|
Làng cũ Tam
Kỳ
Phú B́nh

|
|
Với mong ước tái hiện phần nào diện mạo Tam
Kỳ xưa, người viết bài này đă dựa theo kư ức của nhiều vị cao niên
chính gốc địa phương và một số sưu tầm của bản thân để tổng hợp
thành bài mô tả này. Chắc chắn sẽ có nhiều thiếu sót; xin được những
người quan tâm và hiểu biết về đề tài này bổ sung cho. (P.B.) |
|
Đến nửa đầu thế kỷ XX, địa danh Tam Kỳ c̣n dùng để chỉ một xă
thuộc tổng Chiên Đàn, phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam và “làng Tam Kỳ”
cùng “làng Tứ Bàn” là hai trong các làng địa phương trước Cách mạng
tháng Tám trực thuộc xă ấy.
Vị trí hai làng cổ Tam Kỳ đến thời điểm đó có thể xác định như
sau: Nam giáp làng Phú Hưng và làng Khương Mỹ (nay thuộc xă Tam Xuân
I) mà ranh giới là sông Tam Kỳ; Đông và Đông Nam giáp làng Phú Quư
thượng (nay thuộc phường An Phú) mà ranh giới là sông Bàn Thạch; Bắc
và Tây Bắc giáp hai làng Mỹ Thạch (nay thuộc phường Tân Thạnh) và
làng Phương Ḥa (nay thuộc phường Ḥa Thuận); Tây giáp thôn Trà Cai
của làng Chiên Đàn (nay thuộc phường Ḥa Thuận) và tây nam giáp làng
An Dưỡng và Trường Xuân (nay thuộc phường Trường Xuân).
Tam Kỳ là ngôi làng rất xưa. Theo gia phả các họ tộc tiền hiền
tại đây, những cư dân đầu tiên đến vùng đất này từ niên hiệu Hoằng
Định (1600) đời vua Lê Kính Tông (tộc Trần) và từ 1740 đời vua Lê
Hiển Tông ( tộc Nguyễn). Tên làng có lẽ có trước 1767, bởi đến thời
điểm đó, địa danh Tam Kỳ c̣n được dùng để chỉ một khu vực rộng hơn
đó là Tam Kỳ tân lập xă (1). Làng có các ấp:
Hương Trà, Hương Sơn thượng, Hương Sơn hạ, Ḥa Phước, Ḥa An ấp, Ḥa
An khuôn (2). Hương Trà, một ấp nằm sát tả
ngạn sông Tam Kỳ là nơi định cư sớm nhất của các di dân từ xă Kim
Chuyết, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Hương Sơn hạ là ấp định cư
ban đầu của di dân tộc Nguyễn từ xă Ngọc Lâm, huyện Hoằng Hóa, Thanh
Hóa vào (3).
Đ́nh làng Tam Kỳ nằm ở khu vực ấp Ḥa Phước (gần khu vực Quỳnh
Phủ hội quán hiện nay) (4). Gần đấy có một
giếng Chăm cổ đáy vuông, thành vuông có bốn trụ nhô cao thường được
gọi là giếng Bốn Trụ. Giếng đó đến nay hăy c̣n (ở khu vực khối phố 1
phường Ḥa Hương, thành phố Tam Kỳ).
Bến của “tuần đ̣ Tam Kỳ” giữa thế kỷ XVIII được nhắc trong Phủ
Biên Tạp Lục của Lê Quư Đôn nay không thể xác định nằm ở khu vực nào
ở tả ngạn sông Tam Kỳ. Có khả năng bến ấy nằm ở khu vực giữa cầu cũ
và cầu mới Tam Kỳ hiện nay. Nơi ấy, khoảng 1952-1954, gọi là “bến
thương thuyền” là nơi tập trung những thuyền buôn từ các nơi đổ về;
những thuyền này trước đỗ ở bến Chợ Vạn sau v́ máy bay Pháp oanh tạc
đă tụ cả về đây.
Khu vực “Ḥa An khuôn” có một địa danh là “Phủ cũ” xuất phát từ
việc ghi nhận tại đây có lỵ sở của phủ Tam Kỳ xưa. Nền lỵ sở này
ngày nay là nơi tọa lạc của trụ sở UBND phường An Mỹ, thành phố Tam
Kỳ. Hiện c̣n một cây đa cổ thụ tuổi có thể hơn 200 năm nằm sát khu
vực này.
