CHẾ ĐỘ GIÁO DỤC VIỆT NAM

Nguyễn Đ́nh Khanh (Exryu USA)

Mục đích của bài viết này là để giới thiệu cho các bạn đọc về t́nh trạng giáo dục của Việt Nam mà thế hệ cha ông của chúng ta trước đây cũng như chính chúng ta đă từng trải. Nội dung gồm 3 phần: Phần I nói về chế độ thi cử thời xưa; phần II nói về chế độ thi cử thời Pháp thuộc; phần III về thời chiến tranh Việt Nam; và phần IV đề cập tới t́nh trạng giáo dục sau năm 1975.

Thời xưa cũng như hiện nay, được cắp sách tới trường là một hạnh phúc. Được mảnh bằng đại học trong tay thật là hănh diện. Nếu cuộc đời sinh viên trong 4 năm đại học đầy những kỷ niệm của tuổi trẻ, th́ những ngày thi cử phải thức khuya gạo bài cũng khó quên. Ở Mỹ hay Nhật, nếu ai chịu khó học bài th́ thế nào cũng tốt nghiệp. Ngược lại, thế hệ chúng ta cũng như cha ông trước đây, học là một chuyện, thi đỗ lại là chuyện khác. V́ thế mới có câu “học tài thi phận”. Ngày nay vào đại học là để có “job thơm”. Nhưng thời xưa thi đậu là để “làm quan”. Thời chiến tranh Việt Nam, thi đậu để khỏi phải “đi lính”.

I. Chế độ thi cử thời phong kiến.

Đề cập tới nền giáo dục Việt Nam thời phong kiến tức là nói về xă hội từ thời Hùng Vương cho tới hậu bán thế kỷ thứ 19. Hơn 1000 năm dưới ách đô hộ của Trung quốc, có thể nói mô h́nh giáo dục của xă hội Việt Nam thời bấy giờ rập khuôn Trung quốc. Hay nói một cách khác, “Nho giáo” là trung tâm của chế độ thi cử thời phong kiến. V́ Việt Nam chưa có chữ viết nên chữ “Nho” là gốc. Nho giáo thời Nhà Lư (1009-1225) là thời kỳ hưng thịnh nhất và cũng là thời kỳ nền giáo dục Việt Nam theo mô h́nh Trung quốc được thiết lập và phát triển đáng kể. Điểm đặc biệt là vua Lư Thánh Tông đă thành lập “Văn Miếu” tại thủ đô Thăng Long (Hà Nội) vào năm 1070. Khoa thi đầu tiên được tổ chức vào năm 1075. Sang đến thời vua Lư Nhân Tông, “Quốc Tử Giám” được thành lập để con vua và con các đại thần học. Đây là trường “đại học” đầu tiên của Việt Nam với hơn 4000 năm văn hiến. Hệ thống giáo dục thời đó gồm trường “tư thục”, c̣n gọi là trường “làng” dành cho đại chúng do các cụ đồ nho mở lớp dạy học. Cấp cao hơn nữa th́ có trường “quan học” dành cho con cái của các quan huyện và phủ. Cấp cao nhất là trường “Quốc Tử Giám” dành cho con cái triều đ́nh. Giai cấp xă hội thời phong kiến được phản ảnh khá rơ rệt qua cách xưng hô đối với học tṛ. Con vua, tức các hoàng tử được gọi là “Tôn Sinh”. Con các quan trong triều đ́nh được gọi là “Ấm Sinh”. Con các quan huyện/phủ gọi là “Cống Sinh”.

Chế độ thi cử thời phong kiến được chia thành 3 cấp: Thi Hương, Thi Hội, và Thi Đ́nh.

