...hễ cái sức đă không đủ, th́
không có cái lư ǵ là phải cả.
Trần Trọng Kim – Việt Nam sử Lược
Cái lư của kẻ mạnh, của thế lực. Đó là bài
học lịch sử mà Trần Trọng Kim đă dạy lại đời
sau !
Trong Chương XV - Việc Đánh Dẹp ở Trung Kỳ
và Bắc Kỳ - của quyển Cận Kim Thời Đại trong
bộ Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim chỉ ghi
lại vẻn vẹn trong một ḍng về Đề Thám như
sau:
„ Đề Kiều và Lương tam Kỳ ra thú được ở yên.
Cai Kinh bị bắt, Đốc Ngữ ra thú, Hoàng hoa
Thám ở Yên-thế cũng ra thú, được giữ ở vùng
ấy, măi đến năm 1909 mới bị đánh đuổi, đến
năm 1912 mới bị giết....Quan quyền Tổng-đốc
Hải-dương là Hoàng Cao Khải đi đánh dẹp có
công, về được chính-phủ bảo-hộ cho lănh chức
Bắc-kỳ Kinh-lược-sứ. „
Theo lời giới thiệu trên báo chí Việt Nam,
Claude Gendre là cháu nội của Jean Gendre,
một người lính trong quân đội viễn chinh
Pháp đă từng chiến đấu ở Việt Nam cùng thời
với giai đoạn Đề Thám. Trên đường đi t́m lại
kỷ niệm của ông nội, Claude Gendre đă „vấp“
phải nhân vật lịch sử Đề Thám, làm cho ông
say mê t́m ṭi, rồi viết thành sách.
Trong khi chờ đợi cuốn sách „ Le Dê Thám
(1858-1913) – Un résistant vietnamien à la
colonisation francaise „ của tác giả Claude
Gendre xuất bản vào giữa tháng tư năm 2007
tại nhà xuất bản L‘Harmattan, với lời tựa
của ông Charles Fourniau, giá bán là 19,50
euros, đă được đặt mua tại một tiệm bán sách
của một thành phố nhỏ, tôi lục lọi trong tủ
sách nhà, moi ra được vài tài liệu có liên
quan đến Đề Thám, mà tôi chưa có dịp sử
dụng.
Cũng may thay, tôi có dịp được trao đổi trực
tiếp với Claude Gendre, chính ông đă có nhă
ư gọi điện thoại cho tôi, nên khi viết bài
này, trong đầu tôi đă có ư thiên vị tác giả.
Ông cho tôi biết, Jean Gendre, nếu không bị
thương và được chuyển về Pháp, có lẽ đă ở
lại suốt đời tại Việt Nam. Ư thích của ông
nội, vừa thích con người, vừa yêu mến cảnh,
thích từ tiếng nói cho đến bữa ăn hàng ngày
của Việt Nam, đă gây ấn tượng và gợi trí ṭ
ṃ cho người cháu. Đến lượt Claude Gendre,
sau khi đă qua thăm Việt Nam mấy lần, ông
cũng nói với tôi rằng: „Comme mon
grand‘père, je suis tombé amoureux du Viet
Nam“ (Giống như ông nội tôi, tôi đâm ra yêu
mến Việt Nam).
Claude Gendre không có vẻ bài bác ư định tôi
dịch cuốn sách của ông ra tiếng Việt, nhưng
trong khi chưa có quyết định cụ thể, v́ phải
tôn trọng luật lệ bản quyền của tác giả và
nhà xuất bản, cho nên trong phạm vi bài b́nh
luận này, tôi không được phép trích hay dịch
nguyên văn của Claude Gendre viết trong
sách.
Cảm giác về thời đại
Đề Thám
Ngày xưa khi lái xe Honda lượn quanh trên
con đường Đề Thám nằm trong quận một của
thành phố Saigon, nay là thành phố Hồ Chí
Minh, thông từ đường Trần Hưng Đạo ra bến
Chương Dương của rạch Thị Nghè, tôi chỉ biết
ngắn gọn, học trong những giờ Việt sử của
trường, rằng Đề Thám chống Pháp nhưng bị
quân Pháp tiêu diệt. Thế thôi, không biết
nhiều hơn.
Hôm nay, khi xem tấm h́nh lịch sử của các
thế hệ cha ông thời đại Đề Thám, tôi chú ư
đến một chi tiết làm cho tôi rất động ḷng.
Đó là những bàn chân trần, chân đất, không
có giầy dép. Trong khi quân lính thực dân
Pháp, mặc quân phục, đội mũ, mang giầy ống
bằng da, trang bị súng gắn lưỡi lê dài nhọn,
băng đạn đeo quanh bụng th́ những người anh
hùng kháng chiến chống pháp đầu đội trời
chân đạp đất theo đúng cả hai nghĩa, đen và
bóng.
Trên những tấm h́nh ghi lại những „chiến
thắng“ của quân đội Pháp, được in và phát
hành thành „cartes postales“ bán tự do cho
dân chúng, khi bị bắt, những người kháng
chiến, trên mảnh đất quê hương của ḿnh, bị
gọi là „giặc cướp“ (pirates), mặc áo vá
nhiều mảnh bằng đủ mọi thứ vải, rách rưới,
có người không có một mảnh quần, râu tóc lù
xù, ốm yếu ḷi xương.
Những tấm h́nh người Việt đi lính cho Pháp
chặt đầu người Việt chống Pháp. Những tấm
h́nh đầu người bị chặt, đầy máu, mắt không
nhắm, bỏ rọ treo lên cây đầu làng, làm cho
tôi mất ăn mất ngủ, dù rằng ngày tháng trên
h́nh khắc ghi năm 1908, tôi chưa được sinh
ra đời. Những tấm h́nh người bị đóng cọc
ngồi trên đất, trói chặt hai cánh khủy ra
sau, rồi bị thắt cổ vào cọc, chết một cách
rùng rợn thê thảm. Những tấm h́nh thi thể
người bị xử tử xếp thành hàng. Lịch sử không
được viết bằng mực mà bằng máu.