Cách phủ lỵ Tam Kỳ về hướng Nam Đông Nam khoảng 500 mét có một g̣
đất rộng, bằng phẳng gọi là “G̣ Nha”. Chẳng rơ đấy có phải là nơi
tọa lạc của một số nha môn thuộc phủ Tam Kỳ xưa? Nhưng chắc nơi ấy
chẳng phải là “nha sơn pḥng” vốn lúc đó đặt ở Dương Yên thuộc huyện
Bắc Trà My bây giờ.
Ven sông Tam Kỳ, phía trên đường thiên lư, có một khu đất gọi là
“G̣ mả đông” thuộc khu vực làng Hương Sơn thượng. Tương truyền đây
là nơi chôn rất nhiều nạn nhân của một trận đói lịch sử (?) thời
xưa; như phía hữu ngạn sông Tam Kỳ có “G̣ dịch” chôn nạn nhân của
một trận dịch thời trước (?). “G̣ mả đông” là nơi thực dân Pháp hành
h́nh nhà yêu nước Trần Thuyết, một thủ lĩnh nông dân địa phương
trong phong trào kháng sưu chống thuế năm 1908.
Ga Tam Kỳ nằm gần sát cột cây số đường sắt chính giữa ga Hà Nội
và ga Sài G̣n. Từ cuối thế kỷ XIX, khi ḥan thành đường sắt xuyên
Việt, ga Tam Kỳ đă h́nh thành. Ga này nằm ở trung điểm khoảng cách
giữa ga Quán Rường (nay là ga An Mỹ) ở phía Bắc và ga Phú Hưng c̣n
gọi là ga tạm Khương Mỹ (nay không c̣n) ở phía Nam thuộc địa phận xă
Tam Xuân I, Núi Thành.
Từ ga Tam Kỳ, người Pháp thiết kế một con đường thẳng xuống hướng
Đông Bắc (nay là đường Huỳnh Thúc Kháng), song song với đường băng
qua đường sắt xuống chợ Vạn (nay là đường Trần Cao Vân). Nối hai con
đường ấy, có một quan lộ (nay là một đoạn của đường Trần Dư). Chỗ
góc tiếp giáp đoạn quan lộ ấy với đường xuống chợ Vạn (nay thuộc khu
vực Nhà văn hóa thành phố và trường THPT Lê Quư Đôn), đầu thế kỷ XX
người Pháp đặt một đồn đại lư ở đấy. Cái đồn quân sự - hành chánh ấy
đă được nhắc đến trong một bài thơ của thân mẫu cố giáo sư Tạ Quang
Bửu, có chồng làm giáo thụ từng sống ở địa phương này:
“Phong cảnh Hà Đông có phải đây?
Có đồn đại lư, có lầu Tây
Nước sông Bàn Thạch quanh quanh chảy
Ngọn núi Tùng Lâm (5) lớp lớp xây?
Kim Đái đai vàng đâu chẳng thấy?
Thạch Kiều cầu đá hăy c̣n đây!
Sông Tiên nào thấy ông tiên tắm?
Bủa lưới giăng câu mấy chú chài!(6).
Sát đồn đại lư về phía Tây Nam là một bệnh viện mà dân địa phương
quen gọi là “Nhà thương” (7). Phía đối diện
đồn đại lư, cách 100 mét về phía Đông, là Sở Bang tá. Thân phụ ông
Nguyễn Tăng Hích (tức nhạc sĩ Trần Ḥan) từng một thời làm việc ở
đây. Cạnh đấy, về phía đối diện là Nhà Dây thép (nay là trụ sở Bưu
điện thành phố Tam Kỳ). Đồn Thương chánh nằm trên đường quốc lộ xế
về phía Nam (nền đất đó nay gần vị trí trụ sở của Ủy ban Thanh tra
tỉnh). Có thể kể thêm một số cơ sở khác như Maternité c̣n gọi là
“Nhà thương đẻ” (nay thuộc khu vực chợ mới Ḥa Hương) và Abattoir
(Ḷ mổ gia súc) cũng gần khu vực đó.
