|
|
CHẾ ĐỘ GIÁO DỤC VIỆT NAM Nguyễn Đ́nh Khanh (Exryu USA) Mục đích của bài viết
này là để giới thiệu cho các bạn
đọc về t́nh trạng giáo dục của
Việt Nam mà thế hệ cha ông của chúng ta
trước đây cũng như chính chúng ta
đă từng trải. Nội dung gồm 3
phần: Phần I nói về chế độ thi
cử thời xưa; phần II nói về chế
độ thi cử thời Pháp thuộc; phần
III về thời chiến tranh Việt Nam; và
phần IV đề cập tới t́nh trạng giáo
dục sau năm 1975. Thời xưa cũng như
hiện nay, được cắp sách tới trường
là một hạnh phúc. Được mảnh
bằng đại học trong tay thật là hănh
diện. Nếu cuộc đời sinh viên trong 4 năm
đại học đầy những kỷ
niệm của tuổi trẻ, th́ những ngày
thi cử phải thức khuya gạo bài cũng khó
quên. Ở Mỹ hay Nhật, nếu ai chịu khó
học bài th́ thế nào cũng tốt nghiệp.
Ngược lại, thế hệ chúng ta cũng
như cha ông trước đây, học là
một chuyện, thi đỗ lại là chuyện
khác. V́ thế mới có câu “học tài thi
phận”. Ngày nay vào đại học là để
có “job thơm”. Nhưng thời xưa thi đậu
là để “làm quan”. Thời chiến tranh
Việt Nam, thi đậu để khỏi
phải “đi lính”. I. Chế độ
thi cử thời phong kiến. Đề cập tới nền giáo
dục Việt Nam thời phong kiến tức là nói
về xă hội từ thời Hùng Vương cho
tới hậu bán thế kỷ thứ 19. Hơn
1000 năm dưới ách đô hộ của Trung
quốc, có thể nói mô h́nh giáo dục của xă
hội Việt Nam thời bấy giờ rập
khuôn Trung quốc. Hay nói một cách khác, “Nho giáo”
là trung tâm của chế độ thi cử
thời phong kiến. V́ Việt Nam chưa có
chữ viết nên chữ “Nho” là gốc. Nho giáo
thời Nhà Lư (1009-1225) là thời kỳ hưng
thịnh nhất và cũng là thời kỳ
nền giáo dục Việt Nam theo mô h́nh Trung
quốc được thiết lập và phát
triển đáng kể. Điểm đặc
biệt là vua Lư Thánh Tông đă thành lập “Văn
Miếu” tại thủ đô Thăng Long (Hà
Nội) vào năm 1070. Khoa thi đầu tiên
được tổ chức vào năm 1075. Sang
đến thời vua Lư Nhân Tông, “Quốc
Tử Giám” được thành lập để
con vua và con các đại thần học. Đây
là trường “đại học” đầu
tiên của Việt Nam với hơn 4000 năm văn
hiến. Hệ thống giáo dục thời đó
gồm trường “tư thục”, c̣n gọi
là trường “làng” dành cho đại chúng do
các cụ đồ nho mở lớp dạy
học. Cấp cao hơn nữa th́ có trường
“quan học” dành cho con cái của các quan
huyện và phủ. Cấp cao nhất là trường
“Quốc Tử Giám” dành cho con cái triều
đ́nh. Giai cấp xă hội thời phong kiến
được phản ảnh khá rơ rệt qua cách
xưng hô đối với học tṛ. Con vua,
tức các hoàng tử được gọi là
“Tôn Sinh”. Con các quan trong triều đ́nh
được gọi là “Ấm Sinh”. Con các
quan huyện/phủ gọi là “Cống Sinh”. Chế độ thi cử thời
phong kiến được chia thành 3 cấp: Thi Hương,
Thi Hội, và Thi Đ́nh. Thi Hương:
Chữ “Hương” ở đây không phải
“hương hoa” mà từ chữ “quê hương”.