Nhưng cũng có những tấm h́nh, may mắn thay,
ghi lại những cái nh́n thẳng, kiên quyết,
hiên ngang vào ống kính của kẻ thù đang chụp
để giữ làm tài liệu. Không có ǵ vô lư cho
bằng, những kẻ đi xâm chiếm nước khác, lại
gọi những người kháng chiến chống xâm lăng
là giặc. Đó là những tấm h́nh của giai đoạn
„Đề Thám“ mà tôi được xem.
Kèm theo những tấm h́nh đầu nghĩa quân của
Đề Thám bị chặt đứt, bỏ rọ treo lên cây và
dưới đề tựa „Không có ǵ là hiếm hoi khi
nh́n thấy đầu người treo trên cây“, Jean
Ajalbert, kể cho độc giả tờ „Lectures
Modernes“ vào ngày 10 tháng 9 năm 1903 một
mẩu chuyện dựa theo cuốn sách của Dr.
Hocquart, dưới h́nh thức một lá thơ viết cho
một người cháu:
„ Sự dă man châu Á không phải là một câu
chuyện thần thoại. Họ hành hạ xác chết.
Người ta đă t́m thấy thi thể của Francis
Garnier bị moi tim, da bụng bị cắt, đầu bị
chặt, c̣n Rivière, hai cổ tay bị chặt đứt.
Người ta đồn rằng, họ ăn trái tim phơi khô,
v́ họ tin rằng, họ sẽ trở thành can đảm như
người anh hùng.
Không có ǵ hiếm hoi khi nh́n thấy đầu người
treo trên cây, hay là những thi thể mà đă
xuyên qua miệng, hai chân hai tay bị chặt
đứt, trói chặt bằng giây thừng quấn quanh
ngực và cổ như một sợi dây chuyền, hay là
những thi thể bị xâu với nhau như là một que
thịt nướng. Cháu có thể tưởng tượng rằng
những sự dă man ấy kích động quân lính. Cũng
như thế, phản loạn hay giặc cướp, không
tránh khỏi những cực h́nh. Họ chịu đựng cái
chết với một sự can đảm lạ thường – kiên
quyết.
Chú kể cho cháu nghe một chuyện hành quyết
trong bài „một làng ở Tonkin“ (Une campagne
au Tonkin): một khúc tre mỏng mảnh, cao
khoảng 80 phân, được cắm vào đất. Theo lệnh
ngắn gọn của viên quan, kẻ tử tù quỳ gối
trước cọc. Hắn ta bị trói hai tay vào cọc
bằng dây rợ. Cái cọc không chắc chắn, chỉ
một cử động nhỏ là có thể làm trật cái cọc.
Nhưng thằng giặc không có một cử động nào.
Cái ḥm được đặt cách kẻ tử tù vài bước, mà
hắn ta chỉ cần ném một cái nh́n qua phía ấy
sẽ thấy. Đao phủ bước gần lại, gươm nắm
trong tay, với một cử chỉ nhanh nhẹn cởi nút
áo của tử tù, kéo cổ áo xuống thấp, gằn ra
phía sau, để phơi trần cái cổ và hai vai.
Đao phủ kéo mái tóc dài ngược lên đầu, để lộ
gáy. Người đàn ông sắp bị chém, không tỏ một
cử động phản kháng. Ông ta chịu đựng bàn tay
của đao phủ sửa soạn thong thả, không hấp
tấp, xếp đặt tư thế để chém như một nhà điêu
khắc đang nắn một bức tượng, cái đầu cúi
xuống, chập vào ngực, hai đầu gối phải x̣e
doăi ra, với một sự chấp nhận b́nh thản làm
xé trái tim người chứng kiến. người đao phủ
xắn ống quần rộng lên tận đầu gối, nhổ một
cụm nước bọt đỏ tươi mầu trầu, quét một vệt
nước bọt đỏ lên gáy kẻ tử tù để làm dấu chỗ
chém. Quan viên hất tay ra lệnh. Đao phủ nắm
thanh gươm bằng hai tay, lưỡi gươm rộng bản
lấp lánh sáng như một nửa ṿng tṛn trong
không gian, cái đầu bay lên rồi lăn trên mặt
đất, trong khi cái thân gục xuống phía
trước, một ḍng máu bắn ra từ các mạch máu
bị cắt. Trong khi đao phủ chùi thanh gươm
đẫm máu trên mặt cỏ, một người lính cắm lên
chỗ hành quyết một tấm mộc nhỏ ghi bản án,
rồi nắm chùm tóc của cái đầu đặt vào một cái
rọ. Cái đầu bị chém đặt trong rọ, theo lịnh,
sẽ được treo trên cây ở đầu làng bị cướp, để
làm gương... „
Sau đó, Jean Ajalbert, kể thêm về thực trạng
của ông vào năm 1903:
„.... Trước tiên, trong đám bồi pḥng
(boys), dấy lên mầm mống bóc lột người Âu
Châu. Thật là định mệnh. Chúng ta đến một
nước xa lạ, không hiểu một chữ. Đám bồi lợi
dụng thế yếu. Chúng ta thuê bất cứ một ai
làm bồi mà không có chỉ dẫn, bảo đảm. Làm
sao t́m bắt được những thằng vô tích sự này
sau khi nó đă ăn cắp ? Tại Pháp, chúng ta
không kêu gào „ăn cướp“ khi một người hầu
pḥng hút trộm một điếu thuốc lá của chúng
ta. Nhưng ở đây, chúng ta kêu to lên „ăn
cướp“ chỉ v́ một mẩu thuốc lá: đó là điều
cần thiết để pḥng ngừa ngày mai chúng nó sẽ
lấy luôn cả hộp...“
Dưới đề tựa „ Qualités et défauts des
Annamites“ trong cuốn sách Les Annamites,
(Challamel, 1906) tướng thực dân E.Diguet
viết những ḍng khinh khi miệt thị như sau:
„...Để có được một huân chương, một mảnh
bằng với con dấu đỏ, một chức quan tước
huênh hoang, một địa vị làm cho chúng trở
thành ngôi sao, chúng sẽ sẵn sàng phát huy
cống hiến tất cả mọi tiềm lực và sức kiên
tŕ dai dẳng trong nhiều tháng, nhiều năm.
