|
|
Thonac –
Đất lạ thành quen và một bí ẩn về vua Hàm Nghi
Mathilde Tuyết
Trần
Mới đầu tháng ba hoa xuân đă nở rộ. Năm nay xuân về sớm hơn
những năm trước, cũng v́ mùa đông quá ấm, vạn vật không có th́
giờ nghỉ ngơi. Các chính khách mầu xanh nơi đây kêu gào bảo vệ
môi trường đă quá ô nhiễm, làm cho tôi bật cười khi nhớ đến một
bà chính khách mầu xanh khen nức nở trước ống kính săn h́nh của
báo chí: "Ồ, con ḅ cái thật là đẹp", mà không biết rằng bà ta
đang đứng trước một con ḅ đực.
Trên mảnh vườn nhỏ của tôi lú lên những cụm hoa vành khăn,hoa
thủy tiên, hoa báo xuân, hoa giọt sữa, hoa mẫu đơn. Trên cành
th́ hoa mận, hoa đào đua nhau nở rộ, làm những cây táo, cây lê
vội vă trổ mầm xanh. Những chiếc lá mới, vừa đỏ vừa xanh, chợt
nhú ra be bé trên những cành hồng khẳng khiu. Chim chóc kéo về
hát ríu rít suốt chiều hôm sáng sớm, và hấp tấp nhặt những cành
cây vụn làm tổ trên cao.
Trời xuân đổi tiết luôn luôn, từ những đám mây đen khổng lồ
kéo về cuồn cuộn đe dọa, từ những cơn gió chặt ngă cây rừng đuổi
chó vào chuồng nằm im thin thít, từ những cơn mưa xuân dầm dề rả
rướt suốt cả ngày làm mọi người bó gối chồn chân ngồi nhà không
biết đi đâu, cho đến những làn nắng xuân ấm áp lóng lánh vàng
làm cho trái tim tưởng đă cằn cỗi trở nên rạo rực muốn bay khắp
bốn phương trời.
Cũng v́ trời mưa, đất sét trở thành bùn trơn tuột luột, sợ té
gẫy lưng ngoài vườn, mà tôi đâm ra loay hoay dọn những thùng
sách cũ. Mỗi lần dọn nhà, khổ nhất là đống sách. Thùng sách nào
cũng nặng ch́nh chịch, khuân vác xuống cầu thang, lên cầu thang
bở cả hơi tai, xong rồi chất đống để một chỗ cả năm, v́ c̣n
nhiều việc khác cấp bách hơn. Nhưng sách vở, thư từ, h́nh ảnh
quả thật là một kho tàng quư báu. Ngay cả những tờ lịch bóc. Tôi
ngẩn ngơ từ suốt ngày hôm qua, thúc bách, hôm nay phải viết
những ḍng này, chỉ v́ một tờ lịch cũ bóc ngày 05 tháng tám năm
1999, trên đó có vài câu thơ của nhà thơ Vũ Quần Phương
Anh đứng bên cầu đợi
em
Đứng một ngày đất lạ thành quen
Đứng một đời đất quen thành lạ
Nước chảy... ḱa em, anh đợi em.
Tờ lịch này lại nằm trên một cuốn sách cũ bằng tiếng Pháp
"Structure de la langue vietnamienne", bản dịch của cuốn Khảo
luận về ngữ pháp Việt Nam của Trương văn Ch́nh và Nguyễn Hiến Lê
xuất bản năm 1963 tại Huế. Lật đại một trang như bói Kiều, tôi
rơi vào hàng chữ:
Tordu: cong queo, c̣ng quèo, hay: cong queo c̣ng quèo
Déformé: méo mó, mẹo mọ, hay: méo mó mẹo mọ
Tout petit: tí tẹo, t́ teo, hay: tí tẹo t́ teo
Sournois: tâm ngẩm, tầm ngầm hay: tâm ngẩm tầm ngầm
Phần tôi, đêm nay, trân trọng dán tờ lịch cũ vào nhật kư, rồi
đi ngủ với những câu thơ, để ngày mai lên đường đi dạo mùa xuân.
Làng Mai
Đă mấy chục năm qua, tôi chưa có dịp đặt chân đến vùng đất lạ
này, dù là khoảng cách không xa lắm. Đường đi không khó v́ ngăn
sông cách núi, mà khó v́ ḷng người ngại núi e sông. Đă bao
nhiêu lần tôi muốn lên đường đi, nhưng vẫn ngần ngại. Không phải
lúc nào cũng thực hiện được ngay điều ḿnh muốn. Xuân này, trước
khi đến Thonac, tôi muốn ghé thăm Làng Mai.
Nếu t́m địa danh Làng Mai trên bản đồ nước Pháp có mà t́m đỏ
mắt cũng không ra, đừng nói chi đến việc t́m ra bẩy xóm của Làng
Mai - Xóm Thượng, Xóm Hạ, Xóm Mới, Xóm Trung, Xóm Mới Đầu Thôn,
Xóm Mới Lưng Đồi và Xóm Đoài, rồi lại c̣n tên các chùa - Chùa
Pháp Vân, Chùa Sơn Hạ, Chùa Cam Lộ, Chùa Từ Nghiêm.
Cách dùng chữ "Làng", "Xóm" càng làm cho tôi ṭ ṃ, muốn biết
cái làng Việt Nam ấy, trên đất Pháp là như thế nào. Trong trí
tưởng tượng đơn giản của tôi th́ có thể đó là một cái làng gồm
bẩy xóm như ở Việt Nam quây quần với nhau.
Làng Mai, tên chính thức tiếng Pháp là Village Des Pruniers
(tiếng Anh dịch là Plum Village), làm cho tôi thắc mắc, nghĩ
đến...hoa mai và ô mai, v́ "Pruniers" là danh từ chung của một
nhóm cây mận có nhiều loại khác nhau như là mirabelles, reine
Claude hay quetsch trong vườn nhà tôi.
Hỏi một người bạn cũ về hoa mai và ô mai, anh Trần Minh Khôi,
th́ anh chế diễu tôi chỉ háo ăn, rồi giải thích một cách say
sưa:
"Ô-Mai, c̣n có tên gọi là ô-môi hay xí muội (dân miền Nam
gọi) có gốc cơ bản từ quả Mai của cây Mai bên Trung Quốc, tức là
loại cây mai (mơ), đầu xuân đă nở hoa, có hai thứ trắng và đỏ.
Thứ trắng gọi là "lục ngạc mai", nở hết hoa rồi mới nẩy lá, quả
chua, chín th́ sắc vàng. Giống Mai này có tên khoa học là Prunus
Mume, thuộc họ Hoa Hồng (Rosaleal). Mai này tương cận với cây
Mơ, có tên khoa học Prunus Armeniaca Lin (ở miền Bắc ḿnh thường
gọi) được ướp đường hoắc muối sấy khô, dùng làm thuốc hay để ăn.
Sau này người Việt ḿnh lại dùng một số quả khác biến chế
theo cách đó nên mới có thêm các khái niệm đi kèm để phân biệt.