Nghĩa là dầu ở đâu mà muốn ghi danh
đi thi th́ phải về tận quê hương
ḿnh để dự thi. V́ thế, thi Hương
luôn luôn được tổ chức tại
địa phương và được tổ
chức từng 3 năm một vào các năm
Tị-Sửu-Mẹo-Dần của 12 chi theo
lịch Trung quốc. Theo giáo sư Phạm Văn
Sơn (Việt Sử Toàn Thư), năm 1462 có
60,000 thí sinh ghi danh dự khoa thi Hương
tại 12 “trường thi” trong cả nước.
“Trường thi” không phải là một trường
học như chúng ta thường nghĩ mà là
một băi đất trống rất rộng
giống như “trường đua Phú Thọ”
ở Việt Nam, hoặc giống như băi đất
trống tại ḍng Đồng Công tại thành
phố Carthage, Missouri, mà bà con công giáo thường
về cắm lều dự Đại Hội Thánh
Mẫu hàng năm, để các thí sinh đựng
lều ở cả tháng cho một khoa thi. Năm
1876 có 6 địa điểm thi: Huế, B́nh
Định, Nghệ An, Thanh Hóa, Nam Định và
Hà Nội. Thời xưa, các cụ thí sinh
(sở dĩ gọi các “cụ” là v́ những
thí sinh đi thi hầu hết là lớn tuổi mà
ta thường gọi là các cụ đồ) th́
nhiều mà đậu chẳng bao nhiêu. Nếu nh́n
vào tỉ lệ đỗ đạt th́ thật
là hỡi ôi. V́ mục đích mở các khoa thi
thời bấy giờ không phải để
khuyến khích dân chúng cắp sách đi học mà
là để tuyển lựa người ra làm
quan. Chẳng hạn khoa Thi Hương tại Hà
Nội năm 1876 có 4,500 sĩ tử vác lều chơng
đi thi, chỉ có 25 người đủ điểm
đậu để được danh hiệu
“cử nhân”, c̣n gọi là “hương
cống”, và 50 người đậu vớt (điểm
thấp hơn) để được danh
hiệu “tú tài”, c̣n được gọi là
“sinh đồ”. Năm 1884, triều đ́nh ra
điều lệ thi mới về tuyển người:
nhất cử tam tú. Nghĩa là cứ lấy
một người đỗ cử nhân th́ cho 3
người đỗ tú tài. Thời gian thi không
phải chỉ có một hai ngày mà tới cả
tháng cho một khoa thi. Thí dụ năm 1909, khoa thi
Hương được tổ chức tại Hà
Nam. Ngày 13 tháng 11, có 3,068 thí sinh dự thi kỳ 1
và chỉ đỗ được 934 người.
Số thí sinh đỗ kỳ 1 làm bài thi kỳ 2
vào ngày 25 tháng 11, và số người đỗ
kỳ này là 408 người. Số người này
được thi kỳ 3 vào ngày 2 tháng 12 và
kết quả đỗ được 261 người.
Ngày 11 tháng 12 là kỳ 4 của khoa thi Hương
chỉ lấy 50 người điểm cao
nhất là “cử nhân”, và lấy 150 người
“tú tài” với mức điểm thấp hơn.
Từ con số 3,068 người dự thi kỳ 1
và sau đợt thi kỳ 4, con số đỗ
“cử nhân” chỉ có 50 người. Tỉ
lệ 1.6% thật “dă man”. Năm 1900 là năm
trường Hà Nam có số thí sinh dự thi đông
nhất lên tới 12,948 người, và chỉ
lọt bảng vàng con số 90 cử nhân. Tỉ
lệ đậu 0.7%. Năm 1909, ngoài chữ Hán,
chữ Quốc Ngữ được đưa thêm
vào môn thi. Năm 1915, khoa thi Hương c̣n có thêm
môn tiếng Pháp. Năm 1915, khoa thi Hương
tại Huế có 3,254 thí sinh th́ chỉ có 32 người
đỗ cử nhân. Năm 1918 là năm khoa thi Hương
được tổ chức lần cuối cùng
của chế độ thi cử thời phong
kiến tại 4 địa phương: Thừa
Thiên, B́nh Định, Nghệ An, và Thanh Hóa.
