Trong thời gian diễn ra cuộc Thế
chiến thứ nhất tàn khốc, tôi hăy c̣n là
một cậu bé sống ở một thung lũng
xa xôi vây quanh bởi những khu rừng trên ḥn
đảo Shikoku thuộc quần đảo
Nhật Bản, cách nơi đây hàng ngàn
dặm.
Ngày đó có hai quyển sách mà tôi
hết sức say mê: đó là Những
cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn [1]
và Những cuộc phiêu lưu kỳ thú
của Nils [2]
.
Rồi sau đó thế giới bị vây
bọc bởi những làn sóng hoảng sợ.
Bằng việc đọc câu truyện về
Huckleberry, tôi cảm thấy tôi có thể lư
giải việc ḿnh đi vào rừng vào ban
đêm và ngủ giữa đám cây rừng
với cảm giác an toàn không thể nào có
nổi khi ở trong nhà. Nhân vật chính trong tác
phẩm Những cuộc phiêu lưu kỳ thú
của Nils biến h́nh thành một sinh
vật nhỏ, hiểu được tiếng nói
của loài chim và phiêu lưu mạo hiểm.
Từ câu chuyện đó tôi đă t́m
được rất nhiều niềm vui.
Thứ nhất, là một cậu bé sống
tại chốn rừng sâu xa xôi của đảo
Shikoku như tổ tiên tôi vốn sống từ
bao đời nay, tôi đă khám phá ra rằng
thế giới này và lối sống này thật
sự cho ta tự do. Thứ hai, tôi đồng
cảm và tự coi ḿnh cũng như cậu bé
Nils kia, một cậu nhỏ hư nết, trong lúc
rong ruổi khắp nơi trên đất nước
Thụy Điển đă cùng chung sống và
chiến đấu bảo vệ loài ngỗng
trời, rồi trở thành một chàng trai,
vẫn nguyên vẹn tính ngây thơ song đầy
tự tin và cũng rất khiêm nhường.
Cuối cùng khi trở về nhà, Nils chuyện tṛ
với cha mẹ. Tôi cho rằng niềm vui sướng
lớn lao nhất mà tôi có được
từ câu chuyện xuất phát từ ngôn
ngữ của nó, bởi tôi như được
thanh lọc và nâng cao lên khi tôi cùng nói với
Nils những lời sau:
"Cha ơi, Mẹ ơi! Con lớn rồi. Con
lại được làm người
rồi!"
Đặc biệt, tôi vô cùng thích thú câu "Con
lại được làm người
rồi". Khi lớn lên, tôi liên tiếp
phải đối mặt với những khó khăn
trong mọi lĩnh vực của cuộc
sống - trong gia đ́nh, trong mối quan hệ
với xă hội Nhật Bản và trong lối
sống tự do của tôi ở thời kỳ
nửa sau thế kỷ 20 này. Tôi đă sống
sót được nhờ tái hiện những
đau khổ và khó khăn đó dưới h́nh
thức tiểu thuyết. Trong quá tŕnh đó, tôi
tự thấy ḿnh nhắc đi nhắc lại,
gần như là với những tiếng thở
dài câu "Con lại được làm người
rồi". Tại đây, trong lúc này, có
lẽ tự nói về ḿnh như vậy
thật không được phù hợp lắm.
Tuy vậy, hăy cho phép tôi nói rằng về căn
bản, phong cách viết của tôi khởi
nguồn từ những vấn đề cá nhân,
sau đó gắn kết chúng với xă hội,
với cuộc đời và với thế
giới này. Tôi hy vọng các bạn sẽ tha
thứ cho tôi nếu tôi nói thêm chút nữa
về những vấn đề của cá nhân ḿnh.
Gần nửa thế kỷ trước đây,
khi sống trong chốn rừng sâu đó, tôi
đọc Những cuộc phiêu lưu kỳ
thú của Nils và dự cảm được
hai điều. Một là, có thể một ngày
nào đó tôi sẽ hiểu được
tiếng của loài chim. Hai là, một ngày nào
đó tôi sẽ có thể bay cùng loài ngỗng
trời yêu mến của ḿnh, thích hơn
cả là đến được xứ
Scandinavia.
Sau khi lập gia đ́nh, con trai đầu ḷng
của chúng tôi bị thiểu năng trí
tuệ. Chúng tôi đặt tên cháu là Hiraki,
tiếng Nhật có nghĩa là "ánh sáng".
Hồi c̣n nhỏ cháu chỉ đáp lại
những tiếng chiêm chiếp của loài chim và
không có phản ứng ǵ với tiếng người.
Mùa hè nọ, khi cháu lên sáu, cháu nghe thấy
tiếng một cặp chim sẻ nước líu
lo từ một khu hồ bên kia rừng, và cháu
nói với giọng giống như một người
đọc lời b́nh cho đoạn ghi tiếng
chim: " Đó là tiếng chim sẻ nước".