Vậy th́ chúng ta có ǵ đâu phải than van ?
Cái khuyết điểm đó của bọn bị bảo hộ giao
trong tay chúng ta một công cụ đô hộ tuyệt
vời...“
Trong bài „ Chiến lược của quân cướp“ (La
tactique des pirates) với câu nhập đề „Mọi
người quân nhân đă từng chiến đấu ở Vietnam
đều công nhận các chiến lược đă được quân
cướp xử dụng từ năm...1891“ đăng trong tờ La
Revue des Deux Mondes ngày 15 tháng 11 năm
1891, một tác giả vô danh đă có những nhận
định để diễn tả các căn cứ kháng chiến thời
Đề Thám như sau:
„...Mỗi một băng cướp xây dựng căn cứ để
tàng trữ thuốc phiện, đạn dược, thực phẩm,
kho sản xuất đạn, sửa chữa súng ống, cho đàn
bà ẩn náu, nuôi gia cầm súc vật, tóm lại,
mọi phương tiện để sống và chiến đấu cần
thiết trong một phần đất hiểm trở, khó khăn
nhất, hầu như bất khả xâm phạm. Thí dụ như
những căn cứ ở Kẻ Thượng, phía bắc của Chợ
Mới, hay là ở Núi Bà Do*; căn cứ cũ của
Cai-Kin* trong núi Đồng Nai, hay căn cứ mới
của băng Yên Thế, về phía Bắc của Hu-Thué*,
vân vân.
Địa điểm chính xác của những căn cứ này th́
chỉ có bọn cướp mới biết. Muốn thâm nhập nơi
đây phải len lỏi đôi khi qua những khu rừng
rậm hoang dă bằng những vết ṃn nhỏ chỉ là
vết của thú rừng, chui vào những hành lang
chật hẹp tạo bằng hai vách đá gra nít, trèo
qua những đèo ải chỉ đủ cho một người lọt
qua, hay là đi hàng giờ trong rừng, dọc theo
một ḷng suối, để t́m ra một vết dấu kín
trong bụi rậm dẫn đến nơi ẩn náu ...
Lănh tụ những băng cướp không ngần ngại
thành lập, đôi khi, những tạm cứ thứ hai
trong các làng, ngay cả trong của vùng đồng
bằng, nơi mà dân chúng hoàn toàn ủng hộ
chúng: Cao-Thuong, Luoc Ha, Yên Thế, vùng
của đảo Hai Sông, vùng núi Ba V́, vân
vân...dùng để làm nơi cư trú và kho chứa...“
Mới đây, khi vào xem triển lăm trong Bảo
Tàng Quân Đội tại Paris, tôi dừng chân lại
trước một tủ kính trong một góc tường, ngắm
đi ngắm lại măi, không biết thật hay giả,
hai bộ quần áo đại triều của Nguyễn Tri
Phương, mà người Pháp c̣n đang trưng bầy là
chiến lợi phẩm cho du khách coi chơi.
Bao nhiêu là đồ cổ và những hiện vật lịch sử
của Việt Nam đă bị đem qua Pháp giữ làm của
riêng, thỉnh thoảng một số vật được đem bán
đấu giá (nếu có tiền tôi đă ráng mua lại một
món để dành cho con cháu!).
Đề Thám của Claude
Gendre
Cảm giác đầu tiên khi cầm cuốn sách là tôi
cám ơn tác giả trước hết v́ cái tựa đề. Cái
tựa đề của cuốn sách này đă trả lại danh dự
của một người Việt Nam và khẳng định chỗ
đứng lịch sử của một người anh hùng Việt Nam
trong văn chương Pháp. V́ Đề Thám không phải
là một thằng giặc theo nghĩa cướp của giết
người, hay cướp nước của ai khác, như nhiều
tác giả người Pháp đă viết nhan nhản, mà Đề
Thám là một người không chịu cúi đầu khuất
phục, chống lại sự đô hộ của chính quyền
thực dân Pháp trong thời gian ấy.
Cuốn sách của Claude Gendre có 12 chương,
dài tổng cộng khoảng 200 trang, được minh
họa bằng nhiều h́nh ảnh và bản đồ vẽ tay.
Một số những h́nh ảnh này đă được phổ biến
tự do trên mạng Internet hay in trong sách.
Claude Gendre là người thích chú ư đến nhiều
chi tiết và ông để ư t́m những h́nh ảnh lịch
sử thích hợp. Bố cục của sách được viết theo
thời gian của sự kiện và theo lư luận của
ḍng tư tưởng. Điểm mạnh của Claude Gendre
là đă t́m ra một số sử liệu nguồn gốc Pháp
mà người Việt Nam, và các nhà sử học chuyên
nghiệp Việt Nam, không để ư đến cũng như
không bỏ công sức t́m kiếm.