Sở dĩ sau đó không c̣n tổ chức thi Hương
nữa là v́ chế độ thi cử của
thực dân Pháp đă được thay thế. Thi Hội:
Nếu thi Hương được tổ
chức tại các địa phương th́ thi
Hội chỉ được tổ chức
tại triều đ́nh mà thôi. Thi Hội
được tổ chức cũng cứ 3 năm
một lần, sau mỗi kỳ thi Hương. Nghĩa
là ai đậu kỳ thi Hương th́ sang năm
được ghi danh thi Hội. Năm 1844, cả
nước có 281 thí sinh về Kinh đô dự
thi, và chỉ có 10 người đủ điểm
để đậu “chính bảng” và 15 người
đậu vớt gọi là “phó bảng”. Thi Đ́nh:
Khác với Thi Hội, Thi Đ́nh do chính nhà vua
ra đề thi. Điểm đậu cao nhất
là 10 điểm. Nếu ai đậu được
điểm này gọi là “Trạng Nguyên”.
Từ năm 1822 tới năm 1919, tổng số
có 39 kỳ thi Đ́nh để chọn được
219 tiến sĩ. Năm 1842 là năm có số
đỗ tiến sĩ cao nhất là 13 vị. Năm
1865 số tiến sĩ đỗ thấp nhất
chỉ có 3 vị. Như vậy, trung b́nh cứ
mỗi kỳ thi Đ́nh th́ có 7 người đậu
“tiến sĩ”. Theo bà Nguyễn Thị Chân
Quỳnh (Khoa Cử Việt Nam, nhà xuất bản
An Tiêm, 2002), kể từ khi nhà Lư mở khoa thi
đầu tiên (1075) tới thời nhà Nguyễn băi
bỏ các khoa thi cử (1919), nước ta đă
tổ chức được 146 Đại khoa
để chọn được 2,413 ông
“tiến sĩ”. Riêng thời nhà Nguyễn,
từ Gia Long (1802-1819) tới Khải Định
(1916-1925), đă tổ chức được 47
khoa thi Hương để kén chọn được
5,190 ông Cử Nhân. II. Chế độ
thi cử thời Pháp thuộc. Năm 1884, Ḥa Ước Giáp Thân,
c̣n gọi là Ḥa Ước Patenôtre, đặt lănh
thổ Việt Nam dưới quyến bảo
hộ của thực dân Pháp. Thời điểm
này, chế độ giáo dục và thi cử
tại Việt Nam được đổi
từ mô h́nh Trung Quốc sang mô h́nh nước
Pháp. Tiếng Nho (Hán văn) nhường chỗ
cho tiếng Quốc Ngữ và tiếng Pháp.
Bậc tiểu học, trung học và đại
học được qui định rơ rệt.