Thi Hương: Chữ “Hương” ở đây không phải “hương hoa” mà từ chữ “quê hương”. Nghĩa là dầu ở đâu mà muốn ghi danh đi thi th́ phải về tận quê hương ḿnh để dự thi. V́ thế, thi Hương luôn luôn được tổ chức tại địa phương và được tổ chức từng 3 năm một vào các năm Tị-Sửu-Mẹo-Dần của 12 chi theo lịch Trung quốc. Theo giáo sư Phạm Văn Sơn (Việt Sử Toàn Thư), năm 1462 có 60,000 thí sinh ghi danh dự khoa thi Hương tại 12 “trường thi” trong cả nước. “Trường thi” không phải là một trường học như chúng ta thường nghĩ mà là một băi đất trống rất rộng giống như “trường đua Phú Thọ” ở Việt Nam, hoặc giống như băi đất trống tại ḍng Đồng Công tại thành phố Carthage, Missouri, mà bà con công giáo thường về cắm lều dự Đại Hội Thánh Mẫu hàng năm, để các thí sinh đựng lều ở cả tháng cho một khoa thi. Năm 1876 có 6 địa điểm thi: Huế, B́nh Định, Nghệ An, Thanh Hóa, Nam Định và Hà Nội. Thời xưa, các cụ thí sinh (sở dĩ gọi các “cụ” là v́ những thí sinh đi thi hầu hết là lớn tuổi mà ta thường gọi là các cụ đồ) th́ nhiều mà đậu chẳng bao nhiêu. Nếu nh́n vào tỉ lệ đỗ đạt th́ thật là hỡi ôi. V́ mục đích mở các khoa thi thời bấy giờ không phải để khuyến khích dân chúng cắp sách đi học mà là để tuyển lựa người ra làm quan. Chẳng hạn khoa Thi Hương tại Hà Nội năm 1876 có 4,500 sĩ tử vác lều chơng đi thi, chỉ có 25 người đủ điểm đậu để được danh hiệu “cử nhân”, c̣n gọi là “hương cống”, và 50 người đậu vớt (điểm thấp hơn) để được danh hiệu “tú tài”, c̣n được gọi là “sinh đồ”. Năm 1884, triều đ́nh ra điều lệ thi mới về tuyển người: nhất cử tam tú. Nghĩa là cứ lấy một người đỗ cử nhân th́ cho 3 người đỗ tú tài. Thời gian thi không phải chỉ có một hai ngày mà tới cả tháng cho một khoa thi. Thí dụ năm 1909, khoa thi Hương được tổ chức tại Hà Nam. Ngày 13 tháng 11, có 3,068 thí sinh dự thi kỳ 1 và chỉ đỗ được 934 người. Số thí sinh đỗ kỳ 1 làm bài thi kỳ 2 vào ngày 25 tháng 11, và số người đỗ kỳ này là 408 người. Số người này được thi kỳ 3 vào ngày 2 tháng 12 và kết quả đỗ được 261 người. Ngày 11 tháng 12 là kỳ 4 của khoa thi Hương chỉ lấy 50 người điểm cao nhất là “cử nhân”, và lấy 150 người “tú tài” với mức điểm thấp hơn. Từ con số 3,068 người dự thi kỳ 1 và sau đợt thi kỳ 4, con số đỗ “cử nhân” chỉ có 50 người. Tỉ lệ 1.6% thật “dă man”. Năm 1900 là năm trường Hà Nam có số thí sinh dự thi đông nhất lên tới 12,948 người, và chỉ lọt bảng vàng con số 90 cử nhân. Tỉ lệ đậu 0.7%. Năm 1909, ngoài chữ Hán, chữ Quốc Ngữ được đưa thêm vào môn thi. Năm 1915, khoa thi Hương c̣n có thêm môn tiếng Pháp. Năm 1915, khoa thi Hương tại Huế có 3,254 thí sinh th́ chỉ có 32 người đỗ cử nhân. Năm 1918 là năm khoa thi Hương được tổ chức lần cuối cùng của chế độ thi cử thời phong kiến tại 4 địa phương: Thừa Thiên, B́nh Định, Nghệ An, và Thanh Hóa. Sở dĩ sau đó không c̣n tổ chức thi Hương nữa là v́ chế độ thi cử của thực dân Pháp đă được thay thế.

Thi Hội: Nếu thi Hương được tổ chức tại các địa phương th́ thi Hội chỉ được tổ chức tại triều đ́nh mà thôi. Thi Hội được tổ chức cũng cứ 3 năm một lần, sau mỗi kỳ thi Hương. Nghĩa là ai đậu kỳ thi Hương th́ sang năm được ghi danh thi Hội. Năm 1844, cả nước có 281 thí sinh về Kinh đô dự thi, và chỉ có 10 người đủ điểm để đậu “chính bảng” và 15 người đậu vớt gọi là “phó bảng”.