Thí dụ: ô-mai me, ô-mai mơ, ô-mai sấu, ô-mai cam thảo, ô-mai tắc
cam, ô-mai me tắc, gừng ô-mai v.v... (Oh, lecker !!! Ngon quá)
Mai này hoàn toàn khác với cây Mai vàng chưng vào dịp Tết ở
miền Nam VN. Đặc biệt trong văn học Trung Quốc, người ta thường
nói đến Tùng, Trúc, Mai... là chính loại Mai này, chứ không phải
là Mai vàng của VN. C̣n trong văn học Việt Nam th́ lạ, chỉ thấy
gọi "tuổi học tṛ" là "tuổi ô mai"... mà chẳng thấy gọi "tuổi
sồn sồn" như chúng ḿnh là ǵ cả nhỉ... có nên gọi là "tuổi
ô-hô" chăng ???"
Chuyến này, tôi dành thời gian cho sự ham muốn được biết thêm
vài điều mới lạ, dù đường xa, dù mưa xuân lấm tấm ướt đường,
không chạy nhanh được, phần lớn th́ giờ là ngồi trong xe ngắm
cảnh, tôi ghé nhiều nơi, nh́n cho đă mắt những ǵ ḿnh chưa
thấy, như con nít thấy cục kẹo. Thậm chí, khi đi ngang qua
Limoges, thành phố nổi tiếng khắp thế giới v́ sản xuất đồ sứ men
trắng hạng sang, mưa tuyết phủ đầy mặt đất, các xe đều bật đèn
và chạy chậm hẳn lại, như lạc lơng vào một thế giới khác đang
vẫn c̣n mùa đông ngự trị. Trên cao nguyên Ngàn Ḅ (dịch theo
nghĩa đen của địa danh "plateau de Millevaches", nhưng các nhà
ngôn ngữ học c̣n đang tranh căi về nguồn gốc của "Millevaches":
hoặc là ngàn suối "mille batz”, theo gốc "batz” - suối - hoặc là
"au millieu de nulle part” theo gốc "vaque” mi - le - vaque -
vacant, vide) không thấy một con ḅ nào cả, chỉ có tuyết rơi.
Bởi thế mà đi hai ngày từ Paris mới đến thành phố Bergerac, cách
Paris khoảng 600 cây số xuôi về hướng nam, để đến Làng Mai.
Thành phố Bergerac là một vùng sản xuất rượu vang. Các loại
rượu như Bergerac, Monbazillac, Pécharmant được các siêu thị và
các nơi bán rượu xếp rượu vào khu "Sud-Ouest" (Tây Nam).
Bergerac thuộc vùng thung lũng sông Dordogne, khu vực Périgord
pourpre, cho nên các món ăn đặc sản của vùng này cũng chế biến
từ thịt vịt, thịt ngỗng. Nhưng sợ thèm rượu ngon mà mềm môi, tôi
không dám lang thang lâu ở Bergerac, mà chỉ nghỉ mệt qua đêm rồi
sáng sau tôi t́m đến Xóm Thượng.
Tên Việt Nam là thế, nhưng tên tiếng Pháp là chi hè ! Biết là
không xa Bergerac nhưng đi ḷng ṿng từ sáng sớm, thắng gấp mấy
lần, quay xe mấy lần mà t́m chưa ra Làng Mai. Ở vùng này, cũng
như những vùng quê khác trên đất Pháp, lưa thưa nông trại và
ruộng, vắng bóng người. Bergerac toàn là ruộng nho, nh́n đâu
cũng thấy ruộng nho, nhưng đầu xuân th́ những gốc nho khẳng khiu
c̣n trơ trụi lá. Nh́n ruộng nho rất sạch, không một cọng cỏ dại,
mặt đất như có ai cầm lược chải chuốt bằng phẳng, các gốc nho
được uốn cùng về một hướng, tôi không khỏi phục công lao người
làm ruộng, nhưng cũng tự đặt câu hỏi về mức độ sử dụng thuốc hóa
học trừ sâu bọ và các loại cây dại, v́ tôi biết thế nào là nhổ
cỏ dại trong vườn nhà, chỉ sau ba bốn ngày nắng ấm, nhưng nhất
là sau những cơn mưa, chúng trỗi lên từ đất một cách rất phấn
khởi vui tươi, nhổ hết đợt này, mọc lên đợt khác.
Đi loanh quanh một hồi, chợt tôi thấy một tấm bản nhỏ cắm ở
một ngă tư đường ruộng chỉ hướng Meyrac. Một địa danh rất nhỏ
không có tên trên bản đồ. Mừng quá, chạy thêm một chút nữa, th́
lướt nhanh qua một cái ǵ có vẻ Á Châu bên vệ đường. Lật đật lùi
xe lại. À, ra thế: "Village Des Pruniers". Eureka !
Nhưng vào đến chỗ đậu xe, tôi hoàn toàn ngơ ngác không biết
ḿnh ở đâu ! Trước mặt là hai dẫy nhà ngang dài và thấp, ngó
sang phía tay phải, đằng xa, th́ thấy một cái chuông chùa, treo,
không phải trên gác, mà là dưới mái ngói hai tầng, bốn góc uốn
cong, trống trải bốn phía, như lơ lửng trong không. Toàn cảnh,
im lặng, không có bóng người. Tôi nhẹ bước, len lén như con mèo
ăn vụng, đi về khoản đất treo cái chuông. Một góc khoáng đăng
hiện ra, tiếng chuông chùa chắc là phải vang xa lắm.
Tiếng chuông chùa vang xa trong không gian của nước Pháp ?
Thật là lư thú ! Tôi không khỏi nhớ ngay đến Giám Mục Bá Đa Lộc
(1) và các giáo sĩ khác đă sang giảng đạo Thiên chúa để khai phá
ở Việt Nam, th́ bây giờ, ngược lại, các thầy cô đang giảng đạo
Phật trên đất Pháp.
Trước chuông, một khoảng đất lớn trồng toàn cây Mận (cây
Prunus, gọi là cây Mận, cây Mơ hay cây Mai tùy ư), nhưng vùng
này tiết trời c̣n lạnh, nên các cây c̣n đứng khẳng khiu, chưa
trổ hoa. Loại cây này, hoa trổ trước, rồi lá mới nẩy mầm sau.
Ngoài cái chuông, không thấy có chùa như trong trí tưởng
tượng của tôi, một cái chùa như ở Việt Nam, hay ở vùng ngoại ô
Paris, mà là những dẫy nhà thâm thấp, bốn năm cái, xây gần với
nhau, cũ mới lẫn lộn, cái th́ xây bằng đá, cái th́ xây bằng bê
tông, có thể gọi là "Làng".
Thoang thoáng, trong một căn có một cánh cửa mở, bóng một sư
cô nhỏ nhắn mặc áo nâu, đang bận tiếp một người khách.
Đột nhiên, một người đàn bà Pháp, khoác chiếc áo nâu trên một
bộ quần áo thường nhật, không biết từ đâu ra, tiến lại phía tôi
chào hỏi. Bà cho tôi biết bà là tín nữ đến đây để học đạo và
thiền, và tôi đang ở khu vực chùa dành cho Sư nữ và tín đồ nữ,
(tức là Chùa Cam Lộ, Xóm Hạ trong địa danh Meyrac thuộc địa phận
của làng Loubes-Bernac), rồi dắt tôi đi xem từng giảng đường,
nơi thầy hành lễ và giảng đạo. Các giảng đường này khá lớn,
trống trơn, không bàn, không ghế, chỉ có một cái bệ hai, ba
tầng, trên có các vật dụng thờ tự ở một đầu, giảng đường lớn
nhất có thể thâu nhận được 600 tín đồ hành lễ. Ngoài các giảng
đường, có vài dẫy nhà để ở cho các sư cô và người đến học đạo.