Tuy nhiên, hệ thống trường Pháp dành cho
con cái người Pháp hoặc những người
Việt giàu có, và hệ thống trường
Việt, c̣n gọi là trường Pháp-Việt, có
phần khác nhau. a/ Hệ thống trường Pháp: Tiểu học: 5 năm. Trung học đệ nhất cấp, c̣n gọi là Cao Đẳng Tiểu Học (Junior High): 4 năm Trung học đệ nhị cấp, gọi là Lycée (High School): 3 năm. Sau khi tốt nghiệp High School, học sinh người Pháp về Pháp học đại học tại mẫu quốc. Năm 1924, cả Đông Dương
(Việt-Miên-Lào), chỉ có 5 trường Trung
Học Đệ Nhất Cấp và 3 trường
High School (Hà Nội: Lycée Albert Sarraut; Sài G̣n: Lycée
Chasseloup Laubat; và Đà Lạt: Petit Lycée). Năm
1937, số học sinh học tại 3 trường
này như sau: Trường Albert Sarraut: 1,126 học
sinh (Pháp: 725 và Việt: 401); trường Chasseloup
Laurat: 979 (Pháp: 830; Việt: 149); trường Petit
Lycée ở Đà lạt: 387 (Pháp: 342; Việt: 47). b/ Hệ thống trường Pháp-Việt
dành cho người Việt: 1. Hệ Sơ Cấp 3 năm (écoles primaires élémentaires). Chủ yếu học chữ Quốc Ngữ. Tiếng Pháp và tiếng Hán là phụ. Học sinh tốt nghiệp được cấp bằng “Sơ Học Yếu Lược”. 2. Hệ Sơ Đẳng 3 năm
(écoles primaires). Học tiếng Pháp là chính.
Chữ Quốc Ngữ và chữ Hán trở thành môn
phụ. 3. Hệ Cao Đẳng Tiểu
Học (écoles primaires superieures): 4 năm. Tương
đương trung học đệ nhất
cấp ( thời Việt Nam Cộng Ḥa), hoặc
“trung học cơ sở” theo cách gọi trong nước
hiện nay. Tốt nghiệp được
cấp bằng “Thành Chung”. 4. Hệ Lycée Pháp-Việt (Lycée
Franco-Indigènes): 3 năm. Tương đương
trung học đệ nhị cấp hoặc
“trung học phổ thông”. Năm 1929, ở Hà
Nội có trường Trung Học Bảo Hộ
(Lycée du Protectorat); ở Sài G̣n có trường
Trung Học Petrus Lư; và ở Huế có trường
Quốc Học. Số học sinh học tại 3
trường này như sau: Hà Nội: 164 học
sinh; Sài G̣n: 159; và Huế: 77. Để đào tạo số người
thông dịch tiếng Pháp, năm 1886, thực dân
Pháp thành lập “Trường Thông Ngôn Hà
Nội”, hệ 4 năm. Tương
đương trung học đệ nhất
cấp. Điều kiện nhập học là
phải tốt nghiệp cấp tiểu học. Năm
1904, trường này được đổi tên
là “Trường Thành Chung” (Ecôle complimentaire).
Sau 4 năm thi tốt nghiệp để lấy
bằng “Thành Chung” (Diplôme dEtudes complimentaire),
tức bằng “trung học đệ nhất
cấp”, hoặc bằng “trung học cơ
sở” theo cách gọi trong nước hiện
nay. Giới b́nh dân trước đây thường
gọi là bằng Đít Lôm. Các quan thời vua
Bảo Đại như ông Ngô Đ́nh Khả
hoặc ông Nguyễn Hữu Bài đều tốt
nghiệp bằng Thành Chung. 5. Hệ Đại Học
được thiết lập đầu tiên
ở Việt Nam khi Pháp thành lập trường
đại học Y-Dược tại Hà Nội vào
năm 1902. Năm 1938, trường này có cả
thảy 208 sinh viên. Tổng số sinh viên Việt
của 3 kỳ (Bắc-Trung-Nam) là 176, chiếm 85%.
Số sinh viên c̣n lại là Pháp (25), Lào (2), Trung
quốc (3), Cămbốt (1), và Ấn độ
(1). Đại học Luật được thành
lập năm 1918. Đại học Sư
phạm: năm 1917 và đại học Nông-Lâm-Súc:
năm 1918. Điểm đặc biệt khá
lư thú về tỉ lệ tốt nghiệp
tiểu học cũng như trung học thời
Pháp thuộc. Theo giáo sư Chikada Masahiro, nh́n vào
niên khóa 1928- 29, tỉ lệ tốt nghiệp
tiểu học sơ cấp (lớp 1 tới
lớp 3): 33.2%. Tỉ lệ tốt nghiệp
tiểu học sơ đẳng: 68%. Tỉ lệ
tốt nghiệp tiểu học cao đẳng
(trung học đệ nhất cấp): 66.9%.