Bốn chương đầu của cuốn sách giúp cho độc
giả người Pháp có cái nh́n tổng quát, ngắn
gọn về chủ đề, mà trong đó Claude Gendre
lướt qua bối cảnh chính trị và quân sự của
thời đại Đề Thám khi ông sinh ra đời, địa
thế chiến lược của vùng Yên Thế, tông tích
thật sự của Đề Thám, và t́nh h́nh Việt Nam
sau khi vua Tự Đức qua đời ngày 17 tháng 7
năm 1883
Claude Gendre nhắc lại cô đọng các thời điểm
1624 khi Giáo Sĩ A-Lịch-Sơn-Đắc-Lộ (
Alexandre de Rhodes) sang truyền đạo tại
Việt Nam, giai đoạn Gia Long thâu phục giang
sơn với sự giúp đỡ của Giám Mục Bá Đa Lộc
(Pigneau de Béhaine), giai đoạn của tên buôn
bán vơ khí Jean Dupuis (Đồ-Phổ-Nghĩa), hống
hách ngang tàng, muốn dùng thuyền ngược sông
Hồng Hà để chở vơ khí bán cho Tàu và việc
hai sĩ quan Pháp, Francis Garnier và Henri
Rivière tử trận tại miền Bắc. Tuy ngắn,
nhưng Claude Gendre đă thể hiện ngay t́nh
cảm của ông qua cách nh́n, cách đưa ra vấn
đề và sự nhận xét đúng đắn về sự cấm truyền
đạo Thiên Chúa trong thời điểm ấy.
Trong chương hai gồm có bẩy trang Claude
Gendre đi t́m lại tông tích thật sự của Đề
Thám và ư nghĩa của tên gọi „Đề Thám“.
Claude Gendre tŕnh bầy năm dữ liệu khác
nhau.
Dữ liệu thứ nhất t́m được trong một bản báo
cáo vào tháng 9 năm 1908 của Lacombe, một
nhân viên quản lư, rằng cha của Đề Thám là
một quan Án ở Làng Trung, tỉnh Quảng Yên,
huyện Yên Thế, chết trong tù, bỏ lại một đứa
con trai tên là Giai Thiêm. Đó chính là Đề
Thám sau này, một người trăn châu ở làng
Ngọc Cúc, gần Làng Trung, có vợ và có một
con trai tên là Cá Trong*.
Dữ liệu thứ hai là dữ liệu cho chính Đề Thám
tự viết trong một lá thơ gởi cho Sở Quản Lư
Cư trú Cao cấp của Tonkin ngày 5 tháng 8 năm
1908.Trong lá thơ này, Đề Thám tŕnh bầy
rằng ông nội của ông xuất thân là người
Trung Quốc, chết khi người vợ có thai được
ba tháng. Bà lấy chồng thứ nh́, người quê ở
Yên Thế. Đứa trẻ đó, cha của Đề Thám, về
sinh sống tại làng Ngọc Cúc, là nơi mà Đề
Thám ra đời. Lá thơ này không có đề tên họ
cũng như ngày tháng.
Nhưng theo Alfred Bouchet, một người lính
đóng ở Nha Nam*, Bắc Giang trong suốt bốn
năm, có chụp ảnh chung với Đề Thám, và theo
lời kể của một người già tên Hoan, th́ Đề
Thám là con của một người tên Quát, gọi là
Phó Quát, làm lính cho Cai Ngui*, tên của Đề
Thám là Giai Thiêm, sinh vào cuối năm 1858.
Cũng theo Bouchet, Đề Thám không biết đọc
biết viết, chăn trâu và làm công cho trưởng
làng tên là Ba Phuc*, sức khỏe như sức của
bốn người, ba trâu, lấy vợ tên là Thi Tao*
và sinh một con trai tên là Cá Trong. Năm
Hàm Nghi thứ nhất (1884) Giai Thiêm được 25,
26 tuổi đă bắt đầu đánh phá quân Pháp, lấy
tên là Dê Dzuong*, trở thành „một kẻ thù
cứng cựa nhất kể từ khi chúng ta chiếm đóng“
(báo cáo ngày 27.04.1909 của tướng Geil lên
Bộ Chiến Tranh và Thuộc Địa). Khi về chiến
đấu dưới trướng của Cai Kinh* (Hoàng Đ́nh
Kinh), Giai Thiêm được phong làm Dôc Binh*
và được Cai Kinh* nhận làm con nuôi, đặt tên
là Hoàng Hoa Thám. Sau khi Cai Kinh qua đời
năm 1888, Ba Phuc* nhận Hoàng Hoa Thám làm
con nuôi và phong cho chức Dê Dôc*. Như thế,
cái tên le Dê Thám*, thâu ngắn của Dê Dôc*
Hoàng Hoa Thám ra đời. Cuốn sách của Alfred
Bouchet đă cung cấp cho Claude Gendre rất
nhiều trích dẫn cơ bản về số phận của Đề
Thám.
Sau đó Claude Gendre tả về địa thế chiến
lược của vùng Yên Thế, một nơi núi rừng hiểm
trở, với nhiều ngọn đồi cao khoảng 100 đến
150 mét, cây cối chằng chịt, trên mặt đất
nóng ẩm đầy rẫy những rắn, những con đỉa hút
máu, sâu bọ, kiến lửa, trăm chân và cào cào
châu chấu, rồi những con cọp, beo, sói rừng,
mèo rừng, ḅ rừng, nai...ŕnh rập, thuận lợi
cho việc xây dựng căn cứ ẩn náu và hậu cần,
v́ Yên Thế chỉ cách Hà Nội 60 cây số và gần
vựa thóc của thung lũng sông Hồng. Đề Thám
xử dụng cách đánh của những đảng cướp: dụ
quân địch vào một nơi đă giăng bẫy sẵn để
giết, nhưng nếu bị tấn công th́ đột nhiên
biến mất, không để lại dấu vết. Năm 1889 Ba
Phuc* xây dựng thành Cao Thuong*, Đề Thám
xây thành Huu Thuê* (hay Hu Thué*).
