|
|
ĐI T̀M DẤU VẾT BÁ ĐA
LỘC
(MGR. PIGNEAU
DE BÉHAINE)
Tuyết Trần
Version mới (đă được
bổ sung ngày 5 tháng 4 năm 2007)
Quê hương
sản sinh con người
Giám mục Bá Đa Lộc
Ngược ḍng lịch
sử để t́m hiểu về quan hệ Việt-Pháp trong quá khứ, khoảng thời
gian trước khi cái mốc Điện Biên Phủ, chiến thắng quân sự vào
ngày 07 tháng 5 năm 1954, một trong những yếu tố quan trọng đưa
đến sự kết thúc vĩnh viễn sự cai trị và bảo hộ của nước Pháp tại
Việt Nam, thật là một công việc vào rừng hốt lá, càng đọc càng
thấy thiếu hiểu biết.
V́ một bài hát của Georges Villard viết lời - La petite
tonkinoise - và Vincent Scotto soạn nhạc vào năm 1906 do Esther
Lekain tŕnh diễn, rồi Joséphine Baker hát lại năm 1930 làm cho
bản nhạc trở thành nổi tiếng rộng răi, với những câu ơng ẹo vô
duyên như "...c‘est moi qui suis sa petite, son Anana, son
Anana, son Annammite... Il m‘appelle sa p‘tite bourgeoise sa
Tonkiki, sa Tonkiki, sa Tonkinoise..." nghe chói lỗ tai tức cả
ḿnh mà tôi bực bội phải t́m kiếm cho ra, tại sao thực dân pháp
gọi miền Bắc là Tonkin, miền Trung là Annam, và miền Nam là
Cochinchine.
Từ thế kỷ thứ mười ba, Marco Polo đă ghi chép chuyến đi đến nước
:Giao chỉ" năm 1292 theo phiên âm là "Caugigu", người Mă Lai đọc
trại là "Kutchi", người Nhật đọc trại là "Kôtchi", người Bồ Đào
Nha lại đọc trại là "Cauchi-China", để rồi trở thành
"Chochichine", cuối cùng thành "Cochinchine".
C̣n cách gọi "Tonkin" là do phiên âm chữ "Đông Kinh" mà ra, v́
người Trung Hoa phát âm chữ "Đ" thành chữ "T", để phân biệt với
Bắc Kinh và Tây Kinh. Người Pháp viết theo phiên âm La tinh, bỏ
chữ "h" v́ trong mẫu tự Pháp, chữ h là chữ câm không được phát
âm, cho nên miền Bắc bị gọi là Tonkin.
An Nam là danh xưng của Trung Quốc đặt cho lănh thổ và dân tộc
Việt Nam suốt thời kỳ Việt Nam bị Trung Quốc đô hộ. Nhà Đường ở
Trung Quốc đă đặt tên cho khu vực lănh thổ tương ứng với khu vực
miền Bắc Việt Nam ngày nay là An Nam đô hộ phủ (673-757 và
768-866).
Sau khi giành được độc lập, các triều vua Việt Nam thường phải
nhận thụ phong của Trung Quốc, nhận lănh danh hiệu An Nam Quốc
Vương. Từ đó người Trung Quốc thường gọi nước Việt Nam là An
Nam, bất kể quốc hiệu là ǵ. Cách gọi này đă ảnh hưởng đến cách
gọi của người châu Âu trước năm 1945.
Tuy thế, thực dân Pháp vẫn dùng danh xưng "Annam" để chỉ nước
Việt và gọi người Việt là dân "Annammite" dù là ở miền nào đi
nữa. Người Việt lại c̣n dặm thêm chữ tiếng lóng "dân Mít" để tự
nói về ḿnh !
Hiện tại, thật là một điều tốt, khi không có một vùng địa lư nào
ở Việt Nam giữ những cái tên này.
Cái tên Indochine là một sản phẩm do các nhà địa lư người Pháp
đặt ra để chỉ chung ba nước Việt-Miên-Lào thành một khối thuộc
địa, là phần đất địa lư nằm giữa Ấn Độ (Indo) và Trung Hoa
(Chine) cho dân Pháp dễ hiểu-dù dân tộc Việt không có khi nào là
dân "Indochinois" cả, bỏ qua sự thật cơ bản rằng Việt-Miên-Lào
là ba nước khác nhau và ba dân tộc tự trị tự chủ khác nhau.
Bây giờ, hễ ai nói đến "Indochine" và "Indochinois" là tôi bực
cả ḿnh !
Tôi lần ṃ đi ngược lịch sử từ thời Bảo Đại lên đến thời Gia
Long, chưa đủ, phải học thêm đến thời nhà Lê, không quên bỏ qua
thời Tây Sơn, để t́m câu trả lời cho câu hỏi "Người Pháp can
thiệp vào Việt Nam từ bao giờ ? và tại sao ?".
Ngày xưa, lúc c̣n mài đũng quần trên ghế nhà trường, những bài
học về sử địa đều là những bài học nằm ḷng, ê a như con vẹt,
trả bài véo von như con két, mà không hiểu tại sao ḿnh phải học
và cùng không hiểu các bối cảnh lịch sử chủ yếu và liên quan.
Cũng như đi học trường mẫu giáo hát nghêu ngao "Frère
Jacques..." một cách rất hồn nhiên ngây thơ. Giờ đây, tôi có cái
thích thú ngồi học lại các bài học lịch sử, đi t́m lại những dấu
vết về lịch sử Việt Nam trên đất Pháp.
Cũng v́ thế mà một ngày mùa đông, sáng sớm và ban đêm đều có
sương mù ảm đạm, mưa nhè nhẹ dai dẳng suốt ngày, cái lạnh ẩm làm
cho người ta mau mau đi t́m chỗ ấm áp khô ráo cho khỏe, tôi lên
đường đi t́m dấu vết của Giáo sĩ Bá Đa Lộc-tức là Giám mục
Monseigneur Pigneau de Béhaine-người đă giúp Nguyễn Phúc Ánh lập
nên cơ nghiệp nhà Nguyễn. Kể từ năm 1801 khi Nguyễn Phúc Ánh lên
ngôi Hoàng Đế lấy hiệu là Gia Long – cho đến năm 1955 khi người
Mỹ giúp Ngô Đ́nh Diệm mở một cuộc trưng cầu dân ư để lật đổ vua
Bảo Đại, tên tục là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy – mười ba vua Nguyễn
đă trị v́ được 154 năm.
Đường đi không xa lắm, nhưng lái xe chạy quanh co các đường quốc
lộ và đường liên địa phương măi cũng ê ẩm cả lưng. Tôi đến một
vùng thôn dă, rải rác đó đây một vài cơ sở công nghiệp, thí dụ
như một nhà máy làm đường nổi tiếng, một nhà máy làm xi măng, và
một nhà máy chế biến thực phẩm. Các mảnh ruộng nho nhỏ không bị
cải cách lại thành những cánh đồng mênh mông như ở các vùng
khác, c̣n nguyên những bờ giậu xưa cũ, thường được dân chúng xử
dụng làm đồng cỏ chăn nuôi ḅ, ươn ướt sương mù và mưa bụi,
những con đường đất ṃn nho nhỏ len lỏi dưới những hàng cây trơ
cành trụi lá.
