|
|
Ngày xuân nói chuyện
CÂY ĐÀO VÀ ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI
Vơ Văn Chi
Đào (*), âm Bắc Kinh táo,
do chữ (*) mộc chỉ nghĩa
và (*) triệu,
âm Bắc Kinh zhào,
chỉ âm đọc, nghĩa gốc là quả đào, là một loại cây thuộc chi
Prunus L.(từ tên Latin của một số loài, dẫn xuất từ chữ Hy Lạp
proune hay hay prounos), họ Hoa hồng - Rosaceae.
Năm
1753, Carl Linnaeus đặt tên là
Amygdalus persica L. dựa trên mẫu vật thu thập ở Iran (Perse
trước đây); đến năm 1801 Batsch xếp vào chi Prunus với
tên là Prunus persica (L.) Batsch.
Đào
được trồng hơn 3000 năm trước đây ở Trung Quốc; sách Trung Quốc
Cao đẳng thực vật đồ giám ghi là có ở Hà Bắc, Thiểm Tây, Cam Túc,
Giang Tây, Giang Tô, Triết Giang, An Huy, Vân Nam, Tứ Xuyên và
Quư Châu. Từ Trung Quốc, đào được trồng lan sang các nước có
điều kiện, tới Iran, Italia, Pháp về phía tây, đến Nhật, Hoa Kỳ,
Achentina, về phía nam tới Bắc Việt Nam và Bắc Lào.
1.
Đào là cây ăn quả :
Đào
cùng với táo tây, lê, cam, quít, chuối, dứa là những loại quả
quan trọng nhất thế giới, sản lượng hàng năm đạt tới 7-8 triệu
tấn.
Ở
Việt Nam chúng ta, đào được trồng ở Lai Châu, Lào Cai, Cao Bằng,
Lạng Sơn, Bắc Giang, Phú Thọ, Hà Nội, Ninh B́nh vào Thanh Hóa và
các vùng núi tỉnh Nghệ Tĩnh. Đến đây có thể xem là miền cực Nam
của sự phân bố của đào. Bởi lẽ ở các vĩ tuyến thấp, đào chỉ là
cây cảnh trồng để chơi hoa hơn là ăn quả v́ cây đào gần như
thoái hóa so với các miền ôn đới, nụ lá nhiều hơn nụ hoa, quả
nhỏ, chua và ít nước. Chỉ ở độ cao trên 300-400m ở các vùng núi
th́ mới có những cây đào thực sự có hoa nhiều, quả to. Ngay
những giống đào ngon nhất của ta như đào Vân Nam trồng ở SaPa (Lào
Cai) và đào Mẫu Sơn (Lạng Sơn) cũng c̣n thua nhiều so với các
giống đào ngon của các vùng ôn đới nóng.
Quả
đào thuộc loại quả có màu sắc, h́nh dáng và hương vị vào bậc
nhất. Đào của nước ta trồng ở vùng cao tuy ra hoa kết quả b́nh
thường, quả cũng to và cũng đẹp nhưng v́ chưa chọn giống nên
hương vị c̣n kém. Mặt khác cây đào lại có nhiều sâu bệnh nếu khí
hậu ẩm, cần phải chăm sóc nhiều, vùng khí hậu thích hợp cũng có
phần hẹp hơn so với mơ mận. Ta có thể trồng để tự túc là chính,
triển vọng xuất khẩu không nhiều.
Ở
Trung Quốc, quả đào vừa có màu sắc, h́nh dáng và hương vị thơm,
nên được gọi là “tiên quả”.
Đào
ở nơi tiên cảnh, mà theo truyền thuyết Trung Quốc, đến ba ngàn
năm mới có quả, lại càng rất quư, ăn vào sẽ trường sinh bất tử.
Tây Vương Mẫu bày yến đào tiên ở Dao Tŕ để cùng các vị tiên
thưởng lăm. Theo “Hán Vũ Cố
sự” th́ Đông Phương Sóc đă ba lần ăn cắp đào tiên của Tây Vương
Mẫu đem về cho Hán Vũ Đế. V́ lẽ đó, đào tiên có thể hiểu như cụ
Đào Duy Anh, là quả đào của người tiên, chỉ vật rất quư, tục xưa
cho rằng ăn được quả đào ấy th́ sống măi không chết, khi cụ giải
thích hai câu thơ của Nguyễn Du trong Truyện Kiều :
Đào tiên đă lấm tay phàm,
Th́ vin cành quít cho cam sự đời.