T́nh h́nh Việt Nam sau khi vua Tự Đức qua
đời ngày 17 tháng 7 năm 1883 được tác giả
tŕnh bày ngắn gọn với sự kiện vua Hàm Nghi
lên nối ngôi. Trong chương này, tôi t́m thấy
một sự hài ḷng v́ tác giả đă nh́n nhận
những đ̣n khiêu khích trịch thượng của tướng
Pháp de Coursy đối với triều Nguyễn, trong
mục đích muốn xâm nhập cấm thành để bắt cho
được Tôn Thất Thuyết. Hậu quả ra sao, chúng
ta đọc sử Việt Nam đă biết, Tôn Thất Thuyết
phát động phong trào Cần Vương, vua Hàm Nghi
bị bắt và bị đày đi Algerie.
Đọc xong bốn chương tôi tiếc rằng tác giả
không đưa ra nguyên nhân, dù chỉ một vài
hàng cảm tưởng, tại sao triều đ́nh Huế đă kư
hết hiệp ước này đến hiệp ước khác, mất dần
lănh thổ và quyền lợi cho Pháp, cũng như tại
sao chính quyền Pháp muốn chiếm Việt Nam làm
thuộc địa, để cho đến năm 1884, ngay chính
nhà sử học Trần Trọng Kim đă viết trong Việt
Nam Sử Lược:
„...Ngài (vua Tự Đức) mất ngày 16 tháng 6
năm Quư Mùi (1883), trị v́ được 36 năm, thọ
55 tuổi, miếu hiệu là Dực Tông Anh Hoàng Đế.
Bản triều nhà Nguyễn truyền ngôi đến hết đời
vua Dực Tông th́ mất quyền tự chủ. Nước Nam
từ đó thuộc về nước Pháp bảo hộ. Nghĩa là
ngôi nhà vua tuy vẫn c̣n, nhưng quyền chính
trị phải theo chính phủ Bảo Hộ xếp đặt.
...Ḥa ước kư năm Giáp Thân là năm 1884, là
ḥa ước của Triều đ́nh ở Huế kư với nước
Pháp công nhận cuộc bảo hộ của Pháp và chia
nước ra làm hai khu vực là Trung Kỳ và Bắc
Kỳ. Tuy hai kỳ cũng thuộc về quyền bảo hộ
của nước Pháp, nhưng mỗi kỳ có một cách cai
trị khác. Về sau dần dần ḥa ước năm 1884
cũng mất cả ư nghĩa, và thực quyền về chính
phủ bảo hộ hết cả. Triều đ́nh ở Huế chỉ giữ
cái hư vị mà thôi.“
Nam Kỳ Lục Tỉnh đă mất từ năm 1867, Phan
Thanh Giản uống thuốc độc tự tử v́ không giữ
nổi ba tỉnh phía Tây đất Nam Kỳ. Bắc Kỳ và
Trung Kỳ bị „bảo hộ“ năm 1884. Thế là chính
sách của Pháp chiếm đoạt toàn lănh thổ Việt
Nam làm thuộc địa đă hoàn tất: người ta chỉ
c̣n nói đến Tonkin, Annam, Cochinchine và
Indochine !
Bắt đầu từ chương năm Claude Gendre đi vào
những hoạt động quân sự và mục đích tranh
đấu của Đề Thám. Trong tám chương, phần cốt
của cuốn sách, tác giả cung cấp cho người
đọc những dữ liệu chưa được viết trong sử
sách tiếng Việt một cách chi tiết, vẽ lên
một cuộc đời đầy sôi động và cái chết bi
thảm của Đề Thám.
Kể từ Hịch Cần Vương ra đời, kể từ năm 1885
trở đi, có nhiều hoạt động chống Pháp lẻ tẻ
tại nhiều nơi. Lực lượng của Đề Thám vào
tháng chín 1889 gồm khoảng ngàn người trang
bị với khoảng 500 khẩu súng.
Doi Van*, một lănh tụ kháng chiến của vùng
đồng bằng ra đầu hàng quan Khâm lược Hoàng
Cao Khải vào tháng 3 năm 1890, sau đó lại
quay trở về Yên Thế tiếp tục tham dự phong
trào Cần Vương, nhưng đến tháng mười lại ra
đầu thú, nhưng bị Pháp chặt đầu tại quảng
trường Paul Bert tại Hà Nội, đầu phơi trên
cây c̣n xác th́ vất xuống sông Hồng.
Hai tướng Pháp, Godin và Godard, được lệnh
đi đánh dẹp Ba Phuc* và Đề Thám. Ngày 22
tháng 12 năm 1890 tướng Winckel-Mayer đem
600 quân và 4 đơn vị pháo binh tấn công
nhưng cũng không thắng hơn. Ngày 11 tháng 1
năm 1891 tướng Frey đem 1.300 quân tấn công,
quân Đề Thám biến mất trong rừng. Cho đến
năm 1894 các cuộc đánh nhau giữa Đề Thám và
quân Pháp tiếp diễn.
Chương sáu diễn tả sự „đầu hàng“ của Đề
Thám. Quân Pháp mỏi mệt v́ con hùm xám Yên
Thế luôn luôn thoát khỏi mọi sự tấn công của
quân Pháp. Tướng Galliéni bèn giao trách
nhiệm lại cho Tổng đốc Lé Hoan*, con nuôi
của quan Kinh lược Hoàng Cao Khải, kẻ thù
không đội trời chung của Đề Thám. Lần lượt,
một số các lănh tụ ra đầu hàng, trong đó có
Phu Dang Phu*, tức Ba Ky*, đồng đảng của
Lương Tam Kỳ.