Trên ruộng không
một bóng người. Hoang vắng. Trên vỉa hè, cũng không một ai,
không một con chó chạy rông, một con mèo hoang đi ăn vụng. Chỉ
có xe cộ chạy qua lại hấp tấp, vội vă.
Thành phố nhỏ
lưa thưa vài cửa hàng đèn điện sáng hiu hắt, vắng khách. Làng
mạc mấy chục nóc nhà giàu nghèo to nhỏ lẫn lộn ẩn ḿnh trong màn
sương mưa xám đục. Dân ở vùng này chuyên nghề chăn nuôi ḅ, lấy
sữa, làm phô ma, trồng trọt, đốn gỗ rừng để bán. Họ không hiếu
khách lắm, có vẻ lạnh nhạt, nghi ngờ. Vùng này không phải là một
vùng du khách tới lui nhiều dù là cũng có nhà cho du khách thuê.
Có sách viết
Origny-Ste-Benoite, gần thành phố Saint Quentin, là nơi sinh
trưởng của Giáo sĩ Bá Đa Lộc, nhưng đúng ra là
Origny-en-Thiérache trong vùng Picardie, gần thành phố Hirson.
Cũng may là hai địa điểm này chỉ cách nhau mấy chục cây số đường
làng hẻo lánh.
Dù đă quen mắt
với các cảnh làng mạc nước Pháp, nhưng nh́n khung cảnh nơi đây,
trong thời đại này, đường làng cũng đă được tráng nhựa, đèn
đường sáng vàng vọt mọi nẻo, nhà bê tông xám hay gạch nung đỏ
mọc lên thay cho nhà tường bằng trụ gỗ trám đất sét và rơm rạ
khi xưa, các bảng quảng cáo của nhà hàng, quán nhậu, tạp hóa,
nhà thuốc tây sáng nhấp nhánh xanh xanh đỏ đỏ, tôi không khỏi
tưởng tượng khung cảnh làng quê này mấy trăm năm trước, thời đại
của đường đất, xe ngựa, và thầm nghĩ: Ít c̣n ai nhắc đến nhân
vật lịch sử này.
Người bạn Pháp đi cùng với tôi lắc đầu, khi tôi hỏi anh ta có
biết đến tên Pigneau de Béhaine không. Anh ta cười bảo rằng: tôi
không phải là người không thích học giờ Lịch sử, nhưng tôi chưa
bao giờ nghe nói đến tên này, và cô là người đầu tiên nhắc đến.
Ấy, tóc anh ta đă bạc trắng, và anh cũng là người cùng quê hương
với Giám mục Bá Đa Lộc
Giáo sĩ Bá Đa Lộc là ai ? Động lực nào đă đem con người này,
xuất thân từ nơi làng quê hoang dă này, đến bỏ xác ở Việt Nam
208 năm trước đây ? Hoàn cảnh nào đă đưa đẩy Nguyễn Phúc Ánh gặp
Bá Đa Lộc và cầu viện nước Pháp ?
Rẽ vào làng
Origny-en-Thiérache, trong thung lũng La vallée du Thon, tôi hơi
thất vọng v́ thấy nhiều nhà mới xây bằng bê tông, không cổ kính
như trung tâm của thành phố Senlis.
Làng Origny rộng khoảng 17 cây số vuông, có chừng 1.500 dân, mật
độ dân số khoảng 94 dân trên một cây số vuông.
Tự động, tôi
chạy vào trung tâm làng, ngang qua Ṭa Thị sảnh, qua chiếc cầu
bắc ngang con sông nhỏ. Lúc tôi vào tiệm thuốc tây nằm trên con
đường chính trong làng hỏi t́m căn nhà của Bá Đa Lộc th́ cô bán
thuốc há họng, lắc đầu không biết. May có bà chủ đứng sau lưng,
nghe câu hỏi, bèn mỉm cười chế riễu cô gái trẻ: "Tôi biết ngay
là cô không trả lời được" và nh́n tôi bà bảo "cứ đi đến nhà thờ
là bà t́m ra !".
T́m nhà thờ th́ dễ quá, cứ nhắm nóc chuông mà đi tới. Mỗi làng,
dù chỉ có một hai chục nóc nhà, cũng có một nhà thờ to tướng.
Nhưng vùng dân chúng sùng đạo nhất bên Pháp là các vùng Vendée,
Alsace-Lorraine.
Nhà thờ làng Origny mang tên Saint-Cyr-Sainte-Julitte xây theo
kiến trúc thành cổ kiên cố, một tầng của tháp chuông duy nhất
được xây theo kiểu tháp chuông của nhà thờ Đức Bà.
Đến nhà thờ, tôi xuống xe, đi bộ vào con đường nhỏ bên tay phải,
chừng một trăm thước, th́ thấy hiện ra trong một góc bên tay
trái một nóc nhà cổ kính, có ngọn thánh giá trên nóc, tôi biết
ngay đây là ngôi nhà sinh trưởng của Giám mục Bá Đa Lộc.
Nhà thờ làng
Origny-en-Thiérache, với tháp chuông
giống tháp chuông nhà thờ Đức Bà,
tp.Hồ Chí Minh
Ngôi nhà lớn,
xây từ thế kỷ 16 bằng gạch đỏ và đá trắng, nằm sát cạnh nhà thờ
trên một mỏm đất cao, cửa sổ lớn bằng kính trắng, vừa có vẻ nửa
cổ nửa tân. Trên mặt tiền nhà có khắc biểu hiệu của Bá Đa Lộc.
Tôi đi lên đi xuống cầu thang gần bên cạnh nhà, nh́n loanh quanh
khung cảnh nhà quê im ắng. Cũng như mọi nơi, ngoài đường không
một bóng người, chỉ có một con chó nhỏ, thấy người lạ, chồm lên
khung cửa sắt đóng kín, sủa gâu gâu inh ỏi. Một người lạ vào
làng là cả làng đều biết !
Ngôi nhà sinh trưởng của Giám mục Bá Đa Lộc, phía bên nội, được
ghi nhận từ năm 1628 qua một văn tự bán nhà. Kiến trúc hiện tại
đă được sửa sang thêm vào thế kỷ 18. Qua đến năm 1823 ngôi nhà
được bán lại một lần nữa, một bản vẽ hiện trạng ngôi nhà được
thiết lập và ngôi nhà trở thành trụ sở linh mục của nhà thờ ngay
bên cạnh.
Mấy chục năm sau, năm 1862, ngôi nhà lại trở thành hoang phế,
không thể sử dụng làm nhà ở được, linh mục Jules Jardinier bèn
mua lại và sửa chữa, trong mục đích biến ngôi nhà thành một địa
điểm hành hương cho tín đồ.
