nghĩ đến ngày mai, và để mình điều khiển bởi câu tục ngữ: “Rồi
một ngày qua mau - Cám ơn Chúa!”. Bây giờ kẻ thù bên ngoài đã chứng
minh cho nó rằng sự khôn vặt của một con cọp bị săn đuổi là không gì
cả trước ý chí thép của lý tính được tổ chức. […]
Chúng ta không quen sống với tất cả sức mạnh của trái tim và
lý trí của chúng ta. Cho nên chúng ta mệt mỏi với cách mạng – Đó là
một sự mệt mỏi đến sớm và nguy hiểm cho tất cả chúng ta. Tôi không
tin vào sự mệt mỏi sâu xa, tôi muốn nói, nó sẽ biến mất nếu có một
tiếng nói gây hy vọng và phấn chấn vang lên – tiếng nói này phải
được đánh lên!
Trong một trận đánh ở phương Tây một vị chỉ huy người Pháp dẫn
một đội quân của mình tiến công vào các vị trí địch. Anh ta nhìn
thấy một cách tuyệt vọng các binh lính của mình lần lược ngã xuống.
Có những người bị giết bởi đạn, nhưng phần lớn ngã xuống đơn giản
chỉ vì sợ hãi, họ không tin vào sức chiến đấu của chính mình và
tuyệt vọng trước nhiệm vụ dường như không thể hoàn thành được đối
với họ. Lúc đó vị chỉ huy thét lên như một người Pháp đã được lịch
sử anh hùng giáo dục:
“Hãy đứng dậy, hỡi những con người đã chết kia!”
Những chiến sĩ bán sống bán chết vì sợ hãi kia liền đứng dậy,
và kẻ thù bị đánh bại. Tôi tin với cả tâm hồn rằng ngày kia sẽ đến
khi có một người yêu thương chúng ta, hiểu được tất cả và có thể tha
thứ sẽ kêu lên:
“Hãy đứng dậy, hỡi những con người đã chết kia!”
Và chúng ta sẽ đứng dậy, và sẽ chiến thắng kẻ thù chúng ta.
Tôi tin điều đó.
17.5.1918
»»¨»»
Tôi nghĩ, một chủ nghĩa lý tưởng xã hội là vô cùng cần thiết
chính trong giai đoạn cách mạng. Dĩ nhiên tôi muốn nói một chủ nghĩa
lý tưởng lành mạnh để tinh luyện tình cảm, một chủ nghĩa lý tưởng mà
nếu không có nó cuộc cách mạng sẽ mất đi sức mạnh để làm cho con
người ý thức về xã hội hơn so với giai đoạn trước cách mạng, một chủ
nghĩa lý tưởng mà nếu không có nó cách mạng sẽ mất đi sự biện minh
đạo đức và mỹ học của nó. Không có chủ nghĩa lý tưởng, cách mạng và
cả cuộc sống sẽ biến thành một bài toán thuần toán học khô khan,
thành sự phân phối hàng hóa vật chất. Đấy là một bài toán mà giải
pháp của nó đòi hỏi sự tàn bạo mù quáng và những bể máu, một nhiệm
vụ đánh thức các thú tính và qua đó giết chết tinh thần xã hội của
con người như chúng ta chứng kiến trong thời đại chúng ta.
26.5.1918
»»¨»»
Bằng sự chiếm lĩnh quyền lực chính trị nhân dân đã có được cơ
hội để tạo ra trong tự do các hình thái mới của cuộc sống xã hội;
nhưng dân tộc vẫn còn, trong nội tâm và bên ngoài, sống dưới ảnh
hưởng của meo mốc và rỉ sét của các hình thái sống cũ. Trong các
tầng lới dân chúng không có những dấu hiệu của một sự phấn đấu có ý
thức thay đổi một cách cơ bản quan niệm lỗi thời của con người về
chính mình, về đồng loại và về cuộc sống.