Thi Đ́nh: Khác với Thi Hội, Thi Đ́nh do chính nhà vua ra đề thi. Điểm đậu cao nhất là 10 điểm. Nếu ai đậu được điểm này gọi là “Trạng Nguyên”. Từ năm 1822 tới năm 1919, tổng số có 39 kỳ thi Đ́nh để chọn được 219 tiến sĩ. Năm 1842 là năm có số đỗ tiến sĩ cao nhất là 13 vị. Năm 1865 số tiến sĩ đỗ thấp nhất chỉ có 3 vị. Như vậy, trung b́nh cứ mỗi kỳ thi Đ́nh th́ có 7 người đậu “tiến sĩ”.

Theo bà Nguyễn Thị Chân Quỳnh (Khoa Cử Việt Nam, nhà xuất bản An Tiêm, 2002), kể từ khi nhà Lư mở khoa thi đầu tiên (1075) tới thời nhà Nguyễn băi bỏ các khoa thi cử (1919), nước ta đă tổ chức được 146 Đại khoa để chọn được 2,413 ông “tiến sĩ”. Riêng thời nhà Nguyễn, từ Gia Long (1802-1819) tới Khải Định (1916-1925), đă tổ chức được 47 khoa thi Hương để kén chọn được 5,190 ông Cử Nhân.

II. Chế độ thi cử thời Pháp thuộc.

Năm 1884, Ḥa Ước Giáp Thân, c̣n gọi là Ḥa Ước Patenôtre, đặt lănh thổ Việt Nam dưới quyến bảo hộ của thực dân Pháp. Thời điểm này, chế độ giáo dục và thi cử tại Việt Nam được đổi từ mô h́nh Trung Quốc sang mô h́nh nước Pháp. Tiếng Nho (Hán văn) nhường chỗ cho tiếng Quốc Ngữ và tiếng Pháp. Bậc tiểu học, trung học và đại học được qui định rơ rệt. Tuy nhiên, hệ thống trường Pháp dành cho con cái người Pháp hoặc những người Việt giàu có, và hệ thống trường Việt, c̣n gọi là trường Pháp-Việt, có phần khác nhau.

a/ Hệ thống trường Pháp:

Tiểu học: 5 năm.

Trung học đệ nhất cấp, c̣n gọi là Cao Đẳng Tiểu Học (Junior High): 4 năm

Trung học đệ nhị cấp, gọi là Lycée (High School): 3 năm.

Sau khi tốt nghiệp High School, học sinh người Pháp về Pháp học đại học tại mẫu quốc.

Năm 1924, cả Đông Dương (Việt-Miên-Lào), chỉ có 5 trường Trung Học Đệ Nhất Cấp và 3 trường High School (Hà Nội: Lycée Albert Sarraut; Sài G̣n: Lycée Chasseloup Laubat; và Đà Lạt: Petit Lycée). Năm 1937, số học sinh học tại 3 trường này như sau: Trường Albert Sarraut: 1,126 học sinh (Pháp: 725 và Việt: 401); trường Chasseloup Laurat: 979 (Pháp: 830; Việt: 149); trường Petit Lycée ở Đà lạt: 387 (Pháp: 342; Việt: 47).

b/ Hệ thống trường Pháp-Việt dành cho người Việt:

1. Hệ Sơ Cấp 3 năm (écoles primaires élémentaires). Chủ yếu học chữ Quốc Ngữ. Tiếng Pháp và tiếng Hán là phụ. Học sinh tốt nghiệp được cấp bằng “Sơ Học Yếu Lược”.

2. Hệ Sơ Đẳng 3 năm (écoles primaires). Học tiếng Pháp là chính. Chữ Quốc Ngữ và chữ Hán trở thành môn phụ.

3. Hệ Cao Đẳng Tiểu Học (écoles primaires superieures): 4 năm. Tương đương trung học đệ nhất cấp ( thời Việt Nam Cộng Ḥa), hoặc “trung học cơ sở” theo cách gọi trong nước hiện nay. Tốt nghiệp được cấp bằng “Thành Chung”.

4. Hệ Lycée Pháp-Việt (Lycée Franco-Indigènes): 3 năm. Tương đương trung học đệ nhị cấp hoặc “trung học phổ thông”. Năm 1929, ở Hà Nội có trường Trung Học Bảo Hộ (Lycée du Protectorat); ở Sài G̣n có trường Trung Học Petrus Lư; và ở Huế có trường Quốc Học. Số học sinh học tại 3 trường này như sau: Hà Nội: 164 học sinh; Sài G̣n: 159; và Huế: 77.