Đào
tiên cũng đi vào thơ văn gần đây. Nguyễn Phi Nguyện trong tập
thơ ”Tiếng hát ḍng sông” có bài
Quả
đào tiên
Dang tay bắt quả đào tiên,
Đào rơi xuống thế, tiên lên vườn trời,
Thẫn thờ nhặt quả đào rơi,
Ăn vào nhớ nước bên trời Tương Giang.
Đào
ăn quả trồng ở các vùng thấp ở Nghệ Tĩnh, trung du và đồng bằng
thường là những giống thoái hóa, có thể ăn quả nhưng quả nhỏ,
cứng, có nhiều lông, hương vị kém. Những giống vùng cao như đào
Mẫu Sơn, đào Bắc Hà, đào Sapa … tốt hơn, ra hoa vào tháng 2-3
hoa nhiều nở rộ, quả cũng to, có chất lượng hơn nhưng không đều.
Lại
có đào dẹt, h́nh thù xấu xí, giống cái bánh chay, cuống quả và
múi quả đều ở hai chỗ lơm xuống, loại quả này ngọt hơn, nhưng
nhỏ, được nhập từ Trung Quốc vào đầu những năm 1970.
Đào
của nước ta quả khó bóc, thịt quả ít chắc thường dính với hạch
nên không thích hợp cho công nghiệp đồ hộp.
Đào
quả thường có lông mịn ở mặt ngoài. Muốn ăn, người ta phải dùng
khăn hay vải bao lấy quả, ṿ cho rụng hết lông mới thái lát hoặc
cắn ăn. Người sang trọng thường dùng quả lăn trên những đĩa xôi
cho lông dính hết vào xôi mới dùng ăn.
Đào
chín có nhiều nước, độ chua trung b́nh, rất dễ tiêu; cũng là
loại quả rất được ưa chuộng.
2.
Đào là cây cảnh chơi hoa :
Ở
nước ta, mục đích trồng đào để chơi hoa cũng quan trọng không
kém để ăn quả. Tại Hà Nội và các vùng lân cận, nhân dân ta đă
phát triển một nghề trồng đào chơi hoa thật sự. Đào cũng được
trồng ở các công viên, vườn hoa làm cây cảnh. Tác giả quá cố Vũ
Công Hậu đă viết trong cuốn “Trồng cây ăn quả ở Việt Nam” : Phải
lên các miền núi Mẫu Sơn, Trà Linh, Đồng Văn, Bắc Hà, SaPa v.v…
trong nước hoặc tốt hơn nữa là ra nước ngoài vào mùa xuân xem
đào nở hoa th́ mới xác nhận đào là một trong những cây cảnh đẹp
nhất và sau mùa rét nở hoa tập trung, số lượng rất nhiều, không
nở lẻ tẻ, xen giữa lá xanh như ở vùng thiếu lạnh. Ở đây cây đào
cũng không cần những điều kiện đặc biệt; mọc chon von đầu núi, ở
cả chỗ đất cằn, không làm cỏ, không bón phân,
thậm chí lại bị chặt bẻ cành lớn
nhưng cây vẫn đẹp, vẫn đỏ rực những hoa màu đào.
Đào
được nhân giống bằng hạt. Đời sống cây đào lại ngắn, công tác
chọn giống đ̣i hỏi ít thời gian hơn các cây dài ngày khác. Do
trồng trọt mà người ta đă tạo được nhiều thứ đào khác nhau. Ta
thường phân biệt :
-
Đào bích, có hoa đỏ thắm, nhiều cánh xếp
sít nhau; lá có màu lục đậm, nhiều cành, nhiều hoa.
-
Đào phai, có hoa màu hồng, lá có màu xanh nhạt hơn so với
đào bích, cây có nhiều hoa.
-
Đào bạch, có hoa màu trắng, ít hoa.
Nhà
thơ Nguyễn Duy đă mô tả hoa đào :
Đào đỏ, đào phai, đào trắng nữa,
Mùa xuân chấm phá ở trong ḷng.
Hoa đào cũng đẹp như đời vậy,
Nhờ dáng cành cây vấp vểnh cong.