Đây là lần đầu tiên con trai tôi nói
được. Và cũng kể từ đó tôi
và vợ tôi bắt đầu có thể tṛ
chuyện được với cháu.
Hikari hiện đang làm việc tại một
trung tâm dạy nghề cho người khuyết
tật, một cơ sở xây dựng dựa trên
những ư tưởng chúng tôi học tập
được từ Thụy Điển. Cháu cũng
sáng tác nhạc. Chính loài chim đă khơi
nguồn cho những sáng tác nhạc của cháu.
Thay cho tôi, Hiraki đă biến thành sự
thật điều dự cảm thứ nhất
của tôi là một ngày nào đó tôi có
thể hiểu được tiếng chim. Tôi cũng
phải nói rằng tôi cũng sẽ không
thể sống được nếu không có
vợ tôi, với sức mạnh và sự khôn
ngoan vốn có của người phụ nữ.
Cô ấy chính là hiện thân của nhân vật
Akka, con chim đầu đàn dẫn đường
cho Nils. Cùng với vợ tôi, tôi đă bay
tới Stockholm và điều dự cảm
thứ hai của tôi, vui sướng làm sao, cũng
đă trở thành hiện thực.
Kawabata Yasunari, nhà văn Nhật Bản đầu
tiên đứng trên diễn đàn này với tư
cách người đoạt giải Nobel văn
học, đă đọc bài phát biểu có tiêu
đề "Nhật Bản, cái Đẹp và
bản thân tôi". Tiêu đề đó
thực đẹp và đồng thời rất
mơ hồ. Tôi dùng từ "mơ hồ"
("vague" trong tiếng Anh) có nghĩa
giống như từ "aimaina" trong
tiếng Nhật. Tính từ này trong tiếng
Nhật có vài cách dịch khác nhau sang tiếng
Anh. Sự mơ hồ ấy được
Kawabata chủ ư thể hiện trong chính tiêu
đề bài phát biểu của ḿnh. Nó có
thể được hiểu là "Cái tôi của
nước Nhật Bản xinh đẹp".
Sự mơ hồ của toàn bộ tiêu đề
xuất phát từ hư từ "no" trong
tiếng Nhật, (nghĩa đen là
"của") nối giữa hai chữ "cái
tôi" và "nước Nhật Bản xinh
đẹp".
Sự mơ hồ của tiêu đề
khiến người ta có thể hiểu theo
nhiều cách khác nhau. Nó có thể được
hiểu là "Bản thân tôi với tư cách
một phần của nước Nhật
Bản xinh đẹp", trong đó hư
từ "no" thể hiện quan hệ
sở hữu cách giữa danh từ đứng
trước và danh từ đứng sau. Tiêu
đề đó cũng có thể được
hiểu là "Nước Nhật xinh đẹp
và bản thân tôi,", trong trường hợp
này hư từ "no" liên kết hai danh
từ đồng vị, và thực tế các
danh từ này cũng được một trong
những chuyên gia người Mỹ hàng đầu
về văn hóa Nhật dịch sang tiếng Anh
theo cách đồng vị như vậy. Ông
dịch "Nhật Bản, cái Đẹp và
bản thân tôi". Có thể thấy đây
quả là một cách xử lư bậc thầy và
không hề có chuyện "dịch là
phản" (dịch làm sai lệch nghĩa) như
người ta vẫn e sợ.
Dưới tiêu đề đó, Kawabata nói
về một dạng thức đặc thù
của huyền học không chỉ tồn
tại trong tư tưởng Nhật Bản mà
c̣n là một tư tưởng phương Đông
rất phổ biến. Dùng chữ "đặc
thù", tôi muốn nói đến xu hướng
Thiền tông trong Đạo Phật. Là một nhà
văn của thế kỷ XX, nhưng Kawabata mô
tả trạng thái tinh thần của ḿnh
bằng những bài thơ viết theo lối
của các thiền sư thời trung cổ.
Phần nhiều các bài thơ này đều nói
tới sự bất lực của ngôn từ
trong việc mô tả chân lư. Theo những bài thơ
đó, ngôn từ bị hạn chế bởi
vỏ bọc khép kín của nó. Độc giả
không thể trông đợi từ ngữ sẽ
thoát ra khỏi những bài thơ này và đến
được với ḿnh. Ta sẽ không bao
giờ hiểu nổi và đồng cảm
được với những bài thơ
Thiền này trừ khi ta từ bỏ những
hạn định của bản thân và sẵn
sàng thâm nhập vào thế giới khép kín
của những ngôn từ đó.