Để đào tạo số người thông dịch tiếng Pháp, năm 1886, thực dân Pháp thành lập “Trường Thông Ngôn Hà Nội”, hệ 4 năm. Tương đương trung học đệ nhất cấp. Điều kiện nhập học là phải tốt nghiệp cấp tiểu học. Năm 1904, trường này được đổi tên là “Trường Thành Chung” (Ecôle complimentaire). Sau 4 năm thi tốt nghiệp để lấy bằng “Thành Chung” (Diplôme dEtudes complimentaire), tức bằng “trung học đệ nhất cấp”, hoặc bằng “trung học cơ sở” theo cách gọi trong nước hiện nay. Giới b́nh dân trước đây thường gọi là bằng Đít Lôm. Các quan thời vua Bảo Đại như ông Ngô Đ́nh Khả hoặc ông Nguyễn Hữu Bài đều tốt nghiệp bằng Thành Chung.

5. Hệ Đại Học được thiết lập đầu tiên ở Việt Nam khi Pháp thành lập trường đại học Y-Dược tại Hà Nội vào năm 1902. Năm 1938, trường này có cả thảy 208 sinh viên. Tổng số sinh viên Việt của 3 kỳ (Bắc-Trung-Nam) là 176, chiếm 85%. Số sinh viên c̣n lại là Pháp (25), Lào (2), Trung quốc (3), Cămbốt (1), và Ấn độ (1). Đại học Luật được thành lập năm 1918. Đại học Sư phạm: năm 1917 và đại học Nông-Lâm-Súc: năm 1918.

Điểm đặc biệt khá lư thú về tỉ lệ tốt nghiệp tiểu học cũng như trung học thời Pháp thuộc. Theo giáo sư Chikada Masahiro, nh́n vào niên khóa 1928- 29, tỉ lệ tốt nghiệp tiểu học sơ cấp (lớp 1 tới lớp 3): 33.2%. Tỉ lệ tốt nghiệp tiểu học sơ đẳng: 68%. Tỉ lệ tốt nghiệp tiểu học cao đẳng (trung học đệ nhất cấp): 66.9%. Tỉ lệ tốt nghiệp trung học đệ nhị cấp (tú tài ): 31%. Theo ông Marr (David G. Marr: “ Vietnamese Tradition on Trial 1920-1945”, Univ. of California, 1981), số người biết đọc tiếng quốc ngữ trong cả nước chỉ khoảng 1,800,000 người vào năm 1939, tương đương khoảng 10% dân số. Như vậy, tỉ lệ “mù chữ” tại Việt Nam thời bấy giờ là 90%.

III. Chế độ giáo dục thời Việt Nam Cộng Ḥa (1955 - 1975):

Sau ngày kư Hiệp Định Genève, Việt Nam bị chia làm hai. Miền Bắc theo chế độ xă hội chủ nghĩa. V́ vậy, hệ thống giáo dục miền Bắc được cải tổ theo mô h́nh Liên Xô. Hệ thống giáo dục miền Nam cơ bản vẫn giữ mô h́nh của Pháp và dần dần theo mô h́nh của Mỹ. Thời Pháp thuộc, từ tiểu học đến hết trung học đệ nhị cấp là 13 năm (Sơ cấp: 3 năm; Sơ đẳng: 3 năm; Cao đẳng tiểu học: 4 năm; và Lycée: 3 năm). Thời Việt Nam Cộng Ḥa chế độ 13 năm được cải tổ lại 12 năm cho 3 cấp như mô h́nh của Pháp: Cấp tiểu học: 5 năm; trung học đệ nhất cấp: 4 năm; và trung học đệ nhị cấp: 3 năm. Chế độ thi cử được áp dụng để tốt nghiệp các cấp vẫn c̣n rất khắt khe. Theo giáo sư Elon E. Hildreth (“The Challenge in Education”, Michigan State Univ. Press, 1959), vào năm 1957, cứ 170 học sinh học trung học đệ nhất cấp th́ chỉ có 1 người tốt nghiệp trung học đệ nhị cấp. Theo cựu phó thủ tướng kiêm bộ trưởng giáo dục Nguyễn Lưu Viên, cứ 100 học sinh nhập học bậc tiểu học th́ ch́ c̣n phân nửa đậu tiểu học, và chỉ có 7 em tốt nghiệp trung học đệ nhất cấp. Dựa vào tài liệu của Bộ Giáo Dục miền Nam trước đây, tỉ lệ tốt nghiệp tiểu học vào năm 1966 là 65% và tốt nghiệp tú tài II là 21%. V́ t́nh trạng chiến tranh, con số sinh viên lọt được vào cổng đại học thật trần ai. Theo thống kê, vào thập niên 1960, tỉ lệ tốt nghiệp tú tài I (lớp 11 bây giờ) là 33%, và tỉ lệ tốt nghiệp tú tài II (lớp 12) là 45%. Nghĩa là cứ 3 người học lớp 11 th́ chỉ có 1 người đậu để vào lớp 12. Tỉ lệ tốt nghiệp lớp 12 trung b́nh là 50%.