Tỉ lệ tốt nghiệp trung học đệ
nhị cấp (tú tài ): 31%. Theo ông Marr (David G. Marr:
“ Vietnamese Tradition on Trial 1920-1945”, Univ. of California,
1981), số người biết đọc
tiếng quốc ngữ trong cả nước
chỉ khoảng 1,800,000 người vào năm
1939, tương đương khoảng 10% dân
số. Như vậy, tỉ lệ “mù chữ”
tại Việt Nam thời bấy giờ là 90%. III. Chế độ
giáo dục thời Việt Nam Cộng Ḥa (1955 -
1975): Sau ngày kư Hiệp Định Genève,
Việt Nam bị chia làm hai. Miền Bắc theo
chế độ xă hội chủ nghĩa. V́
vậy, hệ thống giáo dục miền Bắc
được cải tổ theo mô h́nh Liên Xô.
Hệ thống giáo dục miền Nam cơ
bản vẫn giữ mô h́nh của Pháp và
dần dần theo mô h́nh của Mỹ. Thời Pháp
thuộc, từ tiểu học đến hết
trung học đệ nhị cấp là 13 năm (Sơ
cấp: 3 năm; Sơ đẳng: 3 năm; Cao
đẳng tiểu học: 4 năm; và Lycée: 3 năm).
Thời Việt Nam Cộng Ḥa chế độ 13
năm được cải tổ lại 12 năm
cho 3 cấp như mô h́nh của Pháp: Cấp
tiểu học: 5 năm; trung học đệ
nhất cấp: 4 năm; và trung học đệ
nhị cấp: 3 năm. Chế độ thi
cử được áp dụng để tốt
nghiệp các cấp vẫn c̣n rất khắt khe.
Theo giáo sư Elon E. Hildreth (“The Challenge in
Education”, Michigan State Univ. Press, 1959), vào năm 1957,
cứ 170 học sinh học trung học đệ
nhất cấp th́ chỉ có 1 người tốt
nghiệp trung học đệ nhị cấp. Theo
cựu phó thủ tướng kiêm bộ trưởng
giáo dục Nguyễn Lưu Viên, cứ 100 học
sinh nhập học bậc tiểu học th́ ch́ c̣n
phân nửa đậu tiểu học, và chỉ có
7 em tốt nghiệp trung học đệ nhất
cấp. Dựa vào tài liệu của Bộ Giáo
Dục miền Nam trước đây, tỉ
lệ tốt nghiệp tiểu học vào năm
1966 là 65% và tốt nghiệp tú tài II là 21%. V́ t́nh
trạng chiến tranh, con số sinh viên lọt
được vào cổng đại học
thật trần ai. Theo thống kê, vào thập niên
1960, tỉ lệ tốt nghiệp tú tài I (lớp
11 bây giờ) là 33%, và tỉ lệ tốt
nghiệp tú tài II (lớp 12) là 45%. Nghĩa là
cứ 3 người học lớp 11 th́ chỉ có
1 người đậu để vào lớp 12.