Tại sao Kawabata lại dũng cảm quyết
định đọc những bài thơ vô cùng
bí ẩn đó bằng tiếng Nhật trước
khán giả ở Stockholm? Tôi nh́n lại hầu
như với một nỗi u hoài sự dũng
cảm tuyệt vời đó, sự dũng
cảm ông đă thụ đắc được
vào cuối sự nghiệp xuất chúng của
ḿnh, và với sự dũng cảm đó ông
đă khẳng nhận niềm xác tín của ḿnh.
Kawabata từng là tín đồ hành hương
trên con đường sáng tạo nghệ
thuật dài hàng thập kỷ, trên con đường
đó ông đă sản sinh được vô vàn
kiệt tác. Sau những tháng ngày hành hương
đó, chỉ bằng cách thú nhận niềm
say mê tột cùng của ḿnh với những bài
thơ Nhật Bản bí ẩn kia, từng làm
đau đầu bất cứ ai cố gắng
thấu hiểu chúng, ông mới diễn tả
được về "Nhật Bản, cái Đẹp
và Bản thân tôi", nghĩa là, diễn
tả về cái thế giới trong đó ông
sống và về những văn chương ông
sáng tạo.
Hơn nữa, điều cũng rất đáng
lưu ư là, Kawabata đă kết thúc bài phát
biểu của ḿnh như sau:
"Tác phẩm của tôi được mô
tả là những tác phẩm về cái không
(emptiness), nhưng ta không thể lẫn nó
với cái hư vô (nihilism) của Phương
Tây. Nền tảng tinh thần của nó hoàn
toàn khác. Thiền sư Đạo nguyên (Dogen)
đặt tên cho bài thơ về bốn mùa
của ḿnh là "Bản lai diện
mục" và ngay cả lúc ông ngợi ca
vẻ đẹp của bốn mùa, ông vẫn
ch́m đắm trong tư tưởng
Thiền". (bản dịch tiếng Anh
của Edward Seidensticker).
Ở đây, một lần nữa tôi được
thấy sự tự đánh giá thẳng
thắn và dũng cảm của ông. Một
mặt Kawabata xác định ḿnh đi theo
truyền thống của triết học
Thiền và cách thức cảm thụ cái đẹp
xuyên suốt nền văn học cổ điển
phương Đông. Thế nhưng, mặt khác ông
đă vượt lên khỏi bản thân ḿnh
để phân biệt tánh không, vốn là đặc
trưng cho những tác phẩm của ḿnh,
với chủ nghĩa hư vô của phương
Tây. Khi làm vậy, ông đă nhiệt thành hướng
tới những thế hệ mai sau của loài
người, những thế hệ mà Alfred Nobel
đă gửi gắm niềm tin và hy vọng.
Cũng xin bày tỏ thật ḷng rằng, khác
với Kawabata, người đồng hương
của tôi đă đứng nơi này hai mươi
sáu năm trước đây, tôi thấy,
về phương diện tinh thần, tôi
lại tương đồng khắng khít hơn
với nhà thơ người Ailen William Butler
Yeats, người đoạt giải Nobel văn
học bảy mươi năm trước vào
độ tuổi tôi bây giờ. Dĩ nhiên, tôi
không định xếp ḿnh ngang hàng với nhà
thơ thiên tài Yeats. Tôi chỉ là một môn
đệ khiêm tốn sống tại một nước
xa xôi. Như William Blake, nhà thơ với
những tác phẩm được Yeats trả
lại đúng giá trị và phục hồi
vị trí cao quư trong văn chương thế
kỷ này, đă từng viết " Băng qua
Châu Âu và Châu Á, tới Trung Hoa và Phù Tang như
ánh chớp sáng ḷa".
Trong những năm gần đây, tôi dành
nhiều thời gian viết một tác phẩm
bộ ba mà tôi mong sẽ là đỉnh cao trong
hoạt động văn học của ḿnh. Cho
tới nay đă xuất bản được
hai phần, gần đây tôi đă viết xong
phần thứ ba và là phần cuối. Tiêu
đề phần này trong tiếng Nhật có nghĩa
là "Cây xanh rực lửa". Tôi đă có
được tiêu đề này từ một
đoản khúc trong bài thơ "Vacillation"
(tạm dịch: "Chập chờn")
của Yeats:
Và ḱa đó một cây xanh với những nhành
cao ngất
Nửa lấp lánh lửa hồng nửa
biếc xanh
Tán rộng dày đẫm ướt sương
mai...
(Vacillation 11 - 13)
Thực sự, tác phẩm bộ ba của tôi
thấm đẫm ảnh hưởng những bài
thơ của Yeats. Trong dịp Yeats đoạt
giải Nobel Văn học, thượng viện
Ailen đă đưa ra những lời chúc
mừng ông, trong đó có đoạn sau:
... thông qua thành công của ông, tổ quốc
chúng ta đă được công nhận có
đóng góp nổi bật cho nền văn hóa
thế giới.