Giữa khu Chợ Mới (nay là đường Huỳnh Thúc Kháng nối dài) và Chợ
Vạn có trường tiểu học Pháp Việt (Ecole de plein exercice) c̣n gọi
là trường Kiêm Bị (nay thuộc khoảng phía sau khu vực có hiệu trà Mai
Hạc đường Phan Châu Trinh). Nhiều thế hệ học sinh cao niên c̣n nhớ
tên các thầy từng làm đốc học nơi đây như thầy Đốc Cảnh (Trần Cảnh),
thầy Đốc Ḥanh (Hà Thúc Ḥanh), thầy Đốc Cầm, thầy Đốc Thuyên (con
trai chí sĩ Trần Quư Cáp) …
Cùng với ngôi trường trên c̣n có trường Nữ tiểu học Pháp Việt (
Ecole de jeunnes filles)(8). Bà Lê Đ́nh Lâm (c̣n gọi là bà Trợ Lâm -
thân mẫu giáo sư nông học Lê Văn Căn), một nữ trợ giảng người phủ
Tam Kỳ từng làm hiệu trưởng trường này.
Những trụ sở của các tôn giáo tại làng Tam Kỳ xưa có rất muộn và
ít: có thể kể chùa Tịnh Độ, chùa Tam Bảo, nhà thờ công giáo địa hạt
Tam Kỳ (xây năm 1937) và một nhà nguyện Tin Lành (xây sau 1940). Ở
Tam Kỳ xưa, ngoài đạo thờ tổ tiên theo truyền thống, đến giữa thế kỷ
XX, số người có tín ngưỡng khác không nhiều.
Làng Tứ Bàn gồm bộ phận dân cư đến định cư ở ven sông Bàn Thạch -
một nhánh của sông Tam Kỳ - nơi lưu truyền câu ca:
Hồ, Huỳnh, Trần, Nguyễn. Đỗ, Đinh, Lê
Đồng hướng Nam du hội nhất tề…”.
Tại khu vực này, có một miếu thờ 7 họ tộc đă được nhắc đến trong
câu ca trên; đó là “Miếu thất phái” sau trở thành trụ sở đ́nh làng
Tứ Bàn c̣n được gọi là “đ́nh thất phái”.
Chếch về phía Nam “đ́nh thất phái” khoảng 300 mét là Quỳnh Phủ
Hội Quán do các người Hoa gốc Hải Nam thành lập. Trong khu vực Hội
Quán này có chùa Chiêu Ứng được xây dựng mang tên trùng với Chiêu
Ứng tự tại Hội An.
Dăy phố nằm giữa hai cơ sở văn hóa trên được dân địa phương thời
Pháp thuộc quen gọi là “dăy dọc” (nay nằm trên trục đường Duy Tân).
Trên dăy phố này, có nhiều cửa hàng của người Việt như An Lợi bán
rượu, ông Hai Dao bán cao lầu, bà Bảy Sửu cho thuê truyện, ông
Thuyết buôn lâm thổ sản, ông Sum buôn mắm, bà Khải, bà Đức Thọ, bà
Năm Nho… Gia đ́nh ông Nguyễn Quư Hương, thư kư ṭa soạn báo Tiếng
Dân, từng một thời sống ở dăy phố này.
Bến chợ Vạn thuộc làng Tứ Bàn trên sông Bàn Thạch nằm ở điểm giao
hội các con đường từ Trà My, Tiên Phước xuống vùng hạ bạc và con
đường dẫn lên khu chợ Vạn (nay là đường Xóm Củi sát mé sông, thuộc
phường Phước Ḥa). Chợ “Man” được nhắc đến trong Đại Nam Nhất Thống
Chí phần viết về tỉnh Quảng Nam xưa có lẽ nằm gần khu vực này.
Chợ Vạn là nơi tập trung buôn bán khá sầm uất – gần đấy có một
dăy phố “Hoa kiều” gọi là “dăy ngang” (nay thuộc đường Phan Đ́nh
Phùng, gần trụ sở phường Phước Ḥa). Nơi đây, đến giữa thế kỷ XX,
vẫn c̣n san sát các hiệu buôn người Hoa như của các ông Năm Ngô, ông
Phong, ông Bang Căn, ông Lư Tuế (ông Cào), ông Cao Vinh Sanh (Đạt
An), ông Cả Chiếu (Ngô Quân Tụ), Quảng Nam Lợi, Phúc Xuân Lợi, Quảng
Nam Thạnh, Phước Dũ Thạnh… Các hiệu buôn này chủ yếu làm đại lư
trung chuyển nguồn lâm thổ sản từ các miền nguồn Nam Quảng Nam đưa
về Hội An để xuất khẩu; một số hành nghề thuốc Bắc. Có thể kể thêm
một đại lư cho hăng rượu Sica của Pháp tại khu vực này là ông Nh́
Xùng (Di Sùng ?) (9). Về sau, đến thập niên 1930, khi chợ Mới (sau
gọi là chợ Mai) được thành lập th́ chợ Vạn được người địa phương gọi
thành tên “chợ Cũ”.