Lại
có loại đào ăn quả có hoa màu hồng nhạt, một lớp cánh mà ta gọi
là đào đơn, cây to lớn hơn so với các thứ đào khác.
Người ta thường trồng nhiều đào bích, đào phai để lấy hoa, và
đào ăn quả để lấy quả. Đào bạch tuy đẹp nhưng khó trồng hơn.
Người ta thường ghép những mầm đào bích vào gốc đào phai để có
hoa to, màu thắm hơn.
Ở
ngoại thành Hà Nội có vùng đào Nhật Tân nổi tiếng. Hoa màu hồng
thắm, búp hoa mũm mĩm, cánh to. Một cành đào chuẩn thường đậu từ
300 đến 600 hoa đẹp. Cũng giống đào này nhưng trồng ở nơi khác
th́ sắc đào không c̣n vẻ thắm. Người sành chơi đào ở Hà Nội có
thể nh́n sắc hoa đào bán ở chợ để biết hoa từ vùng nào đến.
Theo
nhà nghiên cứu Toan Ánh, hoa đào cắm trong pḥng đă đẹp nhưng
nguyên ở trên cây lại càng đẹp hơn. Ông kể lại theo sách xưa;
Đời nhà Đường bên Trung Quốc, Thôi Hộ, trong tiết thanh minh đi
dạo chơi đến một cánh vườn có hoa đào mọc chung quanh. Thấy hoa
đẹp Thôi đứng ngắm cảnh. Rồi khát nước. Thôi gơ cửa nhà đó vào
xin nước uống. Cửa mở ra, một mỹ nhân đă đón tiếp Thôi một cách
ân cần. Đôi bên tuy e lệ nhưng bắt đầu có ḷng mến nhau. Rồi
Thôi ra về không quên mỹ nhân và mỹ nhân cũng hằng nhớ tới Thôi.
Năm sau, tiết Thanh minh tới, nhớ cảnh, nhớ người. Thôi lại t́m
đến chỗ cũ ! Ôi ! Sao mà vắng vẻ, cửa đóng then cài ! Không được
gặp người năm trước. Thôi liền đề một bài thơ trên cánh cửa.
Đề
đỗ thành nam trung
Tích niên kim nhật thử môn trung
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng
Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiếu đông phong.
Được
dịch như sau :
Đề ở
trại phía nam đô thành
Cửa đây năm ngoái, cũng ngày này
Má phấn, hoa đào ửng đỏ hây.
Má phấn giờ đây đâu vắng tá ?
Hoa đào c̣n rỡn gió đông đây.
(Tương Như)
Lại
có bản dịch khác cũng hay :
Ngày này năm trước nơi đây
Hoa đào người đẹp hây hây ánh hồng.
Giờ đây người đẹp c̣n không ?
Hoa đào năm ngoái gió đông cợt cười.
Đề
xong thơ, họ Thôi bỏ đi. Cách một thời gian, chàng lại t́m đến
chốn này th́ nghe trong nhà có tiếng khóc lóc thảm thiết. Có một
ông già ra hỏi Thôi :
-
Ông có phải là Thôi Hộ không ? Con gái tôi thấy thơ ông
để nơi cửa, sinh ốm bỏ ăn mà chết.
Nghe
nói, Thôi cảm động lắm, vào trong nhà ôm lấy áo quan khóc lớn;
Thôi Hộ đă đến đây. Người con gái, với tiếng khóc của Thôi, đă
sống lại.
Từ
sự tích trên, những khái niệm đào hoa, đông phong
đă đi vào vần thơ. Nhiều bậc tiền bối của ta đă ca tụng hoa đào.
Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đă 15 lần nói đến cây đào, quả đào,
ví dụ :
Trước sau nào thấy bóng người,
Hoa đào năm ngoái c̣n cười gió đông.
Như
vậy, Nguyễn Du nhắc lại cho ta biết hoa đào hớn hở cười với gió
đông lúc xuân sang. Và khi hoa đào đă tàn màu thắm tức là hết
mùa xuân, và đúng vào lúc cây sen vừa nẩy lá xanh là sang mùa hè
:
Mảng vui rượu sớm cờ trưa,
Đào đă phai thắm, sen vừa nảy xanh.