... Chúng ta, một dân tộc trước đó
chưa được chấp nhận vào
cộng đồng hữu hảo các quốc
gia trên thế giới.
... Nền văn minh của chúng ta sẽ
được đánh giá bằng tên tuổi
của Nghị sỹ Yeats.
... Sẽ luôn có nguy cơ nổi loạn
của những người bị mất đi
lư trí, điên rồ đuổi theo sự
hủy diệt.
(Giải Nobel: Lời chúc mừng gửi
tới Nghị sĩ Yeats)
Yeats là nhà văn mà tôi muốn theo chân. Tôi
muốn làm việc đó v́ một đất nước
khác mà giờ đây đă đuợc
"chấp nhận vào cộng đồng
hữu hảo các quốc gia trên thế
giới", nhưng là nhờ công nghệ điện
tử và ngành sản xuất ô tô. Đồng
thời, tôi muốn làm việc đó với tư
cách công dân một đất nước bị
đẩy vào sự "điên rồ đuổi
theo sự hủy diệt" cả trên mảnh
đất quê hương ḿnh lẫn trên đất
các quốc gia láng giềng.
Là một con người sống trong thế
giới hiện tại như thế giới này,
và sẻ chia nhũng kỷ niệm cay đắng
của quá khứ hằn sâu trong tâm khảm, tôi
không thể đồng ḷng thốt lên những
lời như của Kawabata: "Nhật Bản,
cái Đẹp và bản thân tôi". Một phút trước
đây, tôi đă đề cập đến
sự "mơ hồ" của tiêu đề
và nội dung bài phát biểu của Kawabata. Trong
phần c̣n lại của bài phát biểu
của ḿnh, tôi muốn dùng chữ "nhập
nhằng" (tiếng Anh: "ambiguous") theo
nghĩa mà nhà thơ nổi tiếng người
Anh Kathleen Raine đă phân biệt khi có lần bà
đă nhận xét về William Blake rằng thơ
ông nhập nhằng hơn là mơ hồ. Tôi không
thể nói khác đi về ḿnh ngoài việc nói
rằng "Nhật Bản, sự nhập
nhằng và bản thân tôi".
Tôi nhận thấy, sau một trăm hai mươi
năm hiện đại hóa kể từ
buổi đầu mở cửa, nước
Nhật ngày nay bị chia sẻ thành hai thái
cực đối nghịch của sự
nhập nhằng. Tôi cũng là một nhà văn
sống trong đất nước ấy,
với sự phân cực này như một
vết sẹo khắc sâu trong tôi.
Sự nhập nhằng ấy mạnh mẽ và
xuyên suốt đến nỗi nó làm phân chia
cả nhà nước và nhân dân theo nhiều cách.
Quá tŕnh hiện đại hóa của Nhật
Bản đă được xác định theo
chiều hướng học tập và bắt chước
phương Tây. Tuy vậy, Nhật Bản
nằm trong Châu Á và vẫn bền bỉ duy tŕ
những truyền thống văn hóa của ḿnh.
Định hướng nhập nhằng đó
của Nhật Bản đưa đất nước
này vào vị thế một kẻ đi xâm
lấn ở châu Á. Một đằng, nền văn
hóa của Nhật Bản hiện đại hoàn
toàn mở ra phương Tây, một đằng
th́ ít nhất cũng ngăn không cho người
phương Tây hiểu nó. Và hơn nữa,
Nhật Bản bị đẩy vào thế cô
lập với các quốc gia châu Á khác không
chỉ về chính trị mà c̣n cả về xă
hội và văn hóa.
Trong lịch sử văn học hiện đại
của Nhật Bản, những nhà văn chân thành
nhất và hiểu rơ nhất sứ mệnh
của ḿnh là những nhà văn thời hậu
chiến, những người đến với
sân khấu văn học ngay sau cuộc Chiến
tranh cuối cùng, bị cuộc chiến làm
tổn thương nặng nề song vẫn tràn
trề hy vọng về một cuộc hồi
sinh. Họ đă gắng sức và chịu
nhiều đau thương để bù đắp
lại những hành vi vô nhân đạo quân
đội Nhật đă gây ra ở các nước
Châu Á và lấp đi khoảng cách lớn không
chỉ giữa các nước phát triển phương
Tây và Nhật Bản mà c̣n giữa các nước
châu Phi, châu Mỹ La tinh và Nhật Bản.
Chỉ bằng hành động như vậy,
họ mới có thể t́m được
với chút khiêm nhường nào đó sự hoà
giải với thế giới. Tôi cũng đă
và luôn luôn mang trong ḿnh nỗi khao khát đi theo
đúng truyền thống văn học kế
thừa từ các nhà văn đó.