Bà dắt tôi vào bếp, rót cho tôi một ly nước trà nóng trong một
b́nh thật lớn để sẵn, y như thói quen ở Việt Nam. Cái bếp cũng
rất rộng, trống khoáng, nồi niêu xoong chảo rất to, để nấu cho
cả mấy trăm người ăn.
Tôi mới được biết là cả chùa đi vắng v́ Thầy Thích Nhất Hạnh
đang du hành ở Việt Nam ! Nếu có ai trách tôi rằng, ra ngơ không
coi ngày, th́ cũng đúng. Thấy sư cô một ḿnh bận bịu, tôi không
dám phiền lâu, rồi chào tạm biệt bà tín nữ người Pháp để đi t́m
Xóm Thượng theo bà chỉ.
Thật ra làng Mai không gần Bordeaux lắm, như mọi người thường
nói cho qua chuyện, mà cách Bordeaux khoảng 85 cây số về hướng
Đông, và cách Bergerac khoảng 25 cây số.
Từ làng Loubes-Bernac, tôi t́m làng Thenac, cách đó mấy cây
số lên đồi. Chạy một ṿng quanh làng Thenac th́ tôi thấy bảng
chỉ địa danh Le Pey, nơi có Xóm Thượng, tức là chùa Pháp Vân,
dành cho sư nam và tín đồ nam.
Làng Mai Xóm Thượng cũng được xây dựng giống như Xóm Hạ (hay
ngược lại), cũng có một chuông chùa dưới mái ngói, chung quanh
treo biển "je suis chez moi, je suis arrivé", quang cảnh đẹp
hơn, phóng khoát hơn, nhiều ánh sáng hơn, trong vườn có nhiều
hoa hơn và suốt ngày lộng gió. Nh́n tuổi của những bụi cây tre
cao lớn, các cây tre mọc chen nhau khin khít, trong khu vực
làng, tôi nghĩ rằng Xóm Thượng có lẽ được thành lập trước Xóm
Hạ. Những người thường quen sống trong những thành phố lớn đầy
người, đầy xe cộ, đầy bụi bặm, hẳn phải yêu thích phong cảnh nơi
đây, yên tĩnh và thơ mộng.
Xóm Thượng cũng hoàn toàn trống vắng, thấp thoáng bóng hai sư
nam đang nấu bếp cho bữa trai trưa.
Tôi lên đường đi về hướng Thonac, cái tên đứng đầu trong danh
sách các địa danh trong chuyến đi khảo sát lần này của tôi.
Điểm hẹn THONAC
Tôi hỏi Pierre, tại sao các địa danh ở vùng này đều chấm dứt
bằng chữ .."ac". Pierre giải thích "ac", viết tắt của chữ la
tinh " acum", có nghĩa là "nhà", hay "địa phận", mỗi địa danh
đều hàm ẩn một ư nghĩa nào đó.
Thonac là một làng nhỏ, nằm thơ mộng bên con sông Vézère, độ
cao chênh lệch từ 67 mét đến 232 mét, hiện nay có khoảng 250 dân
và vài chục nóc nhà, diện tích 11,62 cây số vuông, tức là rất
thưa dân, trung b́nh có 20 dân cư trên một cây số vuông. Con
đường chính chạy qua làng, uốn khúc quanh co theo ḍng nước mầu
xanh như lá cây của con sông Vézère. Nếu không để ư, th́ lái xe
chạy ngang qua Thonac mà không kịp biết.
Tên làng Thonac xuất hiện lần thứ nhất vào năm 1382. Hiện nay
làng Thonac thuộc về vùng hành chánh Aquitaine, khu vực
Dordogne, tỉnh Sarlat-la-Canéda, huyện Montignac (so sánh với
các cấp địa giới hành chánh Việt Nam như tỉnh, huyện, thành phố,
quận, làng, xă).
Trung tâm làng rất nhỏ, c̣n nhiều nét thôn dă, chỉ có vài
quán ăn, tạp hóa, một khách sạn nhỏ, nhà thờ và nhà hành chánh
của làng, đang được sửa chữa lại, v́ trước kia đây là nhà ở và
làm việc của linh mục cai quản nhà thờ. Trong gian pḥng lớn của
nhà hành chánh làng có một ṿi nước Fontaine
"Saint-Jacques-de-Compostelle”.
Lúc trông thấy nhà thờ làng từ chỗ đậu xe, cách đấy mấy trăm
thước, tôi ngạc nhiên, v́ kiến trúc nhà thờ rất lạ, giống như
một nhà thờ ở tận bên Mễ Tây Cơ trong các phim cao bồi bắn súng
cưỡi ngựa. Nhà thờ cũng đang được sửa chữa lại. Tôi hồi hộp đẩy
cánh cửa gỗ nặng nề kêu ken két bước vào bên trong. Nhà thờ tuy
nhỏ, nhưng bầy biện ngăn nắp, sạch sẽ, không có mùi ẩm mốc như
trong một số nhà thờ bị bỏ phế mà tôi đă vào thăm.
Vị Làng Trưởng, ông Serge Richard, được dân bầu từ năm 2001,
không ngại công sức làm đẹp làng Thonac lưu chân du khách viếng
thăm làng lâu hơn, để cho làng của ông không chỉ trở nên "sống
động" trong vài tháng hè chính trong năm. Ông than, mùa đông,
không có đến một con mèo chạy qua đường.
Năm 2003 làng Thonac được cho phép mang huy hiệu của gia đ́nh
Losse, mà ngày nay đă tuyệt ḍng, đó là một huy hiệu có chín
ngôi sao vàng trên một nền xanh nước biển dưới một vương niệm
lănh chúa, và hàng chữ : "1382 – Thonacum – 2002", một khoảng
cách thời gian 620 năm.
Làng Montignac, cách làng Thonac 6 cây số về phía thượng
nguồn, đă có vẻ là một làng du khách, xinh xắn, đẹp đẽ, có nhiều
nhà hàng với thực đơn hấp dẫn, có cầu cổ bắc ngang sông Vézère,
có một căn nhà cổ xay bột bằng nước sông và những đường hẻm chật
hẹp chỉ một người lọt qua.
Thonac cũng là tên một con sông nhỏ, một trong hai mươi mốt
sông phụ của sông Vézère, bắt nguồn từ làng Bars, dài khoảng 11
cây số, rồi đổ vào sông Vézère ở làng Thonac.
Chính ra làng Thonac có điều kiện cơ sở để phát triển thu
nhập kinh tế v́ thung lũng sông
Vézère là một trong những khu vực di tích lịch sử rất nổi
tiếng chứa đựng nhiều hang đá thời tiền sử, đă được cơ quan
UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới, thí dụ như động
thời tiền sử Lascaux – của thời đại Magdalénien, cách chúng ta
khoảng 17.000 năm - với những h́nh vẽ thú vật rất mỹ thuật trên
vách và nóc các hang đá, cách Thonac chỉ có 5 cây số, mà ai có
dịp đi ngang cũng muốn vào xem.