Hàn
Mặc Tử, trong bài “Với bàn tay ấy”, nói chuyện về t́nh yêu, cũng
liên hệ gió đào với hoa xuân :
Những lời huyền bí tỏa lên trăng
Những ư bao la gội xuống trần
Những tiếng ân t́nh hoa bảo gió
Gió đào thỏ thẻ bao hoa xuân.
Thế
Lữ, trong bài “Mua hoa” đă gợi ta đến cảnh xuân :
Trông khóm đào, mai bán khắp đường
Ta cười tưởng nhớ cảnh quê hương
Bồng lai muôn thuở vườn xuân thắm
Sán lạn, u huyền, trong khói hương.
3.
Cây đào nở hoa tượng trưng cho ngày Tết cổ truyền :
Chơi
hoa đào trong dịp Tết Nguyên đán đă trở thành tập quán đối với
nhân dân ta, cũng có thể nói hoa đào tượng trưng cho ngày Tết ở
miền Bắc, bởi vậy khi xuân tới, mỗi nhà thường cố cho có một
cành đào để trưng bày ở pḥng khách hoặc để cắm ở bàn thờ tổ
tiên. Mùa hoa đào báo hiệu mùa xuân. Việc thưởng ngoạn hoa đào
không riêng ở nước ta, mà ở Trung Quốc, cũng có mao đào, bạch
đào.
Người ta thường cắt cây đào gần sát gốc vào khoảng 25-28 tháng
chạp để đem trưng bày vào dịp Tết. Chơi hoa đào, ngoài ư nghĩa
chơi hoa trong ngày xuân, người ta c̣n bảo tồn cổ tục dùng cành
đào để trừ ma quỷ, nghĩa là người ta c̣n nhằm vào ư nghĩa thiêng
liêng. Về ư nghĩa thiêng liêng này, theo tác giả Toan Ánh, đă có
một sự tích như sau : Xưa ở núi Sóc có một cây đào lớn. Dưới gốc
cây đào này có hai vị thần trú ngụ là Thần Trà và Uất Lũy. Hai
vị thần này cai quản một bầy quỷ. Mỗi khi có quỷ nào đi quấy
nhiễu dân gian, dân gian kêu tới hai vị thần này, quỷ đó lập tức
bị trừng phạt ngay. Để cho quỷ khỏi tới lộng hành, tranh cướp đồ
cúng của Tổ tiên trong ngày Tết, người ta cắm trên bàn thờ một
cành đào, lũ quỷ trông thấy cành đào không dám bén mảng tới. Tục
cắm cành đào trên bàn thờ bắt đầu có và dần dần từ sự thờ cành
đào người ta chuyển sang sự chơi hoa đào.
Khi
chặt cành đào ở vườn về, muốn giữ cho hoa được bền và làm cho
tất cả nụ hoa đều nở, trước khi cắm vào b́nh có đựng nước, cần
phải đốt qua cuống cành, ở nơi đă chặt, như vậy nhựa luyện trong
cành hoa không chảy xuống nước mất đi, trái lại cành hoa lại hút
được nhiều nước để nuôi các cành nhỏ và hoa lá. Thường cành đào
lúc mới chặt chưa có hoa, chỉ nhu nhú nụ, sau khi được đốt, cắm
vào b́nh một đôi ngày, hoa mới bắt đầu nở dần, và cả lá cũng đâm
ra. Cành đào có thể giữ chơi được lâu hơn.
Các
cụ của chúng ta thích loại đào thất thốn,
nghĩa là thứ loại đào cao không quá bảy tấc, hoa đỏ đậm hơn hoa
đào có quả, và cũng có nhiều hoa hơn. Những cành đào thất thốn
dùng cắm trong ngày Tết chi chít những hoa đỏ thắm, không có lá
trông thật đẹp. Muốn có đào thất thốn
được lớn khỏe, cao hơn chính giống, người ta thường dùng cành
loại đào này ghép vào thân cây đào thường, loại đào lông có quả
rất dễ trồng ở xứ lạnh.
Muốn
có đào nở đúng dịp Tết, người ta phải bỏ cành, tuốt lá, ủ gốc,
đó là những thủ pháp mà người lao động hàng hoa Nhật Tân đă kế
thừa được của ông cha để cốt sao đào phải nở đúng Tết. Thường cứ
khoảng ngày 15 tháng 11 âm lịch, người ta tuốt hết
lá là hoa sẽ nở đúng dịp.