Nhà nước Nhật hiện nay và người
dân Nhật trong thời kỳ hậu công
nghiệp không thể tránh khỏi những
cảm t́nh đầy mâu thuẫn. Cuộc
thế chiến thứ hai đă nổ ra ngay
giữa thời kỳ Nhật Bản đang
hiện đại hóa; một cuộc chiến gây
ra bởi chính sự sai lạc của quá tŕnh
hiện đại hóa. Việc nước
Nhật bại trận năm mươi năm
trước đây là một cơ hội cho
Nhật Bản và người Nhật, là kẻ
gây chiến, cố gắng hồi sinh vượt
lên trên những đau thương mất mát
lớn lao mà các nhà văn Nhật thuộc ḍng
hậu chiến đă mô tả. Lư tưởng
dân chủ và quyết tâm không gây ra thêm bất
cứ cuộc chiến nào nữa là cơ
sở đạo lư cho niềm ao uớc hồi
sinh này. Nhưng, thật mâu thuẫn thay, nhân dân
và nhà nước Nhật với những cơ
sở đạo lư đó lại không phải là
vô tội, họ mang theo những tỳ vết
của một lịch sử trong đó chính
họ xâm lăng các nước châu Á khác.
Những cơ sở đạo lư đó có ư
nghĩa với cả những nạn nhân đă
chết v́ vũ khí nguyên tử sử dụng
lần đầu tiên tại Hiroshima và Nagasaki, có
ư nghĩa cả với những người
sống sót và con cháu của họ, chịu
ảnh hưỏng của phóng xạ, kể
cả hàng vạn người nói tiếng
mẹ đẻ là tiếng Triều Tiên.
Trong những năm gần đây có nhiều ư
kiến chỉ trích Nhật Bản và cho
rằng Nhật cần đóng góp lực lượng
quân sự nhiều hơn cho Liên Hợp
Quốc, để tham gia tích cực hơn vào
tiến tŕnh ǵn giữ và khôi phục hoà b́nh
ở các nơi trên thế giới. Trái tim chúng
tôi đau đớn mỗi khi nghe những
lời phê b́nh đó. Sau kết cục của
thế chiến thứ hai, chúng tôi thấy
rằng nhất thiết phải tuyên bố trong
một điều khoản trung tâm của
Hiến pháp mới rằng chúng tôi sẽ vĩnh
viễn không tham chiến. Người Nhật
đă lựa chọn nguyên tắc hoà b́nh vĩnh
cửu làm cơ sở đạo lư cho sự
hồi sinh của Nhật sau chiến tranh.
Tôi tin rằng nguyên tắc đó có thể
được phương Tây, với truyền
thống dung thứ cho việc v́ lương tâm
mà từ chối thực hiện nghĩa vụ
quân sự, hiểu rơ. Ngay ở Nhật Bản,
đă có những nỗ lực ḥng xóa bỏ
điều khoản về việc không tham
chiến trong Hiến pháp và v́ mục tiêu đó
họ đă t́m mọi cách tận dụng
mọi cơ hội để tăng áp lực
từ bên ngoài. Nhưng việc xoá bỏ nguyên
tắc ḥa b́nh vĩnh cửu của Hiến pháp
là một hành động phản bội
chống lại các dân tộc Châu Á và những
nạn nhân của bom nguyên tử tại Hiroshima
và Nagasaki. Là nhà văn, tôi chẳng khó ǵ h́nh
dung kết cục của sự bội phản
ấy.
Hiến pháp Nhật Bản trước chiến
tranh, thứ hiến pháp thừa nhận một
quyền lực tuyệt đối vượt
qua nguyên tắc dân chủ, cũng đă đạt
được sự ủng hộ nhất định
từ phía dân chúng. Mặc dầu chúng tôi đă
có Hiến pháp mới được nửa
thế kỷ nay, Hiến pháp cũ vẫn c̣n
được ủng hộ, và Hiến pháp
ấy vẫn c̣n tồn tại trong thực
tế ở một số nơi. Nếu Nhật
Bản phải pháp điển hóa một quy
tắc khác xa với quy tắc chúng tôi đă tuân
theo trong năm mươi năm qua, th́ cái
quyết tâm mà chúng tôi đă đề ra trong
bối cảnh đổ nát của chiến
tranh, của những nỗ lực hiện đại
hóa đă tan tành của chúng tôi, cái quyết tâm
nhằm xây dựng một khái niệm mang tính
toàn cầu về nhân bản, nó sẽ chẳng
có ư nghĩa ǵ. Đó là những ǵ tôi muốn nói
với tư cách một cá nhân b́nh thường.