Sông Vézère dài khoảng 211 cây số, bắt nguồn từ làng
Tourbière de Longéroux ở một độ cao 941 mét tại địa danh Puy
Pendu, gần đỉnh núi Mont Bessou cao 977 mét, trên cao nguyên
mang tên Ngàn Ḅ (Plateau de Millevaches) của rặng núi cổ Massif
central thuộc vùng Corrèze, chảy ngoằn ngoèo qua hai vùng
Limousin và Perigord, tạo ra một thung lũng rộng khoảng 3.736
cây số vuông, đem theo lượng nước của hai mốt con sông phụ,
trước khi đổ vào sông Dordogne tại thị trấn Limeuil.
Nước sông Vézère sói ṃn vào vách núi hai bên, tạo thành
những hang động lớn, nơi trú ẩn thiên nhiên cho người tiền sử
thời đại Homo Erectus, từ 1,85 triệu năm cho đến khoảng 400.000
năm trước đây, đă biết sử dụng lửa, chế tạo các vật dụng và vũ
khí bằng đá lửa cứng (silex) và gỗ, săn bắn thú rừng, ăn thịt,
trái cây và các loại củ, rễ cây, lột da thú làm quần áo, để lại
nhiều dấu tích tại nhiều địa danh hiện nay như Lascaux,
Font-de-Gaume, les Combarelles, Castel-Merle, Laugerie-basse ,
Saint-Cirq, Bernifal, Cap-Blanc, Bara-Bahau.
Ngang sông Vézère có nhiều cây cầu cổ từ thế kỷ thứ mười bốn
bằng đá cổ. Dọc sông, có nhiều làng nhỏ với chục nóc nhà, cây
cối xanh um vây phủ chung quanh. C̣n trên sông th́ người thích
chèo thuyền sẽ được toại nguyện, v́ độ nước chảy đủ mạnh, sông
chảy loanh quanh, nhiều ngóc ngách, qua nhiều làng nhỏ ven sông.
Thonac thuộc về hạ nguồn sông Vézère nên có thể chèo thuyền suốt
năm, nhưng mực nước tốt nhất là từ tháng mười một cho đến tháng
năm.
Pierre mướn thuyền ở làng Montignac, chèo xuôi ḍng Vézère
ngang qua Thonac xuống làng Les Eyzies, tôi lái xe dọc sông đến
chỗ hẹn, ngồi bên bờ sông nh́n bóng những gợn mây trắng phản
chiếu trên mặt nước xanh trôi liên tục và nghĩ mông lung, chờ
thuyền Pierre về. Lên lại bờ, anh ta cười toe toét, ba hoa diễn
tả, cái thú chèo thuyền trên sông, gió mát hiu hiu, tiếng mái
chèo x́ xọt trong nước, núi, thành cổ, lâu đài, cây cối ngả
nghiêng lươn lướt hai bên bờ.
Chưa hết, tại sao tôi t́m đến Thonac ? Tôi muốn xem tận mắt
ngôi mộ của vua Hàm Nghi trong nghĩa địa của làng và lâu đài của
gia đ́nh vua Hàm Nghi tại làng Thonac: château de Losse.
Từ khi t́nh cờ được xem tận mắt nguồn của một con sông lớn,
tôi đứng sững sờ nh́n nước nguồn dâng lên lặng lẽ từ ḷng đất
trong một cái hố khá tṛn, rộng khoảng bốn sải tay. Thỉnh thoảng
những bọt trắng tṛn như bong bóng sủi lên mặt nước. Nước nguồn
tràn đầy hố, rồi thoát ra cuồn cuộn thành một con suối nhỏ. Tôi
biết rằng con suối này sẽ trở thành một con sông lớn trào ra
biển cả. Ấn tượng mạnh mẽ ấy, làm cho tôi rất ham thích đi t́m
nguồn sông, nếu có dịp, nhưng cũng háo hức đi t́m "nguồn" của
nhiều sự việc.
Đă có vài tác giả viết lẫn lộn lâu đài Losse với lâu đài
Nauche, hay viết lâu đài Losse thành lâu đài Cosse mà lại ở
Cannes, một thành phố lớn nằm bên bờ biển Địa Trung Hải phía nam
nước Pháp, cũng như viết nhầm lẫn Thonac với Sarlat, thật ra
làng Thonac cách thị trấn Sarlat khoảng 30 cây số, và lâu đài
Losse cách lâu đài Nauche khoảng hơn 100 cây số đường núi. Vợ
vua Hàm Nghi không phải sinh ở Marcelle. Tên của bà là Marcelle
! Hoặc viết một cách mơ hồ rằng Hoàng Hậu Nam Phương là "hàng
xóm" của vua Hàm Nghi. Chính v́ những thông tin không chính xác
này làm cho tôi phải đi đến tận nơi, nh́n tận mắt.
Gia đ́nh đương kim chủ nhân lâu đài Losse, mua lâu đài Losse
vào tháng tư năm 1999, đang biến lâu đài Losse trở thành một
trọng điểm hấp dẫn du khách, trang trí nội thất bằng những bàn
ghế tủ giả của thời thế kỷ thứ mười sáu và mười bẩy để gây dựng
lại quang cảnh sống của Jean de Losse, sử dụng lâu đài làm phông
cho nhiều phim về lịch sử hay chuyện thần thoại (Cinderella, Les
Dames Galantes, Jacquou le Croquant), mỗi năm tiếp đón khoảng
30.000 du khách, có thể họ không muốn nhắc nhở đến giai đoạn quá
khứ có liên hệ đến một vị Hoàng đế nước Việt Nam bị chính quyền
thực dân đày đi Algerie.
Chỉ khi dọc theo sông Vézère rời khỏi Thonac tôi mới có dịp
hiểu một phần nào lư do tại sao vùng khúc sông này có rất nhiều
lâu đài cổ. Không thông thạo chút nào về địa lư, phong thổ, và
chỉ nhận xét theo cảm quan, th́ tôi thấy đây là một thung lũng
rất đẹp, rất xanh tươi, rất kín đáo, bốn hướng đều có núi vây
bọc che chở, không nằm trên các trục giao thông chính, không hề
bị tàn phá qua hai trận Đại Chiến, nhiều ánh sáng, có sông nước,
có rừng thưa, c̣n nhiều di tích lịch sử rất xa xưa, làm tôi nhớ
những mẩu chuyện đă đọc về các thầy địa lư phong thổ đi t́m đất
cho Vua.
Nhưng lư do nào đă đưa gia đ́nh vua Hàm Nghi về nghĩa trang
Thonac ?
Ngôi mộ vua Hàm Nghi
B́nh thường, trong các làng mạc ở Pháp, nghĩa địa thường nằm
trong khuôn viên của nhà thờ. Tôi đi thẳng đến nhà thờ làng
Thonac, quanh một ṿng: không thấy nghĩa địa đâu cả. Pierre tinh
mắt, chỉ cho tôi xem các dấu vết c̣n sót lại chung quanh các gốc
cây mận đang trổ hoa, nghĩa địa cũ bây giờ đă trở thành băi đậu
xe bên cạnh nhà thờ.
Tôi vào khách sạn bên cạnh hỏi thăm, th́ được biết nghĩa địa
đă được dời lên một khoảng đất trên đồi, phía bên kia đường làng
chính, không xa lắm. May mắn hơn nữa, tôi gặp được bà Christiane
Salviat của Nhà Hành Chánh làng mời vào văn pḥng, dù hôm nay là
ngày không tiếp khách, cho xem bản đồ nghĩa địa.