Người ta say mê vun bón ngày đêm suốt tháng chạp để đạt được
ngày giờ đă định cho đào nở hoa. Nếu cao
tay hơn, người trồng hoa có thể thúc cho cành đào đâm những quả
đào sớm nhỏ li ti như nụ hoa lá sau Tết chừng mười hôm. Đó là
“lộc” mà những người lao động ở tất cả các nghề các ngành đều
ước mơ có sự may mắn và có lộc trong năm mới. Người mua hoa cũng
ao ước mua được cành hoa Nhật Tân chuẩn như vậy.
Ngày
nay, đào bích không chỉ trồng ở miền Bắc mà cũng đă được trồng
thành công ở Đà Lạt. Ngày Tết, các cành đào Đà Lạt cũng góp phần
trang điểm cho pḥng khách và bàn thờ của các gia đ́nh ở thành
phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận, thay thế cho cành hay chậu
mai vàng.
4.
Đào đi vào t́nh cảm, vào cuộc sống của nhân dân ta :
Màu
đỏ tươi của hoa đào rất hợp với cảnh xuân lạnh miền Bắc Việt Nam
. Cành đào làm cho căn pḥng thêm huy hoàng, tươi sáng. Đào
không có hương thơm, nhưng sắc của hoa đào hợp với khung cảnh
Tết, làm tăng hương sắc của các hoa khác trong dịp xuân, tăng
thêm ư vị của ngày Tết dân tộc, đem đến niềm vui và hạnh phúc
cho mỗi gia đ́nh.
Đào
đă thật sự đi vào văn hóa Việt Nam . Đào cũng đă đi vào tâm hồn
người Việt. Dân làng Nhật Tân c̣n truyền tụng câu chuyện là :
Khi Nguyễn Huệ đại thắng quân Thanh và tiến về Thăng Long, dân
làng Nhật Tân đem đến tặng vua và đoàn quân chiến thắng nhiều
cánh đào thắm của làng hoa Hà Nội. Và sau chiến thắng, vua Quang
Trung cũng cho người tốc hành mang cành đào vào báo tin cho Ngọc
Hân công chúa và làm quà tặng ngày xuân.
Đào
đă đi vào thơ văn. Trong Cung oán ngâm khúc, có những câu thơ
liên quan đến hoa đào :
Ánh đào kiếm đâm bông năo chúng
Khóe thu ba gợn sóng kinh thành
Đào
kiếm là má đào; má người con gái đẹp đỏ hồng như hoa quả đào
chín.
Sân đào lư mây lồng man mác
Nền đỉnh chung nguyệt gác mơ màng
Đào
lư là cây đào, cây mận (thường trồng ở sân nhà quyền quư) chỉ
người quyền quư.
Trong truyện Kiều, Nguyễn Du viết về người con gái đẹp
Xót thay đào lư một cành
Một phen mưa gió tan tành một phen.
Trong Bích câu kỳ ngộ có câu :
Mày liễu mặt hoa, đào nguyên một lối đâu mà tới đây.
Đào
nguyên là nguồn suối nơi
trồng nhiều cây đào có hoa rơi đầy mặt suối, chỉ nơi tiên ở, có
cảnh đẹp.
Ta
cũng hay nói số đào hoa; chỉ người con trai được nhiều
phụ nữ yêu mến hoặc dùng Liễu yếu đào tơ để chỉ người con
gái trẻ mảnh mai, yếu ớt.
Người ta c̣n đặt nhiều tên cây có liên quan đến đào : Ké hoa đào, Muồng
hoa đào, Đào lộn hột, Phi đào thảo
v.v…
5.
Đào là cây thuốc quư :
Nhiều bộ phận của cây được sử dụng làm thuốc trị bệnh từ lâu đời
trong nhân dân ta :
(H́nh cây đào làm thuốc)
1.
Quả
đào
: (Đào tử) quả đào không chỉ là loại quả dùng ăn ngon mà c̣n là
vị thuốc.
Trong Nam dược thần hiệu,
Tuệ Tĩnh viết : Đào tử : Quả đào, vị cay chua, ngọt, tính
nhiệt và độc, ăn ít th́ bổ khí đẹp da, ăn nhiều th́ phát nhiệt,
đổ mồ hôi.