Cuộc sống giàu có những ý tưởng quý báu đối với quần chúng
hoàn toàn mới, nhưng những ý tưởng này thâm nhập vào phạm vi các bản
năng và cảm xúc thô thiển và chật hẹp. Trong phạm vi này các ý tưởng
chỉ được tiếp thu một cách khó nhọc, nếu chúng có thể được tiếp thu,
điều rất tiếc đáng nghi ngờ.
Cuộc cách mạng, được tạo ra bởi sức mạnh của những con người
kiên quyết, tiêu hao và ngốn hết sức mạnh rất quý báu này, và quá
trình tập trung và tổ chức sức mạnh mới diễn ra chậm chạp một cách
nguy hiểm.[…]
Rõ ràng rằng tuyên truyền chính trị thôi không đủ để tạo ra con
ngưới mới. Không đủ nếu chỉ tổ chức tư duy, mà người ta còn phải tổ
chức ý chí, và giáo dục, phát triển và đào sâu thêm tình cảm.
Chúng ta phải làm sao cho sự giáo dục đạo đức và thẩm mỹ cho
nhân dân cùng phát triển liên tục với giáo dục chính trị; chỉ dưới
điều kiện này nhân dân ta mới được giải phóng hoàn toàn khỏi gánh
nặng của lịch sử bất hạnh của nó; chỉ như thế nhân dân mới thoát
khỏi ngục tù của các hình thái sống cũ. […]
Người ta phải nhớ rằng nhân dân được giáo dục hàng trăm năm
bởi giáo lý cứng nhắc, khe khắc và tẻ nhạt về sự vô nghĩa của con
người trước một quyền lực huyền bí điều khiển vận mệnh, và rằng giáo
lý này được chứng minh rất ư là rõ ràng và nghiêm khắc qua tất cả
những điều kiện sống xã hội là hệ quả của sự áp bức vô nghĩa trong
thời gian của nền quân chủ Nga.[…]
Cuộc cách mạng, để có thể giải phóng và tinh luyện được con
người, phải diễn ra trong nội tâm của nó và chỉ đạt được khi con
người được rũ sạch khỏi meo mốc và bụi bẩn của những ý tưởng lỗi
thời.[…]
Sương mù độc hại của cuộc sống hằng ngày, một cuộc sống bị làm
hoen ố bởi cuộc chiến đấu kiếm cơm thường xuyên, được soi sáng lên
và giảm bớt cường độ trong mọi thời đại và ở mọi dân tộc, - chỉ có
khoa học và nghệ thuật mới tinh luyện được các hình thức sống man dã
của chúng ta. Đã đến lúc khẩn thiết phải đưa những thành tựu vĩ đại
nhất của những nhà khoa học và nghệ sĩ vào hiện tại hoang dã không
thể tưởng của chúng ta – tất cả những cái quý nhất của thế giới, tất
cả tài sản tinh thần của nó, tất cả cái gì có được năng lực và sức
mạnh để giáo dục lại con người và nâng nó – kẻ sáng tạo ra những
thực tế, vượt lên khỏi những thực tế.
Nhân loại đã sáng tạo ra nhiều cái đẹp, nhưng hằng ngày con
người cũng tạo ra vô số những cái xấu xa và giấy lộn, và dưới đống
của những cái nhỏ nhoi này tất yếu cái đẹp đã bị che lấp đi.
Chúng ta phải sống sao đề chúng ta luôn thấy cái đẹp trước mắt,
lúc đó nó sẽ đánh thức trong ta những cảm xúc và hành động xứng đáng
với nhân phẩm con người.
Còn nếu người ta đem nhốt một người vào chuồng heo thì sẽ là
một sự điên rồ nếu đòi hỏi nó phải trở thành một thiên thần.
4.6.1918
»»¨»»
Hôm nay chúng ta thấy rõ hơn bao giờ hết dân tộc Nga bị lây nhiễm
bệnh thất học thế nào, các quyền lợi của chính đất nước là xa lạ với
họ ở mức độ khủng khiếp nào, dân tộc hành xử thô thiển làm sao trên
lãnh vực văn minh, và ý thức của nó về lịch sử và hiểu biết về chỗ
đứng của mình trong quá trình phát triển lịch sử non kém thế nào.