Đường từ trung tâm làng lên nghĩa địa chỉ khoảng 2 cây số. Trời
vừa dứt một cơn mưa xuân, ánh sáng mù mù ảm đạm, thật là hợp
t́nh hợp cảnh. Trước đó, tôi đă phải chạy ra hướng làng
Montignac để t́m mua nhang. Mộ của gia đ́nh vua Hàm Nghi lớn
nhất, dựa một chân tường, hướng về phía cửa chính. Lâu ngày
không ai săn sóc chùi rửa, nắp đá tảng trên mộ đen thui, rêu
xanh mọc đầy. Cái b́nh hoa duy nhất ở đầu mộ lưng lửng nước mưa.
Không có hoa và cũng không có một chân nhang. Một b́nh hoa mầu
xanh nhỏ bằng ny lông bị gió thổi nằm nghiêng trên đất. Ở đây
toàn là mộ đạo Thiên Chúa. Trên mộ gia đ́nh vua Hàm Nghi cũng có
chạm một cây Thánh giá lớn. Trong hầm mộ có năm người yên nghỉ:
Vua Hàm Nghi, bà Marcelle LALOË, Công chúa Nhu May*, Hoàng tử
Minh Duc* và bà Marie Jeanne DELORME.
Các hàng chữ khắc trên mộ như sau:
S.M. HAM NGHI, Empereur d'Annam, Hue 1871 - Alger 1944
S.A.I. La princesse d'Annam, née Marcelle LALOË, 1884 – 1974
Nhu May, Princesse d'Annam, 1905 – 1999
Minh Duc, Prince d'Annam, 1910 – 1990
Marie Jeanne DELORME, 1852 - 1941
Bà Marie Jeanne Delorme, sinh ngày 5 tháng 6 năm 1852 tại
Besseyre, thuộc địa phận Loubaresse (Cantal), con của Jean
Delorme và Francoise Esbras, qua đời ngày 2 tháng 9 năm 1941 tại
lâu đài Losse. Người làm giấy khai tử cho bà Marie Jeanne
Delorme là công chúa Nhu May, lúc đó 36 tuổi, nghề nghiệp: nhà
nông (2). Bà Delorme có lẽ được an táng trước nhất trong hầm mộ,
v́ tất cả những nhân vật khác đều qua đời sau bà. Người làng
Thonac cho rằng bà Delorme là gia nhân của gia đ́nh vua Hàm
Nghi, nhưng thông tin này sẽ c̣n phải kiểm chứng lại nếu có dịp.
S.A.I. có nghĩa là Son Altesse Impériale, danh xưng của vương
phi, tước vị của bà Marcelle LALOË khắc trên mộ là Công Chúa,
theo truyền thống nhà Nguyễn không lập ngôi Hoàng Hậu lúc bà c̣n
sinh thời, và bà cũng không được truy tôn làm Hoàng Hậu sau khi
qua đời, nhưng chữ "La princesse d'Annam" chỉ rằng bà là chính
phi của vua Hàm Nghi.
S.M. có nghĩa là Sa Majesté, danh xưng của vua chúa. Nhưng
khắc ghi trên mộ vua Hàm Nghi là Empereur d'Annam (Hoàng đế An
Nam) là không đúng.
Vào cuối đời vua Tự Đức, triều đ́nh Huế đă kư hết hiệp ước
này đến hiệp ước khác với Pháp, mất dần chủ quyền, độc lập, tự
do. Các cuộc nổi dậy chống lại Pháp th́ được sử sách viết là
"làm giặc" như Đề Thám (3), hay "nổi loạn" như phong trào Văn
Thân ở Nghệ Tĩnh năm 1874, và bị quan quân triều đ́nh đánh dẹp.
Công việc ngoại giao cầu viện trợ Tầu cũng không xong, v́
trung tá Fournier, đại diện Pháp, kư với Lư Hồng Chương bản Ḥa
ước Thiên Tân ngày 18 tháng 4 năm Giáp Thân (1884), nước Tầu rút
hết quân đóng ở miền Bắc, và công nhận quyền cai trị của Pháp
trên đất Việt Nam.
Đến khi các quan Nguyễn Văn Tường, Phạm Thuận Duật và Tôn
Thất Phan của triều đ́nh Huế, kư với Patenôtre và Rheinart, bản
Ḥa ước Patenôtre vào ngày 13 tháng 5 năm 1884 th́ nước Việt Nam
mất hết chủ quyền và bị chia làm ba kỳ, mỗi kỳ có luật lệ riêng
và sự giao thông giữa ba kỳ bị kiểm soát nghiêm ngặt bằng giấy
thông hành.
Patenôtre và tướng Courbet c̣n chưa hả dạ, muốn xóa dấu tích
của Tầu đối với Việt Nam, làm áp lực để tịch thâu cái ấn Việt
Nam Quốc Vương Chi Ấn, bằng bạc ṛng mạ vàng, nặng 5 kí 9, h́nh
vuông, cạnh to từ 10 đến 12 phân, của vua nhà Thanh phong cho
người khai sáng nhà Nguyễn – vua Gia Long – năm 1804, đem chiếc
ấn về Pháp làm chứng vật chiến thắng. Nhưng Nguyễn văn Tường và
Phạm Thuận Duật, trước sự chứng kiến của Patenôtre và Courbet,
nhất định cho nấu chẩy chiếc ấn lịch sử này, theo thông tin của
l'Agence Havas viết vào ngày 30 tháng 8 năm 1884, không để cho
Patenôtre đem chiếc ấn này về Pháp. (4)
Đối ngoại th́ như thế c̣n đối nội th́ triều đ́nh Huế rất lủng
củng và chia rẽ v́ hai chính kiến: đánh Pháp hay theo Pháp. Sau
giai đoạn bốn tháng ba vua (Dục Đức – Hiệp Ḥa – Kiến Phúc, 1883
– 1884), hai quan đại thần Nguyễn văn Tường và Tôn Thất Thuyết
chọn Ưng Lịch, mới có 13 tuổi, em của Ưng Đường (là con nuôi thứ
hai của Tự Đức), lên làm vua.
Nguyễn Phúc Ưng Lịch, tên húy là Nguyễn Phúc Minh, sinh ngày
3 tháng 8 năm 1871 tại Huế, con của Thuận Nghi Kiên Thái Vương
Nguyễn Phúc Hương Hội (Nguyễn Phúc Cai), đăng quang Hoàng Đế
ngày 01 tháng 8 năm 1884 tại Huế, là vị vua thứ tám của nhà
Nguyễn, lấy niên hiệu Hàm Nghi ngày 15 tháng 2 năm 1885, xưng
danh Đại Nam Hoàng Đế, quốc hiệu là Đại Nam.
Chính quyền thực dân Pháp ép vua Hàm Nghi phải đổi tước hiệu
lại là Hoàng Đế An Nam, hạn chế tước vị và quyền lực (hư vị) của
vua Hàm Nghi chỉ trên miền Trung (Annam), coi như một cách chấp
nhận chính thức quyền bảo hộ và cai trị của Pháp trên ba miền
của nước Việt (theo cách thức quản lư hành chánh của chính quyền
Pháp th́ họ áp đặt gọi miền Bắc là Tonkin, miền Trung là Annam
và miền Nam là Cochinchine).