Tỉ lệ tốt nghiệp lớp 12 trung b́nh là
50%. Cấp Đại Học: Hậu bán thập niên 1950,
miền Nam có 3 trường đại học
lớn: Viện Đại Học Sài G̣n, Viện
Đại Học Huế và Đại Học
Đà Lạt. Trong số này, đại học Sàig̣n
là lớn nhất. Niên khóa 1974-1975, tổng số
sinh viên toàn miền Nam là 166,475 người th́
Viện Đại Học Sàig̣n đă chiếm
tới hai phần ba số sinh viên. Niên khóa
1972-1973, tổng số giáo sư dạy đại
học toàn miền Nam là 1,117. Trong số này có
174 giáo sư có bằng tiến sĩ. Chiếm
tỉ lệ 15.6% trong tổng số giáo sư
dạy đại học. Riêng Viện Đại
Học Sàig̣n đă chiến tới 68% giáo sư
trong tổng số giáo sư có học vị
tiến sĩ toàn miền Nam. Điểm đặc biệt
chế độ đại học miền Nam
thời bấy giờ là chế độ ghi danh
và chế độ thi tuyển vào đại
học sau khi lọt qua được hai cái
cổng thi tốt nghiệp Tú I và Tú II. Chế
độ ghi danh được áp dụng cho các
khoa Luật, Văn và Khoa học. C̣n chế độ
thi tuyển được áp dụng cho khoa:
Y-Nha-Dược-Kiến trúc-Sư phạm. Đó
là lư do tại sao số sinh viên học ở trường
Luật, trường Văn khoa và Khoa học lúc
nào cũng đông. Thời bấy giờ, măn
mắn lọt vào được đại
học rồi, nhưng kiếm được
mảnh bằng đại học không phải
dễ. Hay nói một cách khác, “vào” (nhập
học) th́ nhiều nhưng “ra” (tốt
nghiệp) chẳng bao nhiêu. Nh́n vào tỉ lệ
sinh viên tốt nghiệp các phân khoa thuộc
Viện Đại Học Sàig̣n niên khóa 1969-1970
th́ mới biết được giá trị
mảnh bằng cử nhân/kỹ sư thời
bấy giờ. V́ vậy, những ai được
đi du học cấp “đại học
viện” có thể nói được họ là
thành phần ưu tú. Trường Luật: Số sinh viên:
13,711. Số sinh viên tốt nghiệp: 154. Tỉ
lệ: 1.1%. Trường Văn khoa: Số sinh viên: 16,372. Số tốt nghiệp: 282. Tỉ lệ: 1.7% Trường Khoa học: Số sinh viên: 7,721. Số tốt nghiệp: 200. Tỉ lệ: 2.6% Trường Sư phạm: Số sinh viên: 2,038. Số tốt nghiệp: 563. Tỉ lệ 27.6% Trường Y khoa: Số sinh viên: 1,652. Số tốt nghiệp: 251. Tỉ lệ: 15.2% Trường Dược khoa: Số sinh viên: 2,112. Số tốt nghiệp: 307. Tỉ lệ: 14.5% Trường Nha khoa: Số sinh viên: 266. Số tốt nghiệp: 31. Tỉ lệ: 11.7% Trường Kiến trúc: Số
sinh viên: 689. Số tốt nghiệp: 31. Tỉ
lệ: 4.5%. IV. Chế độ
giáo dục sau năm 1975: Chiến tranh Việt nam chấm
dứt vào ngày 30-4-1975. Cả nước theo
chế độ xă hội chủ nghĩa. V́
vậy chế độ giáo dục miền Nam cũng
được “thống nhất” theo mô h́nh Liên
xô “vĩ đại”. Tuy nhiên, từ tiểu
học tới phổ thông (high school), miền
Bắc điều chỉnh lại giống chương
tŕnh miền Nam. Nghĩa là theo hệ 12 năm: 5-
4 - 3 (tiểu học: 5 năm; trung học cơ
sở: 4 năm; và trung học phổ thông: 3 năm).
Riêng chế độ đại học th́ 10 năm
đầu sau “giải phóng”, tức thời
“bao cấp”, được “quản lư”
rất chặt chẽ. V́ thế các sinh hoạt cũng
như số sinh viên hầu như không tăng.