Cái mà tôi đề cập đến bằng
chữ "nhập nhằng" trong bài phát
biểu của tôi chính là căn bệnh
trầm kha đă nổi lên trong thời kỳ
hiện đại. Sự thịnh vượng
về kinh tế của Nhật không thể
đem lại sự giải phóng khỏi
những nguy cơ tiềm ẩn đặt trong
bối cảnh cơ cấu chung của nền
kinh tế thế giới và vấn đề
bảo vệ môi trường.Trong bối
cảnh này, sự nhập nhằng đó càng
gia tăng. Điều này có thể rơ ràng hơn
với những con mắt phê phán từ bên ngoài
hơn là đối với chúng tôi, những người
dân Nhật. Tại đáy cùng nghèo đói
thời hậu chiến, chúng tôi có được
sức dẻo dai để chịu đựng
đói nghèo, để không mất đi hy
vọng phục hồi. Có thể nói như
thế này nghe hơi kỳ cục, song giờ
đây dường như chúng tôi cũng có
được sự dẻo dai không kém để
chịu đựng những lo lắng về
hậu quả tồi tệ sẽ phát sinh
từ sự thịnh vượng hiện
tại. Từ một góc nh́n khác, một
bối cảnh mới đă xuất hiện
trong đó sự thịnh vượng của
Nhật Bản sẽ phụ thuộc vào sự
gia tăng phát triển của cả tiềm
lực sản xuất và tiêu thụ ở châu
Á nói chung.
Tôi là một trong những nhà văn mong muốn
tạo ra được những tác phẩm văn
học nghiêm túc khác biệt với những
tiểu thuyết chỉ đơn thuần là
sự phản ánh của thứ văn hoá tiêu dùng
đang phổ biến ở Tokyo và trên thế
giới. Tôi muốn t́m kiếm một bản
sắc Nhật Bản như thế nào đây?
W.H Auden đă có lần định nghĩa
một nhà tiểu thuyết như sau:
... Trong cát bụi
Hăy công bằng, hư hỏng giữa đám
đông hư hỏng,
Và trong chính ḿnh yếu đuối bẩm sinh
Nếu có thể, phải chịu đựng
tất thảy những lầm lạc của
Con người.
(Nhà tiểu thuyết, 11-14)
Đó là cách sống của tôi (mượn
lời của Flannery O'Connors) với nghiệp văn
mà tôi theo đuổi.
Để mô tả một bản sắc Nhật
Bản mà tôi muốn đạt được,
tôi xin chọn dùng từ "chính trực",
một trong những tính từ mà George Orwell thường
sử dụng, cùng với những từ như
"nhân đức", "lành mạnh", và
"đúng mực" cho những nhân vật mà
ông yêu mến. Cái cách mô tả đơn
giản đến không tin nổi này có thể
đứng bên cạnh và tương phản
với từ "nhập nhằng" tôi đă
sử dụng để xác định ḿnh trong
tiêu đề "Nhật Bản, Sự
nhập nhằng và Bản thân tôi". Có
một sự khác biệt hoàn toàn và mỉa mai
giữa cách Nhật Bản được nh́n
nhận bởi thế giới bên ngoài và cách mà
chính họ muốn được nh́n nhận.
Tôi hy vọng rằng Orwell sẽ không phản
đối nếu tôi dùng từ "chính
trực" để chỉ nghĩa tương
tự như "giàu chất nhân văn" hay
"humaniste" như trong tiếng Pháp, v́
cả hai từ này đều mang nét nghĩa
chung là vị tha và nhân đạo. Đă có
những bậc tiền bối của chúng tôi
đi tiên phong, những người đă có
những nỗ lực lớn lao nhằm xây
dựng một bản sắc Nhật "chính
trực" và "giàu chất nhân văn".
Một người trong số đó là cố Giáo
sư Kazuo Watanabe, một học giả chuyên
về văn học và tư tưởng Pháp
thời Phục Hưng. Bị vây bọc bởi
sự cuồng nhiệt mù quáng của ḷng yêu nước
trong buổi đầu và thời kỳ giữa
thế chiến hai, Watanabe đă đơn độc
theo đuổi giấc mơ đem quan điểm
về nhân văn gắn kết vào nhận
thức vốn có của Nhật Bản về cái
đẹp và sự nhạy cảm trước
thiên nhiên, một nhận thức mà, may sao,
vẫn chưa hoàn toàn bị hủy diệt. Tôi
cũng phải nói thêm ngay rằng Giáo sư
Watanabe có quan điểm về cái đẹp và
thiên nhiên khác với quan điểm của
Kawabata thể hiện trong bài "Nhật
Bản, Cái đẹp và Bản thân tôi."
Con đường theo đó Nhật Bản
cố xây dựng một nhà nước hiện
đại theo lối phương Tây là một
con đường đau khổ. Theo những cách
thức khác song phần nào tương xứng
với quá tŕnh đó, các trí thức Nhật
đă cố gắng thu hẹp khoảng cách
giữa phương Tây và đất nước
ḿnh ở mức sâu sắc nhất. Đó quả
là một lao động cực nhọc, một
"travail" nhưng cũng mang lại
nhiều niềm vui. Nghiên cứu của Giáo sư
Watanabe về François Rabelais do vậy là một
trong những thành tựu tri thức nổi
bật và đáng tưởng thưởng
nhất của giới trí thức Nhật
Bản.