Theo sổ sách ghi chép th́ linh mục Jules Jardinier mua ngày 12
tháng 3 năm 1865 với giá là 3.525 quan Pháp(1). Ông cho tu sửa
nhiều chỗ, mái nhà lợp bằng ngói bản thạch (ardoise), và thiết
kế lại mặt phía đông bằng gạch nung đỏ và đá vôi trắng, thiết kế
huy hiệu của Giám mục d' Adran c̣n tồn tại tới ngày nay. Linh
mục Jules Jardinier đă phải chịu trả một phí tổn khoảng 20.000
quan pháp thời ấy cho các công việc sửa chữa và thiết kế. Người
thiết kế là một nhà điêu khắc đá tên là André Lecompte.
Nghĩa địa chung quanh ngôi nhà và nhà thờ cũng được dời đi chỗ
khác, nhưng tấm bia mộ của cha mẹ Giáo sĩ Bá Đa Lộc c̣n được giữ
lại làm hiện vật triển lăm hiện nay, dù đă bể và hư hỏng nhiều.
Năm 1875 ngôi nhà được thừa kế lại bởi Hội đồng quản lư xây dựng
nhà thờ, và được cho thuê để lấy tiền trợ giúp các bà nữ tu dạy
học. Ba mươi năm sau, 1905, ngôi nhà lại bị bỏ hoang một lần nữa
và bị dự tính phá hủy hoàn toàn vào năm 1910. Nhưng nhờ sự can
thiệp kịp thời của André Salles, một người đă làm việc tại thuộc
địa, ngôi nhà được Hiệp hội Địa lư Paris (Société de Géographie
de Paris) mua lại năm 1911 và sau đó được bảo tŕ bởi chính
quyền thuộc địa Đông Dương và trợ giúp tư nhân.
Nhưng v́ nhiều trở ngại hành chánh, ngôi nhà không được xếp loại
là di tích lịch sử, cho nên không một cơ quan nào chịu bỏ tiền
ra bảo quản ngôi nhà. Kiến trúc sư Bertoue ra công sửa chữa lại.
Ngày 01 tháng 6 năm 1914, một viện bảo tàng tại ngôi nhà được
khai mạc với sự trưng bày các hiện vật sưu tầm được của Hiệp hội
Địa lư Paris.
Năm 1953 ngôi nhà Bá Đa Lộc được Hiệp hội Địa lư trao tặng lại
cho chính quyền địa phương làng Origny-en-Thiérache.
Có lẽ, nhân vật lịch sử Giám mục Bá Đa Lộc đă ch́m sâu vào quên
lăng của nước Pháp, ít người biết Bá Đa Lộc là ai, cho nên ngôi
nhà này không phải là một địa điểm thu hút du khách để đem lại
nhiều nguồn lợi kinh tế cho làng, v́ thế chính quyền địa phương
không tha thiết lắm khi lai rai chỉ có một vài khách muốn đến
thăm.
Gọi là viện bảo tàng chứ muốn vào thăm không phải dễ, v́ ngôi
nhà này cửa đóng then gài im ỉm và người được cử làm quản gia
ngôi nhà Bá Đa Lộc, một phụ tá của ông Trưởng làng, vừa là người
bán bảo hiểm, không thích tiếp khách, lấy cớ là "vợ tôi không
đồng ư mở cửa v́ không có th́ giờ", chỉ muốn mở cửa mỗi năm một
lần, nhân ngày Bảo tàng toàn quốc. Tôi buồn cười nhớ đến chính
sách bế quan tỏa cảng thời Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức khi xưa.
Trong nhà có vài đồ đạc thế kỷ 16, hai bản sao bằng sơn dầu của
hai bức tranh nguyên thủy do họa sĩ Mauperin vẽ Bá Đa Lộc và
Hoàng tử Cảnh năm 1787, một bản sao bằng thạch cao bức tượng
Giám mục Bá Đa Lộc, một tay nắm Hoàng tử Cảnh, một tay giơ bản
hiệp ước Versailles 1787, bảo đảm viện trợ của nước Pháp cho vua
Gia Long, do nhà điêu khắc Edouard Lormier (1847-1919) tạc năm
1901 và tặng cho viện bảo tàng làng Origny - tượng chính bằng
đồng đặt trước nhà thờ Đức Bà năm 1902 không c̣n nữa, một bản
sao tấm phướng phúng điếu của vua Gia Long tặng cho Bá Đa Lộc
sau khi Bá Đa Lộc qua đời, vài hiện vật tượng trưng cho công
nghệ làm rổ rá, công nghệ sản xuất chính của làng
Origny-en-Thiérache thời ấy, và các hiện vật khác.
Các nguồn sử
sách chép rằng, Bá Đa Lộc - tên phiên âm Việt Nam của Giáo sĩ
Pierre-Joseph-Georges PIGNEAU DE BÉHAINE (trong các sử liệu Công
giáo ông c̣n được gọi là "Đức Thầy Vêrô"), sinh ngày 2 tháng 9
năm 1741 tại làng Origny-en-Thiérache, thuộc địa phận Aisne vùng
Picardie phía bắc nước Pháp.
Chính ra, ông kư tên là Pigneaux, nhưng sách vở chỉ viết là
Pigneau, không có chữ x. Người ta kèm thêm vào họ của ông cái
tên địa danh Béhaine, nơi gia đ́nh ông có một sở hữu nho nhỏ, để
xác định cho rơ xuất xứ địa phương.
V́ thế tên ông trở thành PIGNEAU DE BÉHAINE.
Giám mục Bá Đa Lộc là con của ông Georges Pigneau và bà
Marie-Louise Nicaut, con trưởng của một gia đ́nh có 19 người
con.
Theo cách đặt tên của người Pháp, khi đặt tên đứa con mới sinh,
cha mẹ thường đặt theo truyền thống, ít nhất là ba tên, theo tên
của những người trong gia đ́nh thuộc thế hệ đi trước: con trai
th́ đặt theo tên cha, ông ngoại, ông nội, ông cố nội, ông cố
ngoại, hay chú ruột, con gái th́ cũng đặt tên theo tổ tiên người
nữ, theo tên mẹ, bà ngoại, bà nội, d́, cô, theo thứ tự yêu
thích (2).
Trong ba tên của Giám mục Bá Đa Lộc th́ tên của cha ông
"Georges" đứng vào hàng thứ ba, như thế tên gọi của ông phải là
"Pierre": Pierre Pigneau.
Ông nội của Giám mục Bá Đa Lộc là Charles Pigneau (1659-1732),
sinh thời là một thương gia, cố vấn của vua và quản lư vựa muối,
tức là một nhân vật có địa vị khá cao trong xă hội. Vào thế kỷ
thứ 17 th́ muối c̣n là một thứ "quốc cấm", việc tích trữ muối
thành vựa, mỗi thành phố lớn có một vựa muối, chuyên chở muối,
phân phối bán muối và thâu thuế muối là độc quyền của các lănh
chúa và vua chúa.
Qua hai tấm tranh vẽ ông nội Charles Pigneau và bà nội, người vợ
thứ hai của Charles Pigneau, tên là Marie-Louise Montpellier
(1665-1754), của Giám mục Bá Đa Lộc, người ta nhận thấy rằng,
người đàn ông trong tranh đang tuổi trung niên, mặc bộ quần áo
thương nhân, đầu đội tóc giả theo kiểu quư phái, ánh mắt nh́n
năng nổ, soi mói, c̣n người đàn bà trung niên, bà nội, cũng c̣n
đẹp, mặc quần áo sang trọng thuộc loại tầng lớp trưởng giả theo
kiểu cuối đời vua Louis XIV.
Các tấm tranh này, có thể đă được vẽ vào năm 1732 khi Charles
Pigneau qua đời, cùng với hai tấm tranh vẽ Giám mục Bá Đa Lộc và
Hoàng tử Cảnh đă được triển lăm trong Hội chợ Thuộc địa tại
Vincennes năm 1931.
Hai tấm tranh trưng bày tại làng Origny vẽ Giám mục Bá Đa Lộc và
Hoàng tử Cảnh là do bà góa phụ Lesur, vợ của Charles-Louis
Lesur, một người cháu của Giám mục Bá Đa Lộc trao tặng cho chính
quyền ngày 16 tháng 8 năm 1855.
Pierre Pigneau
(Bá Đa Lộc) bắt đầu đi học ở thành phố Laon, cách làng
Origny-en-Thiérache về hướng nam khoảng 60 cây số, sau đó tiếp
tục học tại một chủng viện ở Paris rồi nhập Viện Giáo sĩ Truyền
đạo Nước ngoài năm 1765, khi ông được 24 tuổi, và rời khỏi Paris
ngày 09 tháng 9 cùng năm để đi thi hành nghĩa vụ truyền đạo tại
Cochinchine.
Chàng trai trẻ Pierre Pigneau đă từ một khung cảnh làng quê thôn
dă, đến Laon, là một thành phố lớn thời Trung cổ đi học, rồi lại
đến Paris vào chủng viện, tức là vừa có khả năng kinh tế để ăn
học, vừa có tri thức, vừa có quan hệ xă hội cấp cao. Nhưng, thay
v́ tiếp tục con đường sự nghiệp trong nước Pháp, th́ có lẽ ḍng
máu phiêu lưu, ham thích khai phá, chinh phục, năng động, t́m
cái mới, cái lạ đă đưa Pierre Pigneau đi đến quyết định lên
đường, đi đến một chân trời hoàn toàn xa lạ cách nước Pháp cả
vạn dặm.
Cá tính độc đáo của Pierre Pigneau được chứng minh sau này bằng
cuộc đời của ông. Có người xuống tàu đi nhưng chết giữa đường,
trên đại dương mênh mông. Nhưng ông, suốt đời, chạy hết nơi này
đến nơi kia, trốn lên trốn xuống, lên tàu xuống tàu, đi hai lần
Pháp-Việt qua lại, mỗi lần đi về mất cả mấy năm, lúc cần phải tự
vệ, cũng biết múa gươm bắn súng như ai, biết cố vấn về quân sự,
chiến tranh, ngoại giao, biết mộ lính, mua bán vũ khí, dạy học,
quản lư, và không quên lư tưởng truyền đạo. Ông không phải là
một người chỉ biết chắp tay bó gối cầu nguyện, so với thời nay,
nhiều thanh niên đồng tuổi với ông, c̣n bám gấu cha mẹ.
Nếu nói rằng các nhà truyền đạo là gián điệp thời xưa th́ hơi
gay gắt. Nhưng trong khi vua chúa Pháp c̣n mê mải bởi các trận
chiến tranh giành đất giành người hay v́ tam thê tứ thiếp, cản
trở v́ quyền thần, triều đ́nh, hay hưởng thụ, th́ Giáo hoàng đă
gởi các giáo sĩ đi khắp nơi trên thế giới. Chính v́ các giáo sĩ
đi đó đi đây, biết cảnh biết người, tiếp xúc nhiều, có khả năng
phán đoán và nhận xét một cách khoa học, được giáo dân tôn trọng
kính nể, họ là những nguồn tin tức sống động và đáng tin cậy, và
trên thực chất họ là những người đi khai phá.
Theo truyền thuyết th́ vào thế kỷ thứ hai, thứ ba... đă có các
nhà truyền giáo đạo Thiên chúa theo chân các thương nhân đến
Việt Nam, nhưng không có dấu tích lịch sử nào để lại. Măi cho
đến thế kỷ thứ 16, theo lịch sử chánh thức của triều đ́nh Việt
Nam (Khâm định Việt sử) th́ từ năm 1533 đời vua Lê Trang Tông có
chiếu chỉ cấm đạo Công Giáo ở Việt Nam.
Giữa thế kỷ thứ
16 nhà Hậu Lê dần dần suy yếu, sau khi anh là Nguyễn Uông bị
Trịnh Kiểm giết, năm 1558 Nguyễn Hoàng, con của Nguyền Kim, xin
Trịnh Kiểm cho vào trấn đất Thuận Hóa ở phía Nam. Nguyễn Hoàng
đem theo khoảng một ngàn quân sĩ, bầu đoàn thê tử, thu phục nhân
tâm, kêu gọi anh hùng hào kiệt về giúp, và từ đó sáng lập ra cơ
nghiệp nhà Nguyễn, tự xưng là Chúa Tiên. Đất nước, tuy dưới danh
nghĩa triều Lê, nhưng trên thực tế đă chia ra làm Đường Ngoài
(miền bắc) thuộc chúa Trịnh và Đường Trong (miền nam) thuộc chúa
Nguyễn.
Sử liệu Pháp ghi lại rằng vào năm 1516 có một nhà hàng hải Bồ
Đào Nha tên là Fernao Perez de Andrade đă đến tận bờ biển Việt
Nam. Năm 1596 thầy ḍng người Tây Ban Nha tên là Don Diego
d’Averte đă đặt chân đến Huế, nhưng bị đuổi đi ngay. Hội Ái hữu
Thiên chúa (La Compagnie de Jésus) thành lập một tổ chức truyền
đạo tại miền Nam Việt Nam (la Mission de Cochinchine) năm 1615.
Năm 1613 nhà thám hiểm người Anh tên là Richard Carwarden bị
giết trên vùng biển Đà Nẵng. Năm 1614 những nhà truyền đạo ḍng
Tên theo chân các thương nhân người Bồ Đào Nha từ Macao, qua
phía nam Trung Hoa, để đến Việt Nam.
Sách truyền đạo bằng hai thứ
tiếng của Alexandre de Rhodes
Năm 1625, khi một giáo sĩ, sinh tại thành phố Avignon thuộc miền
nam nước Pháp, nhưng gia đ́nh ông thuộc gốc Do Thái ở thành phố
Rhodes (bán đảo Iberia) ), tổ tiên sang tị nạn dưới bóng Giáo
hoàng v́ thời ấy Avignon là đất của Giáo hoàng, tên là Alexandre
de Rhodes (A Lịch Sơn Đắc Lộ) cập bến Hội An, th́ việc truyền
đạo Thiên chúa mới chuyển qua khúc quanh quan trọng. Người Việt
gọi Alexandre de Rhodes là Giáo sĩ Đắc Lộ(3).
Sau này, thành phần thực dân Pháp "nhận quàng làm họ", cho
Alexandre de Rhodes là người Pháp và cũng quên vai tṛ của các
linh mục Bồ Đào Nha trong việc đặt ra chữ quốc ngữ luôn. Từ năm
1640 các thương nhân người Bồ Đào Nha, Anh và Ḥa Lan đă t́m
cách thiết lập một quan hệ thương mại tại các hải cảng về phía
Bắc và Nam Việt Nam, và các giáo sĩ đi truyền đạo cũng theo
thuyền thương nhân vào Việt Nam.
Nhận thấy vấn đề ngôn ngữ bất đồng giữa người Pháp và người Việt
Nam là cản trở chính cho công việc sinh sống và truyền đạo, Giáo
sĩ Đắc Lộ bèn học tiếng Việt. Nhưng công lao của những người
Việt đă dạy Alexandre de Rhodes học tiếng Việt và góp phần phiên
âm tiếng Việt qua mẫu tự Latinh th́ không một sách vở nào nói
đến.
Alexandre de
Rhodes trở nên thành thạo ngôn ngữ, lịch sử và địa lư Việt Nam,
và đi truyền đạo ở Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài tổng cộng 20 năm.
Năm 1645 ông bị chúa Thượng (Nguyễn Phúc Lan) trục xuất vĩnh
viễn khỏi Việt Nam. V́ thế khi trở về Paris năm 1649, được sự
ủng hộ của Giáo hội Thiên chúa Pháp, Giáo sĩ Đắc Lộ đă vận động
hai Giáo hoàng Innocent XI và Alexandre VII đồng ư thành lập
Viện Giáo sĩ Truyền đạo nước ngoài Paris (Société des Missions
Etrangères de Paris, viết tắt là MEP, các sách c̣n gọi là Hội
Thừa sai), với mục đích đào tạo và đưa các nhà truyền giáo người
Pháp đến vùng Viễn Đông.
Bốn Giám mục
được coi như là những người đă thành lập Hội Thừa sai là
François de Laval Montmorency, François Pallu, Lambert de La
Motte và Ignace Cotolendi.
Trong lệnh truyền năm 1659 Giáo hoàng Alexandre VII đă ấn định
nhiệm vụ của Hội Thừa sai là đào tạo và thiết lập một tầng lớp
giáo sĩ địa phương, không hoạt động chính trị, chú ư đến văn hóa
cổ truyền địa phương, và mọi quyết định đều phải được thông qua
La Mă.
Hội Thừa sai bắt đầu hoạt động năm 1660, Giám mục François Pallu
được cử đặc trách miền Bắc, mà người pháp gọi là Tonkin, Giám
mục Pierre Lambert de la Motte đặc trách miền Nam, gọi là
Cochinchine.
Từ thế kỷ 17 cho đến nay, Hội Thừa sai đă gới khoảng 4.500 giáo
sĩ đến châu Á, nhất là các nước Xiêm La, Việt Nam, Cam bốt,
Trung Hoa, Ấn Độ, Đại Hàn, Nhật, Mă Lai....
Năm 1651 Giáo sĩ Đắc Lộ cho in cuốn tự điển Dictionnarium
annamiticum, lusitanum et latinum (tự điển Việt-Bồ-La) dựa theo
cách phiên âm tiếng Việt qua hệ thống mẫu tự Latinh, trước đó đă
được các giáo sĩ người Bồ Đào Nha và Ư bắt đầu biên soạn, người
Việt góp phần, do ông thay đổi và tu chỉnh. Cách viết này đă
thay thế chữ Nho, giúp cho các giáo sĩ truyền đạo Pháp học tiếng
Việt nhanh chóng, truyền đạo dễ dàng, và sau này đă trở thành
chữ quốc ngữ.
Gần đây cuốn tự điển "Dictionnarium annamiticum, lusitanum et
latinum" được dịch ra tiếng Pháp hiện đại và phát hành tại Pháp.
Những nỗi thăng trầm
khi thi hành nhiệm vụ
Khi đặt chân đến
Cochinchine năm 1767 th́ Bá Đa Lộc, nhờ có khả năng giáo dục,
được cử làm giáo sư trong chủng viện của Hội Thừa sai tạm đặt cơ
sở tại Ḥn Đất (gần Rạch Giá thuộc tỉnh Kiên Giang ngày nay).
Năm 1768 Bá Đa Lộc bị Mạc Thiên Tứ, Đô đốc Hà Tiên, giam cầm
khoảng hai tháng v́ bị buộc tội đă che chở cho một người thuộc
hoàng tộc Xiêm La, kẻ thù của họ Mạc.
"...Khoảng gần cuối năm 1769 nước Xiêm lại bị nội biến lây sang
Cao Miên. Một người Xiêm lai Trung Hoa là PhaJa-Tak, tên Tàu là
Trịnh Quốc Anh, cướp ngôi vua. Một hoàng thân Xiêm là
Chang-Si-Sang trốn sang Hà Tiên nhờ các thừa sai Pháp giúp ông
ta mua vũ khí và chiếm lại ngai vàng. Bị từ chối, ông hoàng chạy
sang Cao Miên trên một chiếc thuyền đang chở lương thực cho
chủng viện. Đây là việc t́nh cờ gây tai hại cho chủng viện:
PhaJa-Tak (Trịnh Quốc Anh) mua được sự ủng hộ của Đô đốc Hà Tiên
Mạc Thiên Tứ (c̣n gọi là Mạc Thiên Tích, 1706-1780, con của Mạc
Cửu) ngày 19/1/1768 họ Mạc bắt giam các thừa sai mấy tháng, dẫn
đến sự bùng nổ dân Miên đốt phá nhà thờ, sát hại người Việt ở
Cảng Khẩu và Ḥn Đất. Sau nhờ sự can thiệp của một người con Đô
đốc họ Mạc, cơn chém giết bắt bớ đốt phá lắng dịu..." (trích
Nhân vật Công giáo - Lê Ngọc Bích).
Ngày 11 tháng 12 năm 1769, dù đă trở thành Linh mục Giám đốc
chủng viện tại Ḥn Đất, khi chủng viện Ḥn Đất bị quân Cao Miên
tấn công đốt cháy, ông phải rời khỏi Việt Nam cùng với Linh mục
Morvan và 13 nhân viên chủng viện để đi đến Malacca (nằm ở phía
tây của Mă Lai, cách Singapur khoảng 200 cây số) rồi từ đó xuôi
về hướng nam đến Pondichéry (nằm ở vùng đông nam Ấn Độ trong
vịnh Bengale, nơi đă có nhiều cơ sở thương mại và hành chánh của
Pháp từ năm 1673 ), sau đó năm 1770 ông thành lập một chủng viện
ở làng Virampatnam cách Pondichéry một dặm về hướng bắc.
"Năm 1771, chủng viện có 39 học viên gồm 12 người Trung Quốc, 16
người Đàng Trong, 5 người Đàng Ngoài, 4 người Thái Lan, 1 người
Cao Miên (?) và 1 người Mă Lai. Các học viên được chia thành 4
ban: ban thứ nhất là ban thần học và 3 ban c̣n lại học tiếng
La-tinh, học văn chương và tôn giáo". (Trương Bá Cần, Công giáo
Đàng Trong thời Giám mục Pigneau, Tủ sách Đại Kết 1992, tr.
36-37).
Năm 1771 ông được Giáo hoàng Clément XIV tấn phong Giám mục
Adran và được bổ nhiệm làm Giám mục Tông ṭa phụ tá Giám mục
Guillaume Piguel. Nhưng cũng trong năm ấy Giám mục Piguel qua
đời ngày 21 tháng sáu, Bá Đa Lộc thay thế Piguel rồi được tấn
phong tại Madras ngày 24 tháng 2 năm 1774 (Madras được đổi tên
là Chennai năm 1996, là một hải cảng mằm trên bờ biển đông nam
Ấn Độ tại vịnh Bengale), và ông lên đường trở lại Đông Dương
ngày 12 tháng 3 1775 với chức vị Giám mục Đại diện Tông ṭa Đàng
Trong.
Thời ấy các linh mục giả trang làm đủ thứ nghề: thợ mộc, thợ nề,
thợ đóng cối xay, thầy lang, bán thuốc thậm chí gánh nước thuê,
người đi câu, lái buôn... để truyền đạo, và được sự trợ giúp
tích cực của các thương nhân, thậm chí có lúc các giáo sĩ đào
tạo chủng sinh trên các thương thuyền. Các chủng viện thời đó là
nhà tranh vách đất thiếu thốn mọi thứ, thường bị di chuyển nơi
này qua nơi khác, chủng sinh học đạo bằng tiếng Latinh, luân lư
hay giáo sử, địa lư, toán pháp căn bản, và thiên văn học, nhưng
việc học tập khó khăn v́ thiếu sách vở và tự điển, và họ sống
trong lo sợ bị cấm đạo.
Việc truyền đạo thường gặp khó khăn v́ lư do ngôn ngữ bất đồng,
nhưng cản trở chính là sự đ̣i hỏi người muốn tin theo đạo Chúa
phải từ bỏ tục lệ thờ cúng ông bà tổ tiên, không lấy năm thê bảy
thiếp mà chỉ một chồng một vợ, ngoài những khó khăn h́nh thức
khác, thí như xây nhà thờ, đúc tượng, đúc chuông, tổ chức hệ
thống họ đạo trên dưới quy củ, mang tên thánh bằng tiếng Pháp...
Về đến chủng viện Prambey Chhom trên một ḥn đảo của sông Mékong
ở tỉnh Kong-Pong-Soai, do Giám mục Piguel ra lệnh xây dựng từ
đầu năm 1770, Bá Đa Lộc ra lệnh di chuyển chủng viện Prambey
Chhom từ Cao Miên về Việt Nam.
Trong khi đó, sau cái chết của Vơ Vương Nguyễn Phúc Khoát vào
năm 1765, triều đ́nh chúa Nguyễn ở Đàng Trong bị quyền thần
Trương Phúc Loan lũng đoạn. Ba anh em Tây Sơn Nguyễn Nhạc,
Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ chiêu mộ tướng tài và quân lính, nổi lên
năm 1771, kiểm soát vùng đất từ Quy Nhơn đến B́nh Thuận, làm suy
yếu chính quyền chúa Nguyễn.
Cũng nhân cơ hội chúa Nguyễn suy yếu, năm 1774, chúa Trịnh Sâm
sai đánh thành Phú Xuân. Triều thần chúa Nguyễn hoảng sợ, bèn
mưu bắt Trương Phúc Loan đem nộp. Định Vương Nguyễn Phúc Thuần
và các quan phải chạy vào Quảng Nam.
Năm 1775, Nguyễn Phúc Ánh mới 13 tuổi, sinh ngày 15 tháng giêng
năm 1762, con của Hoàng tử Nguyễn Phúc Côn và Bà Nguyễn thị
Hoàng, cháu của chúa Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738 – 1765),
cùng với tôi chúa họ Nguyễn phải xuống thuyền chạy vào Gia
Định.
Nguyễn Nhạc nhân thời cơ đó mang quân hai đường thuỷ bộ ra đánh
Quảng Nam. Nguyễn Phúc Thuần vội bỏ Quảng Nam theo đường biển
trốn vào Gia Định, để lại Nguyễn Phúc Dương.
Tháng 2 năm 1775, quân Trịnh tiến vào Quảng Nam. Quân Tây Sơn
cũng tiến ra, lùng bắt được Nguyễn Phúc Dương. Quân Trịnh vượt
đèo Hải Vân và đụng độ với quân Tây Sơn. Hoàng Ngũ Phúc đang đà
thắng lợi, đánh bại quân Tây Sơn ở Cẩm Sa. Nguyễn Nhạc phải rút
quân về Quy Nhơn, rồi xin đầu hàng quân chúa Trịnh, mặt khác cử
em là Nguyễn Huệ, mới 23 tuổi, làm chủ tướng mang quân vào Nam
đánh nhà Nguyễn ở Phú Yên.
Sau khi thắng ở Phú Yên, Nguyễn Huệ đem quân đánh quân chúa
Nguyễn lấy lại đất Quảng Nam.
Tháng 3/1776 Bá Đa Lộc trở về đến Hà Tiên, được Đô đốc Mạc Thiên
Tứ cho một khu đất khá rộng gọi là Cây Quao, xéo phía nam Hà
Tiên, ông lập một họ đạo mang tên Pi-Nha-Lêu.
Tại họ đạo nầy, Bá Đa Lộc thiết lập một chủng viện đặt dưới
quyền điều khiển của Linh mục Morvan.
Tháng 10/1776, Nguyễn Phúc Dương bỏ trốn từ Quy Nhơn về Gia
Định, gọi Lư Tài, người Hoa, vốn là tướng của Nguyễn Huệ được
cắt giữ thành Phú Yên khi Nguyễn Huệ ra Bắc, phản bội Nguyễn
Huệ, làm vây cánh. Lư Tài ép Nguyễn Phúc Thuần nhường ngôi cho
Nguyễn Phúc Dương làm Tân Chính Vương, c̣n Thuần làm Thái Thượng
Vương.
Những trận đánh tấn công Gia Định của anh em Tây Sơn đều là
những trận đánh lớn.
Tháng 3 năm 1777, Nguyễn Huệ đem thủy quân vào đánh Gia Định. Lư
Tài thua trận cùng hai chúa Nguyễn chạy về Hóc Môn, rồi cầu viện
Tổng binh Hà Tiên là Mạc Thiên Tứ.
Tháng 9 năm
1777, Nguyễn Huệ mang quân bao vây tấn công Ba Việt, bắt sống
Nguyễn Phúc Dương và toàn bộ quân tướng. Nguyễn Phúc Dương và 18
tướng tuỳ tùng bị đưa về Gia Định xử tử.
Nguyễn Phúc Thuần bại trận bỏ Cần Thơ sang Long Xuyên, định chờ
Mạc Thiên Tứ lấy tàu để chạy sang Trung Quốc cầu viện nhà Thanh
nhưng bị quân Tây Sơn Nguyễn Huệ đánh bại Mạc Thiên Tứ, đuổi đến
nơi, bắt được Nguyễn Phúc Thuần mang về Gia Định xử tử tháng 10
năm 1777.
Nguyễn Phúc Ánh, Đỗ Thanh Nhân và Mạc Thiên Tứ trốn thoát mỗi
người một nơi.
Năm 1778, nhiều toán cướp ở Cao Miên tràn vào đốt phá khu chủng
viện, giết chủng sinh. Bá Đa Lộc cho dời chủng viện về Tân Triều
(Đồng Nai).
Bá Đa Lộc và Nguyễn Phúc Ánh
Năm 1780 sau khi Nguyễn Huệ rút đại quân về, các tướng họ Nguyễn
lập Nguyễn Phúc Ánh làm chúa, chiếm lại Gia Định, lập triều
đ́nh, xây đắp lại thành Gia Định theo kiểu bát quái có tám cửa
xây bằng đá ong. Do đó vùng này gọi là Tân Triều.
Một quan hệ có tính cách thân hữu giữa Bá Đa Lộc và Nguyễn Phúc
Ánh nảy sinh ra từ giai đoạn này và Bá Đa Lộc được phép hoạt
động trên các vùng do Nguyễn Phúc Ánh kiểm soát. Được các lực
lượng phương Tây như Pháp, Bồ Đào Nha giúp sức, Nguyễn Phúc Ánh
lại mạnh lên. Nguyễn Nhạc sai tướng vào đánh nhưng lại bị thua
và mất thêm B́nh Thuận.
Tháng 3 năm 1782, Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc mang quân thủy bộ nam
tiến, phá tan quân Nguyễn, giết chết cai cơ người Pháp là Manuel
(Mạn Hoè). Nguyễn Phúc Ánh bị đánh bật ra khỏi đất Gia Định bỏ
chạy về Hậu Giang. Anh em Tây Sơn chiếm lại Nam Bộ, sai người
giao hảo với Chân Lạp (Campuchia) và đề nghị hợp tác đánh Nguyễn
Phúc Ánh. Chân Lạp chia quân đón bắt được đoàn cầu viện Xiêm La
của Nguyễn Phúc Ánh và suưt bắt được Nguyễn Phúc Ánh. Nguyễn
Phúc Ánh trốn ra đảo Phú Quốc.
Bá Đa Lộc cũng phải chạy trốn sang Cao Miên cùng với chủng viện.
Cuối tháng 10-1782, sau khi anh em Tây Sơn rút quân về Quy Nhơn,
Nguyễn Phúc Ánh dần dần chiếm lại được Gia Định và Sài G̣n. Bá
Đa Lộc đưa chủng viện về đặt tại họ đạo Mặc Bắc, Vĩnh Long. Ngày
nay Mặc Bắc là một giáo xứ đông đảo trong địa bàn xă Long Thới,
huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh, giáo phận Vĩnh Long.
Năm 1783 Chu Văn Tiếp lại từ B́nh Thuận mang quân vào đánh chiếm
được Sài Côn Gia Định và đón Nguyễn Phúc Ánh trở về.
Tháng 2/1783, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ mang quân nam tiến, Nguyễn
Phúc Ánh bỏ chạy về Đồng Tuyên, đến Hà Tiên rồi trốn ra đảo Phú
Quốc.
Tháng 8 năm 1783, quân Tây Sơn truy kích, Nguyễn Phúc Ánh chạy
ra các đảo Cổ Long, Cổ Cốt rồi lại quay về Phú Quốc. Nhân có băo
biển, Nguyễn Phúc Ánh chạy ra đảo Thổ Chu, rồi đầu năm 1784 tự
ḿnh sang Xiêm cầu viện.
Vua Xiêm sai hai tướng là Chiêu Tăng, Chiêu Sương đem hai vạn
thủy binh cùng ba trăm chiếc thuyền sang giúp. Ngoài ra c̣n có
ba vạn quân bộ tiến sang Chân Lạp với danh nghĩa giúp vua Chân
Lạp, thực chất với ư đồ tạo gọng ḱm phía tây, chờ cơ hội tiêu
diệt quân Tây Sơn.
Do t́nh h́nh ba vạn quân Trịnh đang ŕnh rập ở phía bắc, ba vạn
quân bộ Xiêm chực chờ ở phía tây, với hai vạn quân thủy Xiêm ở
phía nam, Nguyễn Huệ ra quyết sách nhanh chóng, chủ yếu đánh
tiêu diệt hai vạn quân chủ lực đường thủy của quân Xiêm. Sau khi
vào Gia Định, Nguyễn Huệ cho bố trí trận địa và nhử quân Xiêm
đến gần Rạch Gầm và Xoài Mút ở phía trên Mỹ Tho, rồi đánh một
trận, tiêu diệt quân Xiêm vào tháng 1/1785.
Đêm 19 rạng 20 tháng 1 năm 1785 quân Xiêm lợi dụng thủy triều
xuôi theo ḍng sông để tấn công Mỹ Tho nhằm phá vỡ đội thuyền
pḥng thủ của Tây Sơn. Quân Tây Sơn giả thua rút dần về hướng Mỹ
Tho, nhử đối phương lọt vào trận địa mai phục đoạn Rạch Gầm -
Xoài Mút.
Quân Xiêm và
Nguyễn Phúc Ánh thua to, chạy bộ về Xiêm La. Nguyễn Ánh một lần
nữa chạy ra biển thoát thân.
Bá Đa Lộc cũng
phải chạy trốn ra các hải đảo ở vịnh Xiêm La.
Chuyến đi
Pháp của Bá Đa Lộc và Hoàng tử Cảnh
Mặc dù thất vọng v́ không thuyết phục được Nguyễn Phúc Ánh theo
đạo, nhưng trước t́nh h́nh nhà Tây Sơn cấm đạo nghiêm ngặt, và
để cạnh tranh ảnh hưởng với các nhà truyền giáo đến từ Anh, Bồ
Đào Nha, Hà Lan, cho nên Bá Đa Lộc tiếp tục giúp đỡ quân Nguyễn
Phúc Ánh qua cơn ngặt nghèo và đề nghị Nguyễn Phúc Ánh xin trợ
giúp của triều đ́nh Pháp. Nguyễn Phúc Ánh ưng thuận gởi Bá Đa
Lộc làm sứ giả qua Pháp xin cầu viện và để làm tin, Nguyễn Phúc
Ánh giao cho Bá Đa Lộc một dấu ấn của vương triều chúa Nguyễn và
đem theo Hoàng tử Cảnh, tên tục là Nguyễn Phúc Cảnh, năm tuổi
rưỡi, sinh ngày 6 tháng 4 năm 1780 tại Gia Định, con của Nguyễn
Phúc Ánh và bà Tống thị Lan, con gái quan Chưởng doanh Tống Phúc
Khuông (sau được truy phong là Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu).
Bá Đa Lộc, khi
ấy 44 tuổi, khởi hành cùng với Hoàng tử Cảnh vào tháng 2 năm
1785 để đến Pondichéry. Nhưng tại đây ông gặp khó khăn phải chờ
hơn một năm mới tiếp tục đi Pháp được. Ông và Hoàng tử Cảnh cập
bến Lorient vào tháng 2 năm 1787.
Đoạn đường đi mất đúng hai năm.
Nhiều bộ trưởng
của triều đ́nh Louis XVI chống lại một sự can thiệp ở Đông
Dương, nhưng các nhân vật quan trọng Công giáo ủng hộ đề nghị
của Bá Đa Lộc. Vua Louis XVI tiếp Bá Đa Lộc tại triều đ́nh vào
ngày 5 hay 6 tháng 5 năm 1787, trước sự hiện diện của các bộ
trưởng và các nhân vật quan trọng. Bá Đa Lộc tŕnh bày t́nh h́nh
Đông Dương và những quyền lợi về kinh tế thương mại, vật chất,
cũng như về việc truyền đạo Thiên chúa qua sự thuận t́nh của nhà
Nguyễn.
Chính ra, vua Louis XVI ngần ngại dấn thân
vào một cuộc phiêu lưu quân sự tốn kém và nghi ngờ lợi ích sẽ
thu hoạch được sau này, nếu đạt được mục đích quân sự. Một chi
tiết đáng chú ư là thời ấy dân chúng đang oán ghét và dèm pha
nặng nề ảnh hưởng chính trị của hoàng hậu Marie-Antoinette đối
với triều đ́nh vua Louis XVI và cách tiêu xài quá phung phí của
bà, thí dụ như đề tài hoàng hậu mua một chuỗi kim cương đáng giá
một triệu sáu trăm ngàn quan tiền vàng Pháp, trong khi các bộ
trưởng đều than phiền là công quỹ quốc gia hao hụt trầm trọng.
Triều đ́nh Louis XVI chấp thuận can thiệp, một hiệp ước giữa vua
nước Pháp và vua nước Việt Nam (người Pháp gọi Nam Kỳ là
Cochinchine) được kư kết bởi công tước Montmorin, bộ trưởng của
vua Louis XVI và Giáo sĩ Bá Đa Lộc tại Versailles ngày 28 tháng
11 năm 1787. Theo hiệp ước này, nước Pháp giúp Nguyễn Phúc Ánh
giành lại ngai vàng, ngược lại, nhà Nguyễn nhượng tuyệt đối cho
Pháp cửa bể Đà Nẵng, Côn Đảo và độc quyền thương mại tại Việt
Nam.
Tại Bắc Hà, từ năm 1782, khi Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm chết, Thế
tử Trịnh Cán được lập làm Điện Đô vương, họ Trịnh ngày càng suy
yếu.
Năm 1786, lúc Bá Đa Lộc và Hoàng tử Cảnh c̣n lênh đênh trên
biển, Nguyễn Huệ được Nguyễn Nhạc cử làm tổng chỉ huy cùng
Nguyễn Lữ đánh ra Bắc với danh nghĩa "Phù Lê diệt Trịnh", Quân
Trịnh rệu ră bỏ trốn. Chúa Trịnh không được ḷng dân, bỏ thành
Thăng Long chạy, bị dân bắt đem nộp Tây Sơn. Trên đường áp giải,
Trịnh Tông tự sát. Xem như nhà Trịnh từ đó bị tiêu diệt.
Nguyễn Huệ vào thành Thăng Long yết kiến vua Lê Hiển tông. Do sự
sắp xếp của Nguyễn Hữu Chỉnh, vua Lê Hiển Tông gả công chúa Ngọc
Hân cho Nguyễn Huệ.
Tháng 7 năm
1786, vua Lê Hiển Tông qua đời, thọ 70 tuổi. Nguyễn Huệ lập Lê
Duy Kỳ lên ngôi vua, lấy hiệu là Lê Chiêu Thống. Ít lâu sau,
Nguyễn Huệ đem công chúa Ngọc Hân cùng Nguyễn Nhạc rút quân về
Nam. Giữa năm 1787, Nguyễn Ánh từ Xiêm quay trở lại Gia Định.
Nguyễn Lữ yếu thế phải rút về Quy Nhơn.
Trở về Việt Nam
Bá Đa Lộc và
Hoàng tử Cảnh lên đường trở về Đông Dương ngày 27 tháng 12 năm
1787 trên chiến thuyền La Dryade.
Nhưng v́ sự cản trở của các thế lực của chính quyền Pondichéry
do công tước Conway lănh đạo, và sự rối rắm của triều đ́nh Louis
XVI, nước Pháp đă không gởi quân cứu viện như đă hứa.
Bị bỏ rơi, nhưng
Bá Đa Lộc không tự bỏ rơi.
Với số tiền 15.000 quan tiền vàng của gia đ́nh và bạn bè cho
ông, cộng thêm sự giúp đỡ của các thế lực thương mại, ông thực
hiện điều mà triều đ́nh Pháp không muốn thực hiện. Bá Đa Lộc mua
vũ khí, súng ống, đạn dược, chiến thuyền và mộ binh để giúp
Nguyễn Phúc Ánh.
Khi ấy, Nguyễn Huệ phải giải quyết vấn đề chuyên quyền của
Nguyễn Hữu Chỉnh và sau đó của Vũ Văn Nhậm, giết Chỉnh và Nhậm,
rồi lại rút quân về Phú Xuân.
Trong Nam, Nguyễn Phúc Ánh chiếm lại được thành Gia Định.
Cuối năm 1788 đang chuẩn bị đánh Nguyễn Phúc Ánh th́ Nguyễn Huệ
được tin vua Càn Long nhà Thanh nghe lời Lê Chiêu Thống cầu
viện, sai Tôn Sĩ Nghị mang 29 vạn quân tiến vào biên giới chiếm
đóng Thăng Long. Các tướng giữ Bắc Hà của ông lui về giữ Biện
Sơn cố thủ. Nghe tin