Nếu không muốn nói là hệ đại
học toàn miền Nam coi như “điêu tàn”
theo vận nước. Nhưng từ khi trong nước
bắt đầu có chương tŕnh “đổi
mới”, th́ chế độ giáo dục cũng
bắt đầu “cất cánh”. Năm 1998,
lần đầu tiên trong lịch sử Việt
Nam (?) mới có “luật giáo dục”( gồm
110 điều khoản). Điểm đặc
biệt là cấp tiểu học được
coi là “nghĩa vụ”. Ngày 27 tháng 6 năm 2005
vừa qua, luật giáo dục thứ hai được
ban hành. Luật năm 1998 cũng như năm
2005, cơ bản chế độ giáo dục
vẫn do “Nhà Nước quản lư”. Đó là
lư do mà ngày nay nạn tham nhũng đă “xâm
nhập” vào ngành giáo dục. Đưa đến
hiện tượng “thương mại hóa”
bằng cấp. Từ bằng đại học
đến tiến sĩ. V́ vậy mới có
hiện tượng “lạm phát” văn
bằng tiến sĩ. Năm 1990, lần đầu
tiên (sau năm 1975) một số trường “bán
công” và “dân lập” mới được cho
phép thành lập. Theo giáo sư Chikada Masahiro, niên
khóa 2003 - 2004, tỉ lệ học sinh thuộc
hệ bán công và dân lập: tiểu học (0.4%),
trung học cơ sở (2.1%), trung học phổ
thông (31.8%), và đại học (10.2%). Tuy nhiên,
nếu so với thời bao cấp th́ chế
độ giáo dục trong nước hiện nay
được cải thiện rất nhiều. Nh́n
vào con số sinh viên đại học gia tăng
sau thập niên 1990 đủ chứng minh thành
quả “đổi mới” này. Theo thống , niên
học 1974-1975, cả nước có 215,000 sinh viên
(miền Bắc: 55,000; miền Nam: 160,000), th́ niên
học 2003-2004, tổng số sinh viên tăng lên
1,130,000 người. Ngoài ra, bước vào thế
kỷ 21, “nhà nước ta” đă công bố
chiến lược giáo dục 10 năm (2001-2010)
làm chỉ tiêu để phấn đấu
về mặt phổ cập giáo dục. Năm
2000, tỉ lệ phổ cập giáo dục các
cấp như sau: tiểu học: 95%; trung học cơ
sở: 74%; trung học phổ thông: 38%. Mục tiêu
tỉ lệ phổ cập năm 2010: tiểu
học: 100%; trung học cơ sở: 90%; trung
học phổ thông: 50%. Con số 50% cho trung
học phổ thông thật khiêm nhường so
với Nhật Bản hoặc Mỹ hiện nay.
Với tỉ lệ này th́ con đường
trở thành “rồng con Á Châu” cũng c̣n
nhiều gay go. Tuy nhiên, nếu nh́n vào mục tiêu
năm 2010 cho cấp sau đại học: thạc
sĩ (22,221 người) và tiến sĩ (15,846) th́
chúng ta sẽ thấy hiện tượng “ra ngơ
gặp tiến sĩ” (trong thời chiến thường
có câu: ra ngơ gặp anh hùng). Theo báo Thanh Nien Online
ngày 6 tháng 10, năm 2005, tổng số giáo sư
dạy đại học trong nước hiện
nay có 6,632 vị. Trong số này chưa tới 50%
giáo sư có pḥng làm việc (pḥng nghiên cứu).
Như vậy, chất lượng số thạc
sĩ và tiến sĩ ra trường lại là
dấu hỏi lớn. Tóm lại, từ thời phong
kiến tới thực dân và cận đại,
thế hệ cha ông cũng như chính bản thân
chúng ta đă không có được cơ hội
học hành dễ dàng như ở Mỹ hiện
nay. Thời bấy giờ, được cắp
sách đi học là một may mắn. Tốt
nghiệp cấp Tiểu học đă là mừng.
Tốt nghiệp lớp trung học lại
mừng hơn. Tốt nghiệp tú tài th́ khỏi
nói. Tốt nghiệp đại học chỉ là
giấc mơ. Sở dĩ tỉ lệ tốt
nghiệp các cấp từ tiểu học tới
đại học rất thấp là do ảnh hưởng
xă hội phong kiến, chính sách ngu dân của
thực dân Pháp và chính sách “bắt lính”
thời chiến tranh. Tuy nhiên, thời chế
độ Việt Nam Cộng Ḥa, mặc dầu
cả miền Nam phải đương đầu
với cuộc chiến tàn khốc, nhưng
nền giáo dục dưới chính thể tự
do đă đạt được thành tích xóa
nạn mù chữ mà đa số đă có
được tŕnh độ tiểu học.