Ba Phuc*, đă 67 tuổi, về đầu hàng ngày 15
tháng 2 năm 1894. Trong khi Ba Phuc* tưởng
rằng Đề Thám sẽ cùng về hàng với ḿnh, th́
trái lại, Đề Thám lại đứng trên quan điểm
rằng sự đầu hàng của Ba Phuc* giải thoát cho
Đề Thám mọi nghĩa vụ ràng buộc với ông ta.
Quân của Ba Ky* và Ba Phuc* đi theo Đề Thám,
người trở thành lănh tụ cầm đầu của phong
trào Cần Vương tại Yên Thế.
Trong một buổi gặp mặt tại Luoc Ha*, nơi ở
của Ba Phuc*, ông ta mời trà Đề Thám. Đề
Thám đưa tách trà cho người hầu của Ba Phuc*
uống, người này lăn ra chết sau khi uống
xong tách trà. Lần sau, Ba Phuc* đến nhà Đề
Thám. Hai người ngủ chung trong một căn, gần
sáng Ba Phuc đặt một hộp thuốc súng dưới gậm
giường của Đề Thám, châm ng̣i lửa, rồi trốn
ra. Đề Thám thoát chết, nhưng cho vợ con mặc
đại tang giả vờ đưa quan tài đi. Quân của
Muselier tưởng là đă thành công. Nhưng ngày
17 tháng 9 năm 1894 quân của Đề Thám bắt
được hai người Pháp tên là Logiou và
Chesnay. Qua trung gian của Giám Mục
Velasco, Đề Thám thương lượng với Toàn quyền
tạm thời Chavassieur các điều kiện „đầu
hàng“ và trả tự do cho Logiou và Chesnay. Đề
Thám, gia đ́nh và đoàn quân của ông định cư
tại Phon Xuong*.
Ông không được yên lâu, v́ cuối năm 1895
tướng Galliéni gởi tối hậu thư đ̣i Đề Thám
ra đầu hàng vô điều kiện, rồi đem quân tấn
công Phon Xuong*, một lần nữa, Đề Thám biến
mất trong núi rừng Yên Thế.
Sau khi Phan Đ́nh Phùng tử trận ngày 28
tháng 12 năm 1895 th́ Đề Thám coi như trở
thành thủ lănh kháng chiến duy nhất của
phong trào Cần Vương.
Toàn quyền Armand Rousseau qua đời v́ bệnh
tật ngày 11 tháng 12 năm 1896, Paul Doumer
đến thay thế.
Trong chương bẩy Claude Gendre diễn tả ngắn
sự gặp gỡ của Kỳ Đồng và Đề Thám, và sau đó,
một giai đoạn chủ ḥa của Đề Thám khi Paul
Doumer làm Toàn Quyền ở Hà Nội. Nếu đă xác
định rằng Đề Thám không biết đọc biết viết,
th́ lá thư ngày 13 tháng 11 năm 1897 của Đề
Thám gởi cho Doumer để xin giảng ḥa, phải
do một người khác viết. V́ thế, tôi thấy
những câu lịch sự sáo ngữ trong lá thư này
không có ǵ là quan trọng. Nhưng các điều
kiện chủ ḥa do Đề Thám đưa ra thật là thú
vị và chứng tỏ rằng Đề Thám là một người
biết giá trị và sức lực của ḿnh. Cũng v́
thế mà tôi không tin rằng Đề Thám và 25 thủ
hạ đă quỳ gối lạy Lé Hoan* ba lần. Đề Thám,
năm đó 39 tuổi, cao 1,65 m, con mắt đen có
cái nh́n sắc bén. Đề Thám đóng đô ở Phon
Xuong* và có năm vợ, nhưng chỉ có bà vợ thứ
ba tên là Thi Nho* là ông quư nhất. Bà Thi
Nho* hạ sinh một gái tên là Thi Thé* (1900)
và một trai (1908).
Cá Trong*, 22 tuổi, con của bà vợ cả tên là
Thi Tao*, cùng với hai người con nuôi của Đề
Thám tên là Cá Rinh*, Ca Huynh*, cùng với 50
người đàn ông khác và gia đ́nh cùng sinh
sống với Đề Thám trong nông trại chiến lũy ở
Am Dong*.
Cơ sở sinh sống của Đề Thám dần dần phát
triển, yên ổn.
Nhưng năm 1902, một bác sĩ tên là Gillard,
v́ lợi ích cá nhân, đă huy động báo chí lên
án Đề Thám và vu khống nhiều chuyện để gây
khích động trong dư luận và guồng máy cai
trị của Pháp. Nhiều vụ cướp bóc đă xẩy ra và
quy tội cho Đề Thám.
Trong chương tám Claude Gendre viết ngắn về
phong trào Đông Du, ảnh hưởng của Phan Bội
Châu, Phan Châu Trinh, việc Cường Để sang
Nhật cầu viện, và chỗ đứng của Đề Thám trong
các mối quan hệ này.
Nhưng các chương chín, mười và mười một là
những chương then chốt của cuốn sách, cung
cấp nhiều chi tiết từ các hồ sơ lưu trữ và
sách vở của Pháp.
Tác giả đă bỏ công viết tỉ mỉ về giai đoạn
khó khăn nhất của Đề Thám, khi chính quyền
thuộc địa, với sự trợ giúp và thừa hành đắc
lực của các quan đại thần triều Nguyễn, như
Hoàng Cao Khải, Lê Hoan, bắt đầu từ năm
1908, dốc sức cương quyết tiêu diệt Đề Thám
và toàn bộ nghĩa quân Yên Thế, v́ Đề Thám,
không những chỉ là một tay súng nông
dân-kháng chiến bám trụ kiên tŕ, ẩn hiện
như ma giơi, mà trong nhiều năm tranh đấu
với Pháp, Đề Thám đă đạt được một tầm mức
chính trị quan trọng và có sức quy tụ người
cùng chí hướng.