Watanabe từng học ở Paris trước
Thế chiến thứ hai. Khi ông nói với
thầy hướng dẫn của ḿnh về
tham vọng dịch Rabelais sang tiếng Nhật,
nhà học giả nổi tiếng người Pháp
đă trả lời chàng sinh viên Nhật đầy
khát khao tri thức đó như sau: "L'
entreprise inouie de la traduction de l'intradusible
Rabelais" (một ư định táo bạo chưa
từng có khi muốn dịch thơ không thể
nào dịch nổi của Rabelais). Một học
giả Pháp khác trả lời với sự kinh
ngạc không giấu giếm: "Belle entreprise
Pantagruélique" "Thật là một kỳ công
lấp biển vá trời kiểu Pantagruel [3]
". Bất chấp những nhận định
ấy, Watanabe không chỉ đă thực hiện
được tham vọng táo bạo của ḿnh
trong bối cảnh nỗi đói nghèo của
chiến tranh và sự chiếm đóng của
Mỹ, ông c̣n làm hết sức ḿnh để
gieo vào cái xă hội Nhật Bản hỗn
loạn và mất phương hướng
thời đó lối sống và tư tưởng
của những nhà nhân văn Pháp, những người
tiên phong, những kẻ đồng thời và các
môn đệ của François Rabelais.
Cả trong cuộc đời và sự nghiệp
sáng tác của tôi, tôi cũng đă là một môn
đệ của giáo sư Watanabe. Tôi chịu
ảnh hưởng của ông theo hai phương
diện hết sức quan trọng. Thứ
nhất là phương pháp viết tiểu
thuyết. Tôi hoàn toàn học từ bản
dịch Rabelais của ông cái mà Mikhail Bakhtin đă
định h́nh với tên gọi "hệ
thống h́nh tượng của chủ nghĩa
hiện thực kệch cỡm (grotesque realism) hay
nền văn hóa của những tiếng cười
dân gian"; học được tầm quan
trọng của những nguyên lư vật chất
và thể lư, sự tương hợp giữa các
nhân tố vũ trụ, xă hội và thể lư,
sự giao thoa của cái chết và niềm khao
khát hồi sinh, và tiếng cười trào phúng
lật đổ mọi thứ quan hệ trên dưới.
Hệ thống h́nh tượng đó khiến
cho những kẻ như tôi, sinh ra và lớn lên
ở một vùng xa xôi hẻo lánh, ở một
đất nước cũng xa xôi bên lề như
Nhật Bản, có thể t́m được
những phương pháp văn học nhằm
đạt được cái phổ quát.
Xuất phát từ một nền tảng như
vậy, tôi không đại diện cho châu Á như
một thế lực kinh tế, mà một châu
Á bị ám ảnh bởi đói nghèo triền
miên và gia tăng dân số. Bằng việc chia
sẻ những ẩn dụ sống động
đó, tôi muốn đứng về phía các nhà
văn như Kim Ji-ha của Hàn Quốc, Chon I và
Mu Jen của Trung Quốc. Đối với tôi, t́nh
huynh đệ của giới văn chương
là thứ t́nh đồng cảm chia sẻ sâu
sắc. Tôi đă có lần tham gia vào một
cuộc tuyệt thực đề đ̣i tự
do chính trị cho một nhà thơ có tài người
Triều Tiên. Nay tôi hết sức lo lắng
về số phận của những nhà văn
Trung Quốc tài năng, những người
đă bị tước mất tự do kể
từ vụ Quảng trường Thiên An Môn.
Ảnh hưởng thứ hai của giáo sư
Watanabe đối với tôi là quan điểm
của ông về chủ nghĩa nhân văn. Tôi
coi chủ nghĩa này là một biểu trưng
hoàn hảo của châu Âu với tư cách
một thực thể hoàn chỉnh sống động.
Đó là một ư tưởng có sức lan
truyền lớn trong định nghĩa của
Milan Kundera về tinh thần của tiểu
thuyết. Dựa trên những nghiên cứu chính
xác các nguồn sử liệu mà ông có
được, Watanabe đă viết các tự
truyện phê phán, với Rabelais là trung tâm,
về các nhân vật từ Erasmus tới Sébastien
Castellion và những phụ nữ có liên quan
tới Henri IV, từ nữ hoàng Marguerite cho
tới Gabrielle Destré. Khi làm vậy, ông muốn
dạy cho người Nhật về chủ nghĩa
nhân văn, về tầm quan trọng của ḷng
khoan dung, về tính dễ tổn thương
của con người bởi chính những thành
kiến và suy nghĩ của y cũng như
những cỗ máy do chính y tự tạo ra.