Từ năm 1955 tới 1975, chỉ sau 20 năm,
miền Nam đă có được một
tầng lớp đáng kể có tŕnh độ
từ tú tài đến đại học. Đây
chính là ṇng cốt cơ bản của lớp người
tị nạn đă và đang đào tạo cho
con cháu chúng ta tại các nước tư bản
tiên tiến một thế hệ có nền
học vấn đa số tốt nghiệp từ
đại học trở lên. Thế hệ này là
một tài nguyên vô cùng quí báu cho việc phát
triển quê hương Việt Nam trong tương
lai. Theo tạp chí US News & World Report số ra ngày
28 tháng 11 năm 2005, tỉ lệ có bằng đại
học lứa tuổi 25-34 vào năm 2003, Mỹ:
39%; Nhật: 52%; Hàn Quốc: 47%. Nếu nh́n vào dân
số và số sinh viên trong nước Việt
Nam hiện nay th́ tỉ lệ này có lẽ chưa
tới 10%. Như vậy th́ con đường công
nghiệp hóa của Việt Nam vẫn chưa
thấy ánh sáng đầu đường
hầm. Chế độ giáo dục trong nước
chỉ có thể phát triển kịp các nước
khác nếu Việt Nam có can đảm làm một
cuộc cách mạng về giáo dục, nghĩa là
tự do hóa giáo dục, đại học tự
trị (không bị nhà nước không chế).
Cho phép các tôn giáo mở trường học. Ngay
như ông Đào Trinh Nhất trong cuốn sách “Nước
Nhựt Bổn - 30 năm Duy Tân”, xuất bản
năm 1936, cũng đă đề cập đến
vai tṛ đóng góp của hệ thống đào
tạo giáo dục tư nhân của người
Nhật thời Minh trị Duy Tân. Ông đă
khẳng định : “Nhật Bổn Duy Tân, chính
là giáo dục, mà giáo dục mau được
kết quả tốt đẹp, là nhờ chính
phủ và nhân dân cùng ra tay gắng sức”. Ngoài
ra, đất đai phải được ưu
tiên dành cho việc xây cất trường
học và trung tâm nghiên cứu. Nên đánh
thuế trên những ai có “nhà cao cửa
rộng” (thuế bất động sản) và dùng
tiền thuế này cho ngành giáo dục địa
phương như xă hội Mỹ hiện nay. Nhà
cửa của người tị nạn thay v́
trả lại cho người tị nạn (trên
nguyên tắc phải trả lại) th́ người
ở hiện nay (hầu hết là cán bộ)
phải trả tiền (dưới h́nh thức
trả góp hàng tháng) giá trị nhà cửa này cho
ngành giáo dục địa phương. Giáo
dục phải đi trước kinh tế
chứ không thể có t́nh trạng chú trọng
đến “kinh tế thị trường” mà
giáo dục lại theo thể chế “định
hướng xă hội chủ nghĩa” được. Nguyễn Đ́nh Khanh Xuân Bính Tuất 2006 (*) Ghi chú: Bài viết này chủ
yếu dựa trên tài liệu của hai tác
giả: Nguyễn Thị Chân Quỳnh: “
Khoa Cử Việt Nam, Tập Thượng: Thi Hương”.
Nhà xuất bản: An Tiêm, 2002. Chikada Masahiro: “Kindai Betonamu Koto Kyoiku no Seisakushi” (Chính sách Giáo Dục Cao Đẳng Việt Nam thời Cận Đại). Nhà xuất bản: Taka (Tokyo, Nhật Bản), 2005. |