Trong Lĩnh Nam bản thảo, quyển thượng, Hải Thượng Lăn Ông ghi :
Đào tử ấy tên gọi quả đào
Cay, chua, ngọt, nóng, độc xen vào
Ăn vừa thêm khá, tươi nhan sắc
Ăn lắm th́ sinh phát sốt cao
Ngày
nay người ta đă biết thịt quả chứa chất màu (carotenoid, lycopen,
cryptoxanthin, zeaxanthin), 15% đường, acid hữu cơ (acid citric,
tartric), vitamin C, acid chlorogenic, tinh dầu v.v…
Quả
đào có vị ngọt chua, tính
ấm có tác dụng sinh tân,
nhuận tràng, hoạt huyết, tiêu tích.
2.
Hạt
đào
: (Đào nhân) Quả đào có ba lớp vỏ, lớp vỏ ngoài có màu sắc và có
lông, vỏ quả giữa nạc dùng ăn và vỏ quả trong hóa gỗ mà ta gọi
là hạch đào. Phải đập vỡ
hạch mới có nhân bên trong, tức là hạt đào thực sự.
Hạt
đào là vị thuốc chủ yếu của cây đào được sử dụng ở nước ta, ở
Trung Quốc và nhiều nơi khác.
Tuệ
Tĩnh đă viết trong Nam dược thần hiệu : Đào nhân : Óc
hạt đào vị ngọt hơi đắng, tính b́nh không độc, công dụng hạ khí
nhuận tràng, thông huyết ứ thành ḥn, điều kinh, chữa các chứng
tê thấp, lan nóng âm ỉ trong xương.
Hải
Thượng Lăn Ông đă viết trong Lĩnh Nam bản thảo, quyển thượng :
Đào nhân tục gọi nhân hạt đào
Lành, ngọt, b́nh, hơi đắng, có dầu
Hạ khí, nhuận tràng, thông máu cục
Điều kinh, trừ tỳ (tà) nóng
xương lao.
Và
trong quyển hạ :
Đào nhân tính nó vốn cam hàn,
Thông kinh nhuận hoạt, đại tràng an,
Ứ
huyết, thổ đờm, đều chữa được,
Đào nhân làm chủ giải thiên nan,
Cách dùng bỏ vỏ sao cho kỹ
Huyết hà huyết khối thảy tiêu tan.
Ngày
nay, chúng ta biết là hạt đào chứa 50% dầu béo, 3,5% amygdalin,
0.40-0,70% tinh dầu, men emusin, acid prusic, cholin,
acatylcholin, các acid béo gồm acid palmitic, arachidic,
palmitoleic, oleic, linoleic, gadoleic, licosatrenoic. Các
sterol gồm cholesterol, (Alpha 5)
campesterol, (Beta-) sitosterol,
(Alpha5) avenasterol,
(Alpha7) stigmasterol.
Đào
nhân có vị đắng ngọt, tính b́nh, có tác dụng phá huyết thông
kinh, thông tiện, giáng áp chỉ
khái. Được dùng trị mụn nhọt, kinh bế, phụ nữ sinh đẻ xong đau
bụng, viêm ruột thừa, bí đại tiện, chó dại cắn. Liều dùng 4,5-9g
sắc nước uống.
Đào
nhân để nguyên vỏ lụa và đầu nhọn, giă giập dùng sống có tác
dụng phá huyết; nếu ngâm nước nóng cho tróc vỏ lụa, cắt bỏ đầu
nhọn, sao vàng th́ có tác dụng hoạt huyết.
-
Chữa kinh nguyệt không đều, đau bụng máu : Đào nhân, Hồng
hoa, Ngưu tất, Tô mộc, Mần tưới,
Nghệ vàng, mỗi vị 8-15g sắc uống.
-
Chữa bí đại tiện : Đào nhân 40g luộc ăn vào lúc đói.
-
Chữa bại liệt nửa người : Lấy 2000 nhân hạt đào đă bóc vỏ
cho vào 1,5 lít rượu đế ngâm 21 ngày, sau đó vớt nhân đào đem
phơi khô sấy gịn, tán nhỏ
mịn, trộn với nước cháo cho vừa dẻo làm viên to bằng hạt đậu đen,
mỗi ngày uống 30 viên với một th́a rượu ngâm nước của nó.
-
Chữa đau vùng tim đột ngột : Lấy 30g nhân hạt đào bóc vỏ
giă nhừ, cho vào một chén nước đun kỹ để uống 3 lần.