Sự chân thành của ông khiến ông trích
dẫn lời của nhà triết học người
Đan Mạch, Kristoffer Nyrop: "Những kẻ không
chống lại chiến tranh là đồng lơa
với chiến tranh." Những nỗ lực
nhằm truyền bá vào Nhật Bản tư tưởng
Nhân văn - nền tảng của tư tưởng
phương Tây - của Watanabe quả thực là
sự dũng cảm táo bạo không chỉ
"chưa từng có" mà c̣n "một
kỳ công đáng khâm phục kiểu
Pantagruel".
Là người chịu ảnh hưởng
của chủ nghĩa nhân văn Watanabe, tôi
muốn rằng nghĩa vụ của tôi -
với tư cách nhà tiểu thuyết - là giúp
những người tự diễn đạt ḿnh
bằng ngôn ngữ, cũng như những ai
đọc họ, có thể hồi phục
từ những nỗi thống khổ của ḿnh
và thời đại ḿnh và chữa khỏi
được những vết thương trong
tâm hồn. Tôi đă nói rằng tôi bị phân
xẻ giữa hai thái cực của thuộc tính
"nhập nhằng" của người
Nhật Bản. Tôi đă và đang cố
gắng để chữa khỏi và hồi
phục từ những đau thương đó
bằng văn học. Tôi đă nỗ lực cũng
nhằm cầu nguyện cho sự phục
hồi của những đồng bào Nhật
của tôi.
Xin hăy cho phép tôi một lần nữa nhắc
tới con trai tàn tật của tôi, cháu Hikari
đă được tiếng chim đánh
thức gọi về với âm nhạc của
Bach và Mozart, và cuối cùng sáng tác nên những
nhạc phẩm của riêng cháu. Những tác
phẩm nhỏ nhoi lần đầu tiên cháu
soạn nên chan chứa hào quang và niềm sung sướng
tươi mới. Chúng giống như sương
long lanh trên lá cỏ. Từ "innocent" (ngây
thơ) được cấu tạo bởi hai
phần "in" có nghĩa là không và
"nocere", gây tổn thương, nghĩa là
không gây tổn thương. Âm nhạc của
Hiraki theo nghĩa đó là sự tuôn trào tự
nhiên tính thơ ngây của chính người
soạn nhạc.
Khi Hiraki tiếp tục sáng tác, tôi không thể
không nhận thấy trong âm nhạc của cháu
"tiếng kêu của một tâm hồn u
uẩn đang than khóc". Dù cháu bị
thiểu năng trí tuệ, nhưng nỗ
lực bền bỉ của cháu đă giúp trang
bị cho hành vi sáng tác - vốn đơn
giản chỉ là một "thói quen
sống" - những kỹ năng sáng tác ngày
càng phát triển và khả năng nhận
thức ngày càng sâu. Điều này tới lượt
nó đă khiến cho cháu có thể khám phá trong
chiều sâu trái tim ḿnh một nỗi đau u hoài
mà bấy lâu nay cháu không thể nào diễn
tả bằng lời.
"Tiếng kêu của một tâm hồn u
uẩn đang than khóc" thực đẹp, và
việc cháu diễn tả nó bằng âm nhạc
đă khiến cháu thoát khỏi nỗi đau u
uẩn để có thể phục hồi. Hơn
nữa, âm nhạc của cháu cũng đă
được thừa nhận là có thể
chữa khỏi và giúp hồi phục những
người nghe đồng cảnh ngộ.
Ở đây tôi t́m được cơ sở
để tin tưởng vào khả năng
tuyệt vời của nghệ thuật trong
việc hàn gắn nỗi đau.
Niềm tin đó của tôi chưa hoàn toàn
được minh chứng. Dẫu chỉ là
một con người "yếu đuối",
với sự trợ lực của niềm tin chưa
được kiểm chứng đó, tôi
muốn trải qua mọi "lầm
lạc"đă tích tụ suốt thế
kỷ hai mươi này, kết quả của
sự phát triển kinh khủng của công
nghệ và giao thông. Là một con người
tồn tại bên ngoài trung tâm của thế
giới này, tôi muốn t́m kiếm bằng cách
nào tôi có thể góp một chút ǵ nhỏ bé -
những mong là nhân văn và chính trực
của ḿnh - để giúp cho sự cứu
chữa và ḥa giải Nhân loại.
[1] Tác
phẩm kinh điển (1884) của nhà văn Mĩ
Mark Twain (1835-1910)
[2] Tác
phẩm nổi tiếng (1906) của nhà văn
nữ Thụy Điển Selma Lagerlöf (1858-1940,
giải Nobel văn chương 1909),
[3] Pantagruel: nhân
vật người khổng lồ trong tác
phẩm nổi tiếng Gargantua et Pantagruel của
François Rabelais .