Vụ Hà Thành đầu độc, dù thất bại và Đề Thám
bị thiệt hại nhân sự nặng nề, 13 người bị
chặt đầu, 4 người đi đày khổ sai chung thân,
26 người đi đày từ 5 đến 20 năm, 10 người vô
tù, nhưng đă gây được xôn xao trong dư luận.
Quân Pháp treo giải thưởng cho cái đầu của
Đề Thám và bắt đầu một chiến dịch tảo thanh
Đề Thám với nhiều mũi nhọn tấn công liên
tiếp từ đầu năm 1909. Chính trong chiến dịch
này, lần tấn công Don Dang* vào ngày 12
tháng 2 năm 1909, Jean Gendre, ông nội của
Claude, bị thương cùng với 15 quân lính
khác, sáu lính tử trận.
Trong ṿng năm năm, từ 1908 đến 1913, vợ,
con, thân quyến, nghĩa quân của Đề Thám lần
lượt bị giết, bắt sống, đi đày, chặt đầu
treo rọ trên cây. Một số thủ lănh mệt mỏi ra
đầu hàng quân địch. Mất người vợ ba, cũng là
một người bạn chiến đấu (Bà Đặng thị Nhu,
theo sử liệu Việt Nam), Đề Thám cô đơn, len
lỏi trong rừng Yên Thế, với vài cận vệ thân
tín. Alfred Bouchet theo đuổi Đề Thám bén
gót.
Trong chương mười hai, t́nh huống sự thảm
sát Đề Thám đă được Claude Gendre diễn tả
chi tiết. Đó là giai đoạn mà Toàn quyền
Albert Sarraut bắt đầu nắm quyền chính vào
ngày 15 tháng 11 năm 1911 tại Việt Nam.
Đến cuối năm 1912 quân đội thực dân biết
rằng núi rừng Yên Thế che chở cho con hùm
xám Yên Thế, nên không thể dùng chiến lược
đem lực lượng quân sự tảo thanh và đánh
thẳng được mà phải dùng cách đánh lén đánh
ngầm bằng lực lượng cảnh sát cơ sở.
Jules Bosc, Giám Đốc về Quan Hệ Chính Trị
của Phủ Toàn Quyền, t́m sự góp sức của chủ
đảng cướp Trung Hoa cũ – Lương Tam Kỳ -
nhưng hắn ta đă già, cho nên giao cho con
trai là Lương Văn Phúc lănh nhiệm vụ, đang
làm tri huyện trong vùng kiểm soát của cha.
Ba thằng giặc cướp người Tàu gốc Guang Xi*
(Tsan Tac Ky*, 51 tuổi, Ly Seng Wa* 37 tuổi
và Tsan Fong Tsan*, 28 tuổi) nhận lệnh bắt
sống Đề Thám để giải về đồn gần nhất, đồn
Kep* hoặc đồn Nha Nam*.
Một tên lính cũ của Đề Thám đă về đầu hàng
quân Pháp tên là Ly Bac*(c̣n có tên là
Chánh Tây) chơi nước đôi, phản bội Đề Thám,
đưa bọn Tàu về chỗ Đề Thám. Chúng t́m cách
đến gần Đề Thám, giả đ̣ sẽ đem lại trang bị
vũ khí và thề thốt trung thành với Đề Thám,
trong khi quân Pháp cũng giả vờ bỏ ư định
săn đuổi Đề Thám. Ông mắc mưu, cho ba tên
phản bội người Tàu ở gần. Trong mọi t́nh
huống chiến tranh, kẻ thù trước mặt không
nguy hiểm bằng kẻ phản bội kề cận bên ḿnh !
V́ một sự sơ hở của Bouchet mà Ly Bac* biết
được ư định của ba tên phản bội, bèn báo
động Đề Thám. Đề Thám nói với thủ hạ: „phải
hạ ba cây cản trở chúng ta, trước hết là cây
lớn nhất“, ngầm ư sẽ tiêu trừ ba tên Tàu,
nhưng Tsan Fong Tsan hiểu tiếng Việt, chúng
bèn quyết định ra tay trước.
Khoảng năm giờ sáng ngày 10 tháng 2 năm 1913
chúng xông vào chỗ ngủ của Đề Thám, Đề Thám
đang ngủ bị tấn công bất ngờ, thức dậy,
nhưng không kịp trở tay bị chém chết bằng
những nhát cuốc bổ vào đầu. Hai người cận vệ
thức giậy chạy vào, cũng bị bọn Tàu bắn
chết.
Sau đó chúng chặt đầu Đề Thám, xẻo tai hai
người cận vệ, đem theo ba khẩu súng về Chợ
Gỗ nộp cho Bouchet. Bouchet đi với cận vệ
đến tận nơi thảm sát để xác định sự việc.
Thi thể cụt đầu của Đề Thám bị hành nhục
nặng nề, gan, mật bị moi. Tên Ly Bac* moi
mật Đề Thám, phơi khô, lận trong giây nịt
quần để ngâm trà uống. Bouchet ra lệnh chặt
đầu hai người thủ hạ thân tín của Đề Thám,
để mang cả ba đầu về phơi ở chợ Nhă Nam, c̣n
thân thể cả ba người bị đốt cháy, để tránh
thờ phượng anh hùng. Lương Văn Phúc được
thưởng 20.000 đồng, Lương Tam Kỳ được thăng
Đề Đốc. Ly Bac* được thưởng một mảnh ruộng.