3.
Hoa
đào
: (Đào hoa) có vị đắng tính b́nh, không độc, có tác dụng lợi
thủy, hoạt huyết, thông tiện, được dùng trị thủy thũng, cước
khí, tiêu đàm, tích trệ, đại và tiểu tiện bất lợi, kinh bế. Liều
dùng uống trong 4-8g, dạng thuốc sắc, dùng ngoài giă hoặc tán
bột bôi, rắc.
Tuệ
Tĩnh đă sử dụng hoa đào để trị bệnh sản hậu, đại tiện không
thông : Hoa đào phối hợp với hạt Vông
vang, hoạt thạch, hạt cau già với liều lượng bằng nhau, phơi
khô, tán mịn lấy bột; mỗi lần uống 8g với nước trắng vào lúc
đói.
Để
làm sắc mặt tươi đẹp, da dẻ mịn màng : Dùng hoa đào tán nhỏ,
trộn với máu mào gà, bôi lên mặt, khoảng 2-3 ngày sau, thuốc
tróc đi, da sẽ mịn màng.
Để
chữa chàm mặt, dùng hoa đào phơi hay sấy khô, tán mịn, uống mỗi
lần nửa th́a cà phê với nước ấm.
Để
chữa phù, đại tiện táo bón, dùng hoa đào 3-5g, sắc uống.
4.
Cành
đào
(Đào chi)
Hải
Thượng Lăn Ông ghi trong Lĩnh Nam bản thảo, quyển hạ :
Đào
mộc
Bắc quốc đào viên kết bạn hiền
Hồng hoa lá biếc, thực đào tiên,
Lá kia sắc uống máu thăng thượng
Cành nó đem ăn đau nhức yên.
Cành
đào có vị đắng, tính b́nh, dùng trị trẻ em ra mồ hôi trộm, lao
phổi ho ra máu, đau vùng tim bụng, các vết mẩn sưng do côn trùng
đốt. Liều dùng uống trong 40-80g dạng thuốc sắc; dùng ngoài nấu
nước rửa.
5.
Vỏ
thân, vỏ trắng của đào
(Đào thụ b́) :
Vỏ
thân đào có vị đắng, t́nh b́nh, không độc; dùng trị thủy thũng,
sán khí phúc thống, phế nhiệt suyễn muộn, tràng nhạc, mụn nhọt
sưng lở, bỏng, cháy. Uống trong, dùng 12-20g, dạng thuốc sắc;
dùng ngoài giă nát đắp hoặc nấu nước rửa, nước súc miệng.
Ø
Chữa
phù thũng : Vỏ đào ngâm rượu uống.
6.
Lá
đào
(Đào diệp) :
Lá
đào có vị đắng, tính b́nh, có tác dụng khử phong thấp, thanh
nhiệt, sát trùng. Được dùng trị cảm mạo phát sốt, đau đầu, phong
tê, sốt rét, đại tiện không thông, loét dạ dày, mẩn ngứa, lở
chân. Dùng trong, sắc nước uống; dùng ngoài nấu nước rửa hoặc
giă đắp.
Người ta đă biết trong lá đào có amygdalin, tanin, courmarin,
chất vô cơ; c̣n có 3 loại men pectin esteraze; cũng cần lưu ư là
trong lá đào có acid cyanhydric có thể gây ngộ độc.
Lá
đào là vị thuốc thường dùng trong dân gian; dùng vỏ tươi xát tắm
trị ghẻ lở, mẩn ngứa, chốc đầu, dùng ngâm chữa viêm kẽ chân.
Cũng dùng phối hợp với lá dâu tằm giă đắp tại chỗ chữa vết
thương, vết đứt.
-
Chữa đại tiện không thông; dùng lá đào một nắm to, giă
vắt lấy nước cốt uống.
-
Chữa sốt rét : Lá đào tươi 70g, nấu nước uống ngày 1 lần,
uống liên tiếp trong 5 ngày.
-
Chữa mày đay : Lá đào 500g, thái nhỏ, ngâm vào 500ml cồn
hay rượu ngon trong ṿng 2 ngày, lọc bỏ bă, lấy nước bôi, ngày
2-3 lần.
-
Chữa chốc lỡ, rôm sẩy, sưng âm hộ : Giă lá đào tươi xoa,
xát.
7.