Phú B́nh
...........
Chú thích:
(1) Theo một sắc phong năm Cảnh Hưng thứ 27
(1767) c̣n lưu tại nhà ông Trần Văn Tuyền, Hương Trà, Ḥa Hương, Tam
Kỳ.
(2) Theo cụ Nguyễn Ngọc Cẩn 84 tuổi ở khối phố 7
phường An Xuân, th́ đến đầu thế kỷ XX, cả Ḥa An ấp và Ḥa An khuôn
đều được nâng lên thành làng cùng với làng Phước Xuyên thuộc khu vực
Cồn Thị bên kia sông Bàn Thạch.
(3)Theo gia phả tộc Trần làng Hương Trà và gia
phả tộc Nguyễn làng Hương Sơn, Tam Kỳ.
(4)Vẫn theo cụ Nguyễn Ngọc Cẩn, nguyên Chủ tịch
UBHC kháng chiến xă Tam Chánh (tức xă Tam Kỳ cũ) sau Cách mạng tháng
Tám, th́ đ́nh này bị tháo dỡ trong thời kỳ tiêu thổ kháng chiến; c̣n
nơi đặt đ́nh Tam Kỳ (c̣n gọi là đ́nh Hương Trà) hiện nay vốn trước
đó là nền một ngôi chùa do người Hoa lập nên gọi là Chùa Ông.
(5) Có người cho đây là tên khác của cụm núi đất
An Hà - Quảng Phú hiện nằm ở khu vực phường An Phú, Tam Kỳ. Nhưng,
nhà nghiên cứu Nguyễn Q. Thắng th́ ghi là núi Thanh Lâm - nay thuộc
xă Tiên Thọ, Tiên Phước. (Xin xem thêm “100 năm Phủ lỵ Tam Kỳ” Kỷ
yếu hội thảo khoa học, Sở TTVH Quảng Nam XB tháng 12.2006 trang
32,33)
(6) Những mô tả trên của Tạ Quang Diệm phu nhân
bao gồm nhiều địa điểm thuộc khu vực phủ Tam Kỳ xưa mà nay đă tách
thành bốn khu vực hành chính: huyện Tiên Phước, huyện Núi Thành,
huyện Phú Ninh và thành phố Tam Kỳ. V́ thế, nhiều người khác địa
phương hẳn không ngạc nhiên ǵ khi thấy những ghi nhận về vùng đất
Tam Kỳ xưa không chỉ bao gồm đất và người ở nội thành mà c̣n ở cả ba
huyện c̣n lại đă nói trên, cùng với cả địa giới hai huyện Nam và Bắc
Trà My vốn đến cuối thế kỷ XIX vẫn c̣n thuộc “Tam Kỳ phủ”.
(7) Theo hồi ức của một vài vị cao niên th́ thứ
tự các trụ sở thời Pháp thuộc từ đồn Đại lư kể xuống theo trục đường
có thể liệt kê như sau: a. Đồn Đại lư; b. Sân tennis; c. Nhà thương;
d. Sở Lục lộ; e. Nhà Dây thép…
(8) Có người nhớ vị trí trường tọa lạc gần khu vực Quỳnh Phủ Hội
Quán; lại có người nhớ trường này đặt ở khu vực hiện nay là trường
tiểu học Trần Quốc Toản đường Trần Cao Vân. Có thể trường Nữ tiểu
học Pháp Việt này trước nằm gần quốc lộ sau chuyển lên vị trí mới
chăng?
(9) Theo lời kể của ông Vương Tải Minh, gốc Hoa, cán bộ tập kết
hưu trí, hiện ở đường Huỳnh Thúc Kháng nối dài.
Nguồn : Bài đă đăng trên Văn Hóa Thông Tin Quảng Nam.
Đăng lại trên ERCT với sự đồng ư của tác giả.
(*) H́nh sông Tam Kỳ của
lthung13
trên Flickr
(**) Bản đồ hành chính Quảng Nam hiện nay

|