Ba thằng Tàu giết người được thưởng tiền rồi
đi về Thái Nguyên.
Đề Thám, 55 tuổi đời, người đă làm cho quân
Pháp điêu đứng mấy chục năm trời, không chết
v́ thua trận, mà chết v́ bị phản bội.
"Ở đây là đất ông Đề,
Tây vô th́ có, Tây về th́ không."
Trong những ḍng sách sử, người đọc không
chỉ t́m thấy những dữ liệu, ngày tháng năm
hay địa danh, hoàn toàn khách quan, mà nhận
thấy ngay con người viết sử, lấp lánh qua
nhiều nét nhân cách đặc biệt tiềm ẩn trong
văn. Qua Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim tỏ
ra ḿnh là người buông xuôi theo thời thế,
chấp nhận mọi hoàn cảnh v́ tự lượng không có
sức để thay đổi. Qua Đại Việt Sử Kư Toàn Thư
các tác giả chép sử „chép“ đúng theo quân
quyền, lạnh lùng, theo lệnh của người cai
trị nước. Qua Hoàng Lê nhất thống chí, được
ghi nhận là một cuốn lịch sử tiểu thuyết,
Ngô Thời Chí bộc lộ nhiều t́nh cảm, không
chỉ viết một chiều, trung thực, giúp người
đời sau h́nh dung được hoàn cảnh lịch sử của
những thế kỷ xa xưa. Qua „le Dê Tham“,
Claude Gendre cũng đă chọn một chỗ đứng cho
ḿnh: ông là người bênh vực, khâm phục và
thương cảm Đề Thám. Dù cuốn sách của ông,
trực tiếp, không phải là một „bản án chế độ
thực dân Pháp“, nhưng người đọc nhận thấy
những bất công của thời kỳ thuộc địa qua
ng̣i bút của Claude Gendre. Tuy có thiếu
sót, theo thiển ư của tôi, nhưng cuốn sách „
Le Dê Thám“ là một cuốn sách quư, giúp cho
người Việt Nam có thêm một nguồn tham khảo
đáng tin cậy.
© Tuyết Trần, France 2007
Phụ chú:
1) Rất nhiều tên địa danh và tên người trong
sách được viết không có bỏ dấu, hoặc thay
đổi dấu, thí dụ như Cá Rinh hay Ca Rinh, cho
nên tôi phải ghi chú bằng dấu *, và giữ
nguyên cách viết của tác giả, v́ không thể
đoán ṃ, hay tự sửa lại được, thí dụ như tác
giả viết là Cá Trong, th́ tôi phải để nguyên
như thế, tuy rằng tôi thầm nghĩ rằng: Cá
Trong hay là Cả Trọng ?!
2) YÊN THẾ là một huyện ở phía bắc tỉnh Bắc
Giang, có sông Sói, sông Thương chảy qua,
diện tích gồm 301 km2, trong đó có 14 ngh́n
ha đất rừng, có 3 thị trấn: Bố Hạ, Nông
trường Yên Thế, Cầu Gỗ, và 18 xă: Phồn
Xương, Xuân Lương, Canh Nậu, Đồng Vương,
Đồng Tiến, Tam Tiến, Tam Hiệp, Tiến Thắng,
Tân Hiệp, Đồng Kỳ, Hồng Kỳ, Đồng Hưu, An
Thượng, Đồng Lạc, Hương Vĩ, Đông Sơn, Tân
Sỏi, Bố Hạ. Dân số năm 2003 có 91.700. Vùng
Yên Thế trồng lúa, đậu tương, chè, cây ăn
quả: vải, na, trám, cam (Bố Hạ), khai thác
than (Bố Hạ), sản xuất vật liệu xây dựng,
chế biến nông sản. Các trục giao thông
chính là quốc lộ 37, tỉnh lộ 244, 287, đường
sắt Trại Cau – Kép.
Mỗi năm có Hội Yên Thế vào ngày 26-4, tức
ngày 10 tháng 3 âm lịch, tại xă Phồn Xương,
huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang, để tưởng nhớ
đến Hoàng Hoa Thám - người chỉ huy cuộc khởi
nghĩa Yên Thế nổi tiếng. Địa điểm tổ chức
hội là xă Phồn Xương, nơi trước kia là đại
bản doanh của nghĩa quân Yên Thế. Hội được
tổ chức với rất nhiều tṛ vui như kéo co,
đấu vật, đánh cờ người, thi vơ...Di tích về
Đề Thám c̣n lại là đồn Phồn Xương, Hố Chuối.
Nhà văn Nguyên Hồng có viết cuốn tiểu thuyết
lịch sử “Núi rừng Yên Thế” 3 tập, tập I in
năm 1981, về cuộc khởi nghĩa của Đề Thám.
Tài liệu tham khảo:
Le Dê Thám (1858-1913) – Un résistant
vietnamien à la colonisation francaise,
Claude Gendre, Edition L‘Harmattan, Paris
2007
Histoire de l‘Indochine 1885 – 1954,
Philippe Héduy, Edition SPL – Henri Veyrier,
1983
Archives de L‘Indochine, Jacques Borgé et
Nicolas Viasnoff, Editions Michèle
Trinckvel, 1995
Les grands Dossiers de l‘Illustration –
L‘Indochine. Histoire d‘un siècle 1843-1944.
Editions Séfag et L‘Illustration, 1987
Việt Nam Sử Lược – Trần Trọng Kim
Việt Nam tranh đấu sử - Phạm văn Sơn.
Institut de l‘Asie du Sud-Est, Paris 1987
Triều đại nhà Nguyễn – Tôn Thất B́nh. Nhà
xuất bản Đà Nẵng, 2000
Các trang trên mạng Internet