Rễ
đào
(Đào căn)
Rễ
đào có vị đắng, tính b́nh, không độc. Dùng trị hoàng dàn, thổ huyết, nục huyết,
kinh bế, ung thũng và trĩ.
Uống
trong, dùng 80-120g, sắc nước; dùng ngoài nấu nước rửa.
-
Chữa phụ nữ nhiều năm kinh không thông, da vàng, môi
trắng, bụng có khối u : Rễ đào 600g, rễ Ngưu bàng 600g, rễ Cỏ
roi ngựa 600g, Ngưu tất 1200g. Các vị chặt nhỏ, cho vào 60 lít
nước, đun sôi cô đặc c̣n 20 lít, lọc bỏ bă. Uống trước bữa ăn
với rượu nóng, ngày 2 lần, mỗi lần độ 15-20g.
8.
Nhựa
đào
(Đào giao) :
Tuệ
Tĩnh đă ghi trong Nam dược thần hiệu : Đào giao : Nhựa
cây đào, vị đắng, tính b́nh và rất mạnh, công dụng hành huyết
trừ tà, làm cho đậu hăm có thể mọc lại, thông đái gắt, giải
nhiệt khát, trị hư lao.
Hăi
Thượng Lăn Ông ghi trong Lĩnh Nam bản thảo :
Đào giao tục gọi nhựa cây đào
Vị đắng, tính b́nh, tính mạnh sao
Thông huyết, trừ tà, giương đậu hăm
Chữa lâm, giải khát, nóng
hư lao
Ngày
nay, chúng ta biết trong nhựa đào có l-
arabisone, d- xylose, l-
rhammose và acid d-glucuronic.
Đào
giao có vị ngọt đắng, tính b́nh, không độc, có tác dụng thanh
nhiệt giải độc, chỉ lỵ, dùng trị
đái ra sỏi sạn, đái ra máu, đái ra dưỡng trấp, đái đường, lỵ.
Uống
trong, dùng 20-40g, sắc nước hoặc làm hoàn, tán.
-
Chữa đái ra dưỡng trấp : Nhựa cây đào 12-20g tán nhỏ, uống với
nước sắc. Dây tơ hồng (30g) làm thang.
-
Chữa đái đường : Dùng nhựa đào 20g tán bột uống với nước
sắc Địa cốt b́ (vỏ rễ Câu kỷ)
và râu ngô, mỗi vị 30g làm thang.
9.
Tầm
gửi cây đào
(Đào kư sinh)
Tuệ
Tĩnh ghi trong Nam dược thần hiệu : Đào kư sinh : Tầm gửi
cây đào, vị đắng cay, tính không độc, trị lao trẻ con, đái vàng
xương giơ, mặt xanh bủng, trị trúng thuốc độc, đau tim.
Hải
Thượng Lăn Ông ghi trong Lĩnh Nam bản thảo :
Đào kư sinh tầm gửi cây đào,
Đắng cay, lành, chữa trẻ em lao
Đái vàng, xương lộ, mặt xanh thủng
Bệnh cổ, tim đau, chữa khỏi mau.
10.
Quả
đào héo
(Đào nô)
Tuệ
Tĩnh ghi trong Nam dược thần hiệu : Đào nô : Quả đào héo trên
cành, vị đắng, tính hơi ấm và hơi độc, công dụng trừ các khí độc,
phá ḥn cục, trừ trúng ác, có thai bị thương ra huyết, trừ nọc
sốt rét. Lấy quả đào c̣n non, xanh mà tự khô héo c̣n dính trên
cành là đúng.
Hải
Thượng Lăn Ông ghi trong Lĩnh Nam bản thảo.
Đào nô là quả héo trên cành
Vị đắng, hơi ôn, tính cũng lành
Phả kết, trừ tà và trúng
ác
Thai tổn thương, sốt rét cũng lành.
Ở
Trung Quốc, người ta dùng quả non c̣n xanh bị rụng được phơi hay
sấy khô (bích đào can). Nó có vị chua, đắng, tính b́nh, có tác
dụng chí huyết, liễm
hăn, dùng chữa ra mồ hôi trộm, di tinh, thổ huyết,
ra máu trong thời kỳ mang thai.
Có
thể nói, ít có loại cây nào có nhiều ư nghĩa đối với con người
về mọi mặt như cây đào
|