Thời gian trị v́ của vua Hàm Nghi chưa được một năm. V́ thái
độ hống hách của tướng de Courcy, đă nhất định đ̣i đi cùng với
500 quân lính vào cửa chính để yết kiến vua Hàm Nghi mà Tôn Thất
Thuyết tức giận, đem quân tiến đánh đồn Mang Cá vào nửa đêm về
sáng ngày 5 tháng 7 năm 1885.
Quân Pháp đánh trả lại đến sáng th́ kinh thành Huế thất thủ,
quân Pháp tiến vào nội thành, chiếm đóng hoàng cung và tịch thu
các vũ khí, báu vật, hơn mười triệu tiền giấy, vàng thỏi, bạc
thỏi. (5)
Vua Hàm Nghi được Tôn Thất Tuyết và Nguyễn văn Tường đưa ra
khỏi cung điện, lên đường chống Pháp, nhưng ngay ngày hôm sau
Nguyễn Văn Tường trở về đầu hàng Pháp, rồi hai tháng sau đó bị
Pháp đưa đi đầy cùng với cả gia đ́nh ở Tahiti. Hàm Nghi ban Hịch
Cần Vương kêu gọi anh hùng các nơi chống Pháp.
V́ sự phản bội của Nguyễn Đ́nh T́nh và Trương Quang Ngọc, vua
Hàm Nghi bị chính quyền thực dân Pháp bắt vào tháng 9 năm 1888,
rồi bị đưa lên đường đi đày vào cuối năm 1888.
Hàm Nghi đến Alger (thủ đô của nước Algerie tại Bắc Phi) vào
đầu năm 1889, rồi bị quản thúc tại Biệt thự Villa des Pins thuộc
làng El Biar, cách Alger 5 cây số, lúc đó Hàm Nghi mới được 18
tuổi.
Trong suốt thời gian lưu đày ở Alger, vua Hàm Nghi chỉ được
gọi là Prince d'Annam (Hoàng tử An Nam) và được lănh một số tiền
cấp dưỡng lúc ban đầu là hai mươi lăm ngàn quan Pháp một năm,
trích từ ngân sách của Việt Nam để sinh sống (6).
Theo khắc ghi trên mộ th́ vua Hàm Nghi mất năm 1944 tại El
Biar, Alger, thọ 73 tuổi, hài cốt vua Hàm Nghi được cải táng về
nghĩa trang Thonac vào năm 1965. Vua Hàm Nghi được phong miếu
hiệu là Hiến Tổ Chương Hoàng Đế.
Ngày 4 tháng 11 năm 1904 vua Hàm Nghi, lúc được 33 tuổi, cưới
bà Marcelle Aimée Léonie LALOË, con gái của ông François Laloë
và bà Suzanne Ving, tại Alger. Bà Suzanne Ving là con gái của bà
Aimée Souham.
Bà Marcelle Aimée Léonie LALOË sinh ngày 02 tháng 7 năm 1884
và qua đời ngày 05 tháng 9 năm 1974 tại lâu đài Château de Losse
trong làng Thonac, thọ 90 tuổi.
Vua Hàm Nghi và bà Marcelle Aimée Léonie LALOË có ba người
con: Công chúa Nhu May sinh năm 1905, Công chúa Nhu Ly* sinh năm
1908 và Hoàng tử Minh Đức sinh năm 1910. Công chúa Nhu Ly không
được an táng trong hầm mộ gia đ́nh tại làng Thonac.
Theo sự chỉ dẫn của ông Richard tôi rời Thonac, trực chỉ
hướng Juillac, cách Thonac khoảng 60,70 cây số về hướng đông
bắc, nhưng không dùng xa lộ mà chọn đường quốc lộ và đường làng,
để dễ t́m hiểu và quan sát phong cảnh hơn. Đoạn đường từ Thonac
đến Juillac xuyên núi, xuyên rừng, lên cao, xuống dốc, rất đẹp,
có nhiều quang cảnh hùng vĩ.
Đến làng Chabrignac, cách Juillac chỉ vài cây số, đă có kinh
nghiệm t́m kiếm, tôi và Pierre lái xe thẳng đến nghĩa địa nằm ở
ven đường chính, trên một mỏm đồi cao nh́n xuống làng phía dưới,
xem từng tấm bia, từng ngôi mộ. Ngôi mộ của bà Hoàng Hậu Nam
Phương, người vợ chính thức đầu tiên của Bảo Đại, rất dễ nhận
ra, v́ có hai cây tùng trồng hai bên mộ, nay đă cao và to ph́nh.
Ngôi mộ có vẻ mới được trùng tu lại, sạch sẽ, đơn sơ. Nắp đậy
huyệt chỉ là một tấm bê tông phẳng phiu, có chạm nổi h́nh thánh
giá và một tấm bia ch́m đề hàng chữ " Sa Majesté Nam Phuong
Impératrice d'Annam 1913 – 1963" . Trên nắp huyệt dựng một tấm
bia khác đề rơ hơn một chút " Ici repose l'Impératrice Nam
Phuong, née Jeanne Mariette Nguyen Huu Hao, 14.11.1913 –
15.09.1963". Thật ra tên của bà là Nguyễn Hữu thị Lan. Tấm bia
cũ, viết chữ Hán nôm, vẫn c̣n đứng ở đầu mộ.
Làng Chabrignac rộng khoảng 1.000 mẫu, theo thống kê năm 2002
th́ có khoảng 444 dân cư. Từ nghĩa trang xuống làng, chạy ḷng
ṿng một quăng th́ thấy nơi ở cũ của bà Nam Phương, một ngôi nhà
khá to lớn, gọi là Domaine de la Perche, nằm khuất trong một khu
vực có nhiều cây cối xanh tươi.
Trở ra đường cái, tôi dừng xe trước một lâu đài nho nhỏ, đẹp
giống như một lâu đài trong truyện cổ tích thần thoại Bạch Tuyết
và bẩy chú lùn hay Công chúa ngủ trong rừng, đứng ngắm hồi lâu.
Lâu đài này có bốn tháp h́nh tṛn ở bốn góc, liên kết với phần
giữa thành một khối, xây từ khoảng thế kỷ thứ XIV, XV, nổi bật
trên một phần đất dọn dẹp rất sạch sẽ, không có cỏ dại mọc,
chứng tỏ là có người ở. Gần đấy, hiện ra nóc chuông nhà thờ làng
Chabrignac, cũng có vẻ Mễ Tây Cơ giống như nhà thờ làng Thonac.
Bên cạnh nhà thờ, là một căn nhà rất lớn, nằm trên một khoảng
vườn rộng, tường cao vây bọc chung quanh, cổng nhà rất oai
nghiêm. Tôi và Pierre đang đứng tần ngần ngắm nhà thờ, bàn tán
với nhau, th́ một "ông tiên" hiện ra, thấy bộ tướng chúng tôi
không phải là kẻ trộm cướp, ông vui vẻ tṛ chuyện trao đổi. Hóa
ra, trời thương tôi thật, tôi đă thấy trước mắt lâu đài có bốn
tháp tṛn ấy của ông Tử Tước Vicomte de la Besse, cháu ngoại của
vua Hàm Nghi. Lúc vua Hàm Nghi qua đời th́ Tử Tước mới có bẩy
tuổi.