Cấp Đại Học:

Hậu bán thập niên 1950, miền Nam có 3 trường đại học lớn: Viện Đại Học Sài G̣n, Viện Đại Học Huế và Đại Học Đà Lạt. Trong số này, đại học Sàig̣n là lớn nhất. Niên khóa 1974-1975, tổng số sinh viên toàn miền Nam là 166,475 người th́ Viện Đại Học Sàig̣n đă chiếm tới hai phần ba số sinh viên. Niên khóa 1972-1973, tổng số giáo sư dạy đại học toàn miền Nam là 1,117. Trong số này có 174 giáo sư có bằng tiến sĩ. Chiếm tỉ lệ 15.6% trong tổng số giáo sư dạy đại học. Riêng Viện Đại Học Sàig̣n đă chiến tới 68% giáo sư trong tổng số giáo sư có học vị tiến sĩ toàn miền Nam.

Điểm đặc biệt chế độ đại học miền Nam thời bấy giờ là chế độ ghi danh và chế độ thi tuyển vào đại học sau khi lọt qua được hai cái cổng thi tốt nghiệp Tú I và Tú II. Chế độ ghi danh được áp dụng cho các khoa Luật, Văn và Khoa học. C̣n chế độ thi tuyển được áp dụng cho khoa: Y-Nha-Dược-Kiến trúc-Sư phạm. Đó là lư do tại sao số sinh viên học ở trường Luật, trường Văn khoa và Khoa học lúc nào cũng đông. Thời bấy giờ, măn mắn lọt vào được đại học rồi, nhưng kiếm được mảnh bằng đại học không phải dễ. Hay nói một cách khác, “vào” (nhập học) th́ nhiều nhưng “ra” (tốt nghiệp) chẳng bao nhiêu. Nh́n vào tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp các phân khoa thuộc Viện Đại Học Sàig̣n niên khóa 1969-1970 th́ mới biết được giá trị mảnh bằng cử nhân/kỹ sư thời bấy giờ. V́ vậy, những ai được đi du học cấp “đại học viện” có thể nói được họ là thành phần ưu tú.

Trường Luật: Số sinh viên: 13,711. Số sinh viên tốt nghiệp: 154. Tỉ lệ: 1.1%.

Trường Văn khoa: Số sinh viên: 16,372. Số tốt nghiệp: 282. Tỉ lệ: 1.7%

Trường Khoa học: Số sinh viên: 7,721. Số tốt nghiệp: 200. Tỉ lệ: 2.6%

Trường Sư phạm: Số sinh viên: 2,038. Số tốt nghiệp: 563. Tỉ lệ 27.6%

Trường Y khoa: Số sinh viên: 1,652. Số tốt nghiệp: 251. Tỉ lệ: 15.2%

Trường Dược khoa: Số sinh viên: 2,112. Số tốt nghiệp: 307. Tỉ lệ: 14.5%

Trường Nha khoa: Số sinh viên: 266. Số tốt nghiệp: 31. Tỉ lệ: 11.7%

Trường Kiến trúc: Số sinh viên: 689. Số tốt nghiệp: 31. Tỉ lệ: 4.5%.