Nếu nói ‘dân tộc Nga’, tôi hiểu không chỉ các giới công nhân và nông
nhân; không, tôi nói cả dân tộc nói chung, tất cả các giai cấp, bởi
vì bệnh thất học và bệnh thiếu văn hóa là tiêu biểu cho cả quốc gia
Nga. Từ khối lượng hàng triệu những người thất học này, những người
không có quan niệm nào về giá trị của cuộc sống, người ta chỉ có thể
tách ra số lượng vài ngàn người không đáng kể của giới được gọi là
trí thức, nghĩa là những người ý thức được tầm quan trọng của nhân
tố trí thức trong quá trình lịch sử. Những người này, mặc cho những
sai lầm của họ, là phần quan trọng nhất mà nước Nga đã tạo ra được
trong cả quá trình lịch sử khó khăn và gớm ghiếc của nó; những con
người này vẫn đã là và vẫn là trái tim và khối óc của đất nước chúng
ta. Những lầm lỗi của họ được cắt nghĩa bởi miếng đất của nước Nga
không mầu mỡ cho những tài năng tri thức. Chúng ta tất cả đều là tài
năng về cảm xúc, là tài năng trong nhân hậu, trong sự tàn bạo và nỗi
bất hạnh; trong chúng ta có nhiều anh hùng, nhưng chỉ một ít con
người khôn ngoan và mạnh mẽ có thể làm tròn được nhiệm vụ công dân
của họ một cách can đảm – một nghĩa vụ khó khăn trong những điều
kiện của nước Nga. Chúng ta yêu các anh hùng, nếu họ không chống đối
chúng ta, và chúng ta không rõ rằng chủ nghĩa anh hùng chỉ đòi hỏi
một giờ hay một ngày sự nỗ lực cảm xúc, trong khi sự can đảm đòi hỏi
cả cuộc đời.[…]
Tôi không tin rằng người ta có thể gọi khối người vô sản là một lực
lượng tri thức và có văn hóa. Nhưng có lẽ điều đó (ca ngợi vô sản)
tiện lợi hơn cho cuộc bút chiến với giới tư sản dễ dàng hơn, để dọa
nạt họ và làm cho mình can đảm hơn; nhưng tại đây nơi con người họp
mặt lại, như tôi tin, những người chân thật và lo lắng sâu sắc về
tương lai của đất nước, thì điều (ca ngợi) đó là thừa. Giai cấp vô
sản như khối người chỉ là một lực lượng vật chất, không hơn; cũng
như thế với giai cấp nông dân. Nhưng với giới trí thức công nhân và
nông dân thì khác; họ dĩ nhiên là lực lượng sáng tạo về trí tuệ, và
với tư cách như thế họ đã tách ra khỏi giai cấp của họ và họ cũng cô
đơn, như giai cấp tri thức chúng ta lâu đời và bị áp bức, cô đơn và
bị tách ra khỏi khối người lao động – bị áp bức không phải chỉ vì
một phần của họ bị đưa vào các trại lao động, mà vì các điều kiện
sống của họ ở nước Nga, vì cả cuộc sống của họ và công việc của họ.