Chưa hết mệt, chúng tôi lại đi tiếp tục để đến thị trấn
Vigeois, cách Chabrignac khoảng 30 cây số đường núi. Trên đoạn
đường này, tôi đi ngang qua lâu đài của bà Hầu Tước Marquise de
Pompadour, người t́nh rồi bạn thân của vua Louis XV tại thị trấn
Arnac-Pompadour, một nơi thu hút khá nhiều du khách.
Vigeois, nằm trên một độ cao 311 mét, có khoảng trên 1.200
dân, thuộc vùng hành chánh của thành phố Brive, cách Chabrignac
khoảng 30 cây số về hướng nam. Lâu đài La Nauche nằm trong địa
phận Simons của thị trấn Vigeois, là chỗ ở của gia đ́nh Bá tước
de La Besse.
Người con gái thứ hai của vua Hàm Nghi mang tên Nhu Ly sinh
ngày 22 tháng 7 năm 1908, kết duyên ngày 20 tháng tư năm 1933,
với Bá tước François Barthomivat de La Besse (sinh ngày 3 tháng
2 năm 1905), qua đời ngày 9 tháng 7 năm 2005, thọ 97 tuổi, được
an táng riêng rẽ trong nghiă trang của thị trấn Vigeois, chung
trong hầm mộ với bà Marguerite Aglaé de la Besse Nauche de
Leymarie (1804 – 1867), cũng không chung một mộ với chồng.
Bà công chúa Nhu Ly có ba người con, hai gái một trai,
Françoise, Philippe và Anne (tức là ba cháu ngoại của vua Hàm
Nghi).
Françoise Barthomivat de la Besse kết hôn với Jacques Matis
de Bisschop, có ba người con.
Philippe Barthomivat, Vicomte de la Besse. Sinh ngày 25 tháng
2 năm 1937, kết hôn với bà Jane Boardman, không có hậu duệ.
Anne Alice Marie Barthomivat de la Besse kết hôn với ông Guy
Dabat, có bốn người con.
Lâu đài của Công Chúa Nhữ Mây: Château de Losse
Người con gái đầu ḷng của vua Hàm Nghi với bà Marcelle Aimée
Léonie LALOË, mang tên, theo sổ sách hành chánh của Pháp ghi
chép nguyên bản lúc bà qua đời là: Nhu-May, Suzanne, Henriette
UNG LICH HAM NGHI D'ANNAM, sinh ngày 17 tháng 8 năm 1905 tại El
Biar (Algérie), cư trú tại " La petite maison de Losse" (căn nhà
nhỏ của Losse), qua đời ngày 01 tháng 11 năm 1999 tại nhà thương
của thị trấn Vigeois (vùng Corrèze), Pháp, thọ 94 tuổi. Bà công
chúa Nhu-May, sống độc thân, không có hậu duệ, lúc sinh thời là
nhà nông.
Theo chữ kư của bà có bỏ dấu tiếng Việt trong văn tự c̣n được
lưu trữ th́ tên của bà là Nhữ Mây. Một cái tên rất lạ và rất
đẹp. Trong các văn bản chính thức, bà kư tên là Nhữ Mây d'Annam.
(7)
Công chúa Nhữ Mây về Pháp mua lâu đài Losse vào ngày 6 tháng
8 năm 1930, lúc bà mới có 25 tuổi. Trong văn tự mua bán lâu đài
Losse kư với các người bán là ông Marie Antoine Jules Maurice
Challe, bà Marie Joseph Françoise Elisabeth Mercier và cô
Françoise Marie Beausoleil, th́ địa chỉ của công chúa Nhữ Mây
khi ấy là Biệt thự Gia Long, El Biar, Algérie. Bà mua lâu đài
Losse với giá là bốn trăm năm chục ngàn quan Pháp, trả làm hai
lần, lúc giao lâu đài trả ba trăm ngàn quan tiền mặt, phần c̣n
lại một trăm năm chục ngàn quan Pháp sẽ được trả trong ṿng ba
năm, với phân lăi là bẩy quan hai chục xu (tức là 7,2%).
Lâu đài Losse (Château de Losse) được xây cất sát bờ sông
Vézère, khởi đầu xây theo kiểu một thành tŕ nhỏ kiên cố thời
Trung cổ, có hào nước rộng chung quanh và cầu treo để chống xâm
nhập bằng người và ngựa, nền móng đặt từ thế kỷ thứ XIV, dần dần
đến năm 1576 được sửa sang lại thành một lâu đài theo phong cách
mỹ thuật của thời Phục Hưng (Renaissance) theo ư của chủ nhân
lâu đài khi ấy là Jean II de Losse.
Jean de Losse xuất thân gốc Ḥa Lan. Lịch sử ḍng họ Losse
c̣n ghi được từ thế hệ Frénon de Losse, tử trận tại Montlery vào
năm 1465. Sau đó, đến con của Frénon de Losse, cũng tên là
Frénon de Losse, làm quan vơ cho vua Louis XI. Cháu nội của
Frénon de Losse, tên là Pierre de Losse, chết tại vùng Milan năm
1515 trong một trận chiến dưới quyền vua Francois 1er. Con của
Pierre de Losse là Jean II de Losse, sau khi đă có nhiều công
trạng, được phong làm Tổng Trấn vùng Périgord và Limousin (8).
Truyền thêm được mấy đời con cháu th́ người thừa kế của ḍng
tộc Losse tên là Jean Cirus Marie Adélaïde Timbrune de Valence,
con của bà Louise de Losse, bán lâu đài năm 1807 cho Jacques
Maleville, với giá là 500.000 quan. Sau đó, lâu đài Losse được
bán đi bán lại nhiều lần, trải qua nhiều biến cố. Tới năm 1830
Joseph Mérilhou mua với giá 105.000 quan. Sau đó, ông Gouyon mua
lâu đài Losse với giá 202.000 quan ngày 06.03.1880, tu sửa lại
năm 1884, rồi bán lại cho gia đ́nh Challe – Mercier vào ngày
20.03.1922 với giá là 290.000 quan. Họ chỉ ở đấy có tám năm rồi
bán lại cho công chúa Nhữ Mây (9).
Vùng đất thuộc lâu đài Losse rất rộng, khoảng 100 mẫu, lan
tràn trên cả hai làng Thonac và Saint Léon sur Vézère gọi là
"Terre de Losse" (Đất của Losse) gồm có sân rộng, lối vào, lâu
đài, chuồng ngựa, nhà ở, xưởng thợ, kho chứa, vườn, rừng, đồng
cỏ, ruộng nho và các loại bất động sản khác. Lâu đài Losse thuộc
quyền sở hữu của công chúa Nhữ Mây được 46 năm, một thời gian
khá dài, th́ bà bán lâu đài năm 1976 (khi ấy bà được 71 tuổi,
hai năm sau khi bà LALOË qua đời), chỉ giữ lại một ngôi nhà nhỏ
trên vùng đất của Losse, gọi là "la petite maison de Losse" để ở
cho đến khi qua đời, năm 1999.
Cuối cùng, ngôi nhà này cũng được người thừa kế của công chúa
Nhữ Mây bán cho một thương nhân địa ốc ở Antibes.