IV. Chế độ giáo dục sau năm 1975:

Chiến tranh Việt nam chấm dứt vào ngày 30-4-1975. Cả nước theo chế độ xă hội chủ nghĩa. V́ vậy chế độ giáo dục miền Nam cũng được “thống nhất” theo mô h́nh Liên xô “vĩ đại”. Tuy nhiên, từ tiểu học tới phổ thông (high school), miền Bắc điều chỉnh lại giống chương tŕnh miền Nam. Nghĩa là theo hệ 12 năm: 5- 4 - 3 (tiểu học: 5 năm; trung học cơ sở: 4 năm; và trung học phổ thông: 3 năm). Riêng chế độ đại học th́ 10 năm đầu sau “giải phóng”, tức thời “bao cấp”, được “quản lư” rất chặt chẽ. V́ thế các sinh hoạt cũng như số sinh viên hầu như không tăng. Nếu không muốn nói là hệ đại học toàn miền Nam coi như “điêu tàn” theo vận nước. Nhưng từ khi trong nước bắt đầu có chương tŕnh “đổi mới”, th́ chế độ giáo dục cũng bắt đầu “cất cánh”. Năm 1998, lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam (?) mới có “luật giáo dục”( gồm 110 điều khoản). Điểm đặc biệt là cấp tiểu học được coi là “nghĩa vụ”. Ngày 27 tháng 6 năm 2005 vừa qua, luật giáo dục thứ hai được ban hành. Luật năm 1998 cũng như năm 2005, cơ bản chế độ giáo dục vẫn do “Nhà Nước quản lư”. Đó là lư do mà ngày nay nạn tham nhũng đă “xâm nhập” vào ngành giáo dục. Đưa đến hiện tượng “thương mại hóa” bằng cấp. Từ bằng đại học đến tiến sĩ. V́ vậy mới có hiện tượng “lạm phát” văn bằng tiến sĩ. Năm 1990, lần đầu tiên (sau năm 1975) một số trường “bán công” và “dân lập” mới được cho phép thành lập. Theo giáo sư Chikada Masahiro, niên khóa 2003 - 2004, tỉ lệ học sinh thuộc hệ bán công và dân lập: tiểu học (0.4%), trung học cơ sở (2.1%), trung học phổ thông (31.8%), và đại học (10.2%). Tuy nhiên, nếu so với thời bao cấp th́ chế độ giáo dục trong nước hiện nay được cải thiện rất nhiều. Nh́n vào con số sinh viên đại học gia tăng sau thập niên 1990 đủ chứng minh thành quả “đổi mới” này. Theo thống , niên học 1974-1975, cả nước có 215,000 sinh viên (miền Bắc: 55,000; miền Nam: 160,000), th́ niên học 2003-2004, tổng số sinh viên tăng lên 1,130,000 người.

Ngoài ra, bước vào thế kỷ 21, “nhà nước ta” đă công bố chiến lược giáo dục 10 năm (2001-2010) làm chỉ tiêu để phấn đấu về mặt phổ cập giáo dục. Năm 2000, tỉ lệ phổ cập giáo dục các cấp như sau: tiểu học: 95%; trung học cơ sở: 74%; trung học phổ thông: 38%. Mục tiêu tỉ lệ phổ cập năm 2010: tiểu học: 100%; trung học cơ sở: 90%; trung học phổ thông: 50%. Con số 50% cho trung học phổ thông thật khiêm nhường so với Nhật Bản hoặc Mỹ hiện nay. Với tỉ lệ này th́ con đường trở thành “rồng con Á Châu” cũng c̣n nhiều gay go. Tuy nhiên, nếu nh́n vào mục tiêu năm 2010 cho cấp sau đại học: thạc sĩ (22,221 người) và tiến sĩ (15,846) th́ chúng ta sẽ thấy hiện tượng “ra ngơ gặp tiến sĩ” (trong thời chiến thường có câu: ra ngơ gặp anh hùng). Theo báo Thanh Nien Online ngày 6 tháng 10, năm 2005, tổng số giáo sư dạy đại học trong nước hiện nay có 6,632 vị. Trong số này chưa tới 50% giáo sư có pḥng làm việc (pḥng nghiên cứu). Như vậy, chất lượng số thạc sĩ và tiến sĩ ra trường lại là dấu hỏi lớn.