[…]
Trong hoàn cảnh của nước Nga công việc văn hóa không đòi hỏi chủ
nghĩa anh hùng mà là sự can đảm, sự thích nghi thường xuyên và bền
bỉ của tất cả sức mạnh tâm hồn. ‘Gieo cái hợp lý, cái thiện và cái
vĩnh cửu trên các miếng đất đầm lầy của nước Nga’, đó là một công
việc vô cùng khó khăn, và chúng ta biết rồi các hạt giống của giòng
máu tốt nhất của chúng ta, của cái tinh túy của thần kinh chúng ta,
sẽ chỉ nở ít ỏi và tiều tụy trên những cánh đồng của nước Nga. Mặc
dù thế chúng ta vẫn phải gieo, và đó là nhiệm vụ của những người trí
thức, những người hôm nay bị loại ra khỏi cuộc sống bằng bạo lực, và
ngay cả bị liệt vào những kẻ thù dân tộc. Nhưng chính họ phải tiếp
tục công việc đã được bắt đầu lâu rồi, công việc tẩy sạch và đổi mới
về tinh thần cho đất nước, bởi vì chúng ta không có lực lượng trí
thức nào khác ngoài họ.[…]
Nếu chúng ta trải lên cả đất nước một mạng lưới các tổ chức hoạt
động văn hóa và giáo dục, và qua đó tập hợp lại tất cả các lực lượng
tinh thần của đất nước, chúng ta có thể nhóm lên lửa khắp nơi để đem
lại đất nước ánh sáng và sự ấm áp để giúp đất nước lành mạnh lại và
đứng vững được trên đôi chân mình – khỏe mạnh, cứng cáp và có năng
lực xây dựng và sáng tạo. Tôi không nói một sự liên kết hình thức và
cứng nhắc của con người, mà một sự liên kết nội tâm và sống động của
tất cả những ai cùng có cảm nhận như nhau. Chỉ như thế và chỉ bằng
cách đó chúng ta mới tìm được lại văn hóa và tự do đích thực.[…]
Chính trị luôn luôn gớm ghiếc, bất kể ai làm nó, bởi vì nó tất yếu
phải đi đôi với nói dối, vu khống và bạo lực. Và bởi vì đó là một
chân lý đen tối, mọi người cần biết chân lý này, và chân lý này phải
giúp ta nhận thức rằng công việc văn hóa là quan trọng hơn công việc
chính trị.[…]
Đáng lẽ tốt hơn nếu người ta không để mình bị mê hoặc trong quá khứ,
vì trong dân tộc Nga chắc không bao giờ có cái gì là mê hoặc, nhưng
người ta để mình bị lôi cuốn và thất vọng – điều đó không thay đổi
được. Mê hoặc là công việc của lòng tin, và thất vọng là một sự
trừng phạt cho lòng tin mù quáng. Tri thức giúp chống lại thất vọng
và là cái duy nhất người ta có thể khuyên cho những kẻ bị thất vọng.
Cả đời tôi, trong những cảm xúc, ý tưởng và hành động tôi đều xuất
phát từ con người, bởi vì tôi luôn tin tưởng không suy suyển rằng
chỉ con người tồn tại, rằng tất cả những cái còn lại đều là ý kiến
và hành động của nó.
Và trong giai đoạn này, giai đoạn khủng khiếp cho chúng ta, khủng
khiếp cho đất nước chúng ta, đất nước đã được lập nên bởi nhiều thế
hệ, những thế hệ đã làm cho chúng ta hôm nay như thế, trong giai
đoạn của điên loạn, kinh hoàng, của chiến thắng sự ngu muội và đê
tiện, trong giai đoạn đó tôi chỉ có một ý nghĩ duy nhất: tất cả
những cái đó đều do con người mà ra, là sản phẩm của nó.
Con người đã tạo ra tất cả cái đẹp trên trái đất, tất cả thi ca, tất
cả những hành động to lớn của lòng can đảm và danh dự, tất cả niềm
vui và lễ hội của cuộc sống, tất cả vẻ quyến rũ, sự khôi hài và vĩ
đại, tất cả những giấc mơ đẹp và khoa học tuyệt vời. Con người tạo
ra trí tuệ táo bạo và ý chí không lay chuyển để vươn lên hạnh phúc.
Đó là con người, trong những ngày bi thảm, những ngày của đau khổ và
dày vò, luôn kiên trì tin vào sự chiến thắng của các nguyên lý tốt
đẹp mới mẽ đối với những cái cũ kỹ và xấu xa; đó là con người bất
khuất đã mang chúng ta đến cuộc nói chuyện hòa hợp và đầy nhân tính
ở đây. Chúng ta hãy đến với con người đã gây ra nhiều tội lỗi, nhưng
sám hối sự dơ bẩn và tội lỗi bằng những đau khổ lớn lao và cùng cực.
Chúng ta có thể tạo ra một không khí để con người có thể dễ thở hơn
được chăng? Chúng ta phải và có thể được làm điều đó!
Diễn văn trước buổi họp công khai
của Hội ‘Văn
hóa và Tự do’ ở
Moscow
30.6.1918
|