Nghi vấn HÀM NGHI, thật hay giả
Theo bài "Lần t́m dấu vết vua Hàm Nghi – Có một Hàm Nghi "Lê
Lai"...đăng trên mạng, (10) ông Trần Hữu Thành đă t́m ra một khu
mộ với ba mươi sáu mộ trong rừng núi Tà Lơn mà ông tin rằng đây
chính là mộ vua Hàm Nghi thật, chôn cất cùng với các chiến sĩ
Cần Vương bảo vệ vua.
Trần Trọng Kim ghi lại trong sử rằng: "Tôn Thất Thuyết thấy
thế không chống nổi quân Pháp bèn bỏ vua Hàm Nghi ở lại đồn Vé,
thuộc huyện Tuyên Hóa (tên cũ là Qui Hợp Châu) tỉnh Quảng B́nh,
rồi cùng với đề đốc Trần Xuân Soạn đi đường thượng đạo, nói rằng
sang cầu cứu bên Tàu. ... (Về sau chết già ở Thiều Châu, thuộc
tỉnh Quảng Đông). Vua Hàm Nghi bấy giờ phải ẩn nấp ở vùng huyện
Tuyên Hóa có các con Tôn Thất Thuyết là Tôn Thất Đạm và Tôn Thất
Thiệp cùng với đề đốc Lê Trực và Nguyễn Phạm Tuân, hết sức giữ
ǵn và đem quân đi đánh phá ở mạn Quảng B́nh và Hà Tĩnh."
Sau khi Tôn Thất Thiệp bị bọn phản bội T́nh và Ngọc đâm chết,
vua Hàm Nghi bị chúng bắt giải về nộp cho Pháp, c̣n Tôn Thất Đạm
tự thắt cổ chết, Trần Trọng Kim b́nh luận như sau: " Ông
Tôn-thất Thuyết làm đại tướng mà cư xử ra một cách rất hèn nhát
không đáng làm người trượng-phu chút nào. Nhưng hai người con
th́ thật là bậc thiếu-niên anh-hùng, có thể che được cái xấu cho
cha vậy."
C̣n ông Trần Hữu Thành tin rằng người bị đày sang Algérie
không phải là vua Hàm Nghi thật, chỉ là vua giả, và ông đưa ra
giả thuyết: Tôn Thất Thuyết đă phao tin ḿnh ôm ấn tín sang Tàu
cầu viện rồi cùng vua Hàm Nghi bí mật lánh vào Nam. Tôn Thất
Thiệp cùng một số nghĩa quân hy sinh ở lại hộ giá vua Hàm Nghi
"Lê Lai" để làm kế nghi binh.
Tôn Thất B́nh kể trong cuốn Triều đại nhà Nguyễn: "... Bọn
Pháp hoang mang không biết là người trước mặt có thật là vua Hàm
Nghi chăng, hay là tên Trương Quang Ngọc phỉnh lừa ...giữa lúc
ấy có một cụ già chống gậy đến. Đó là Nguyễn Thuận, thầy dạy vua
Hàm Nghi thuở thiếu thời. Vừa thấy thầy cũ, vua Hàm Nghi đột
nhiên đỡ cụ và vái chào. Bọn Pháp lúc đó mới tin chắc đó là vua
Hàm Nghi...." Sau đó, vua Hàm Nghi từ chối không muốn gặp lại
Hoàng Thái Hậu, đang đau ốm.
Những nhân vật có thể nhận diện vua Hàm Nghi như Nguyễn văn
Tường, Phạm Thận Duật và Tôn Thất Đính th́ đă bị De Courcy đem
tầu chở đi đày ở Côn Lôn, nhưng cũng c̣n Đề đốc Lê Trực, người
đă ra đầu thú Pháp và được tha cho về quê sinh sống.
De Courcy th́ đă bị triệu về Pháp vào cuối năm 1885, chính
phủ Freycinet cử tướng Warnel và Paul Bert sang thay thế.
Theo thiển ư, vào thời ấy không có các phương tiện thông tin
bằng h́nh và phim ảnh hiện đại, cũng như các biện pháp kiểm soát
nhân diện hết sức tinh vi như ngày nay, vua chúa thường ở ngày
đêm trong cung cấm, chỉ có thân quyến và các quan đại thần kề
cận mới biết chính xác mặt mũi, vóc giáng, giọng nói, c̣n th́ ít
ai được thấy vua, cho nên khi có biến, vua dễ đưa ra một người
khác làm giả ḿnh. Một người thầy, có nhiều học tṛ, cho nên chi
tiết gặp thầy cũ không phải là một chi tiết "nhận diện" chính
xác. Vua Hàm Nghi lại không muốn gặp mẹ, trước khi đi đày. Tại
sao ?
Trong thời đại của chúng ta, muốn "nhận diện" ai thật hay
giả, trong trường hợp này, vua Hàm Nghi nào thật, vua nào giả,
không phải là một điều khó khăn, hậu duệ vua chúa nhà Nguyễn c̣n
rất nhiều, hơn nữa, các phương pháp tối tân để khảo nghiệm về
gia truyền, thí dụ như cách khảo nghiệm theo ADN (Acide
désoxyribonucléique), có thể cung cấp một kết quả chính xác. Hy
vọng một ngày nào đó, chúng ta sẽ được xác nhận vĩnh viễn.
Về đến nhà, sau một tuần lễ gọi là đi dạo mùa xuân, trước khi
bước xuống xe, tôi nh́n vào đồng hồ trước tay lái, tôi và Pierre
đă đi và về tổng cộng hơn hai ngàn sáu trăm cây số.
© Mathilde Tuyết Trần, Lataule 2007
Ghi chú và tài liệu tham khảo:
• * : Cách viết của Pháp, không có dấu tiếng Việt
1. Bài "Đi t́m dấu vết Bá Đa Lộc" của Mathilde Tuyết Trần, đă
đăng trên www.diendan.org, www.vietsciences.org,
www.vietducinfo.com, www.erct.com và Tạp Chí Nghiên Cứu và Phát Triển của tỉnh Thừa Thiên – Huế
số 1/2007
2. Văn khố lưu trữ
3. Bài "Đề Thám – Người anh hùng hay thằng giặc" của Mathilde
Tuyết Trần, đă đăng trên www.vietsciences.org,
www.vietducinfo.com, www.erct.com và Tạp Chí Nghiên Cứu và Phát
Triển của tỉnh Thừa Thiên – Huế số 2/2007
4. Bài La Signature du Traité du 6 Juin 1884 avec l'Annam et
la destruction du Sceau Chinois 30 aout 1884, trang 75 – 76
trong quyển Les Grands Dossiers de l'ILLUSTRATION L'INDOCHINE,
Edition SEFAG, 1987
5. Bài Le Guet-apens de Hue – 7 novembre 1885 – trang 77-78
trong quyển Les Grands Dossiers de l'ILLUSTRATION L'INDOCHINE,
Edition SEFAG, 1987
6. Triều đại nhà Nguyễn, Tôn Thất B́nh, nxb Đà nẵng, 2000
7. Văn khố lưu trữ
8. Thonac – Sylvie Sudrie-Vidal, Octobre 2001 và Le Chateau
de Losse – M.Segondat, 23 septembre 1979
9. Văn khố lưu trữ
10. Trang http://www.sgtt.com.vn của tờ Sai Gon Tiep Thi
Online,
11. Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim
12. Các trang trên mạng Internet
®
"Khi phát hành lại thông tin
từ trang này cần phải có sự đồng
ư của tác giả
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com"
|
|