Tóm lại, từ thời phong kiến tới thực dân và cận đại, thế hệ cha ông cũng như chính bản thân chúng ta đă không có được cơ hội học hành dễ dàng như ở Mỹ hiện nay. Thời bấy giờ, được cắp sách đi học là một may mắn. Tốt nghiệp cấp Tiểu học đă là mừng. Tốt nghiệp lớp trung học lại mừng hơn. Tốt nghiệp tú tài th́ khỏi nói. Tốt nghiệp đại học chỉ là giấc mơ. Sở dĩ tỉ lệ tốt nghiệp các cấp từ tiểu học tới đại học rất thấp là do ảnh hưởng xă hội phong kiến, chính sách ngu dân của thực dân Pháp và chính sách “bắt lính” thời chiến tranh. Tuy nhiên, thời chế độ Việt Nam Cộng Ḥa, mặc dầu cả miền Nam phải đương đầu với cuộc chiến tàn khốc, nhưng nền giáo dục dưới chính thể tự do đă đạt được thành tích xóa nạn mù chữ mà đa số đă có được tŕnh độ tiểu học. Từ năm 1955 tới 1975, chỉ sau 20 năm, miền Nam đă có được một tầng lớp đáng kể có tŕnh độ từ tú tài đến đại học. Đây chính là ṇng cốt cơ bản của lớp người tị nạn đă và đang đào tạo cho con cháu chúng ta tại các nước tư bản tiên tiến một thế hệ có nền học vấn đa số tốt nghiệp từ đại học trở lên. Thế hệ này là một tài nguyên vô cùng quí báu cho việc phát triển quê hương Việt Nam trong tương lai. Theo tạp chí US News & World Report số ra ngày 28 tháng 11 năm 2005, tỉ lệ có bằng đại học lứa tuổi 25-34 vào năm 2003, Mỹ: 39%; Nhật: 52%; Hàn Quốc: 47%. Nếu nh́n vào dân số và số sinh viên trong nước Việt Nam hiện nay th́ tỉ lệ này có lẽ chưa tới 10%. Như vậy th́ con đường công nghiệp hóa của Việt Nam vẫn chưa thấy ánh sáng đầu đường hầm. Chế độ giáo dục trong nước chỉ có thể phát triển kịp các nước khác nếu Việt Nam có can đảm làm một cuộc cách mạng về giáo dục, nghĩa là tự do hóa giáo dục, đại học tự trị (không bị nhà nước không chế). Cho phép các tôn giáo mở trường học. Ngay như ông Đào Trinh Nhất trong cuốn sách “Nước Nhựt Bổn - 30 năm Duy Tân”, xuất bản năm 1936, cũng đă đề cập đến vai tṛ đóng góp của hệ thống đào tạo giáo dục tư nhân của người Nhật thời Minh trị Duy Tân. Ông đă khẳng định : “Nhật Bổn Duy Tân, chính là giáo dục, mà giáo dục mau được kết quả tốt đẹp, là nhờ chính phủ và nhân dân cùng ra tay gắng sức”. Ngoài ra, đất đai phải được ưu tiên dành cho việc xây cất trường học và trung tâm nghiên cứu. Nên đánh thuế trên những ai có “nhà cao cửa rộng” (thuế bất động sản) và dùng tiền thuế này cho ngành giáo dục địa phương như xă hội Mỹ hiện nay. Nhà cửa của người tị nạn thay v́ trả lại cho người tị nạn (trên nguyên tắc phải trả lại) th́ người ở hiện nay (hầu hết là cán bộ) phải trả tiền (dưới h́nh thức trả góp hàng tháng) giá trị nhà cửa này cho ngành giáo dục địa phương. Giáo dục phải đi trước kinh tế chứ không thể có t́nh trạng chú trọng đến “kinh tế thị trường” mà giáo dục lại theo thể chế “định hướng xă hội chủ nghĩa” được.

Nguyễn Đ́nh Khanh

Xuân Bính Tuất 2006

(*) Ghi chú: Bài viết này chủ yếu dựa trên tài liệu của hai tác giả:

Nguyễn Thị Chân Quỳnh: “ Khoa Cử Việt Nam, Tập Thượng: Thi Hương”. Nhà xuất bản: An Tiêm, 2002.

Chikada Masahiro: “Kindai Betonamu Koto Kyoiku no Seisakushi” (Chính sách Giáo Dục Cao Đẳng Việt Nam thời Cận Đại). Nhà xuất bản: Taka (Tokyo, Nhật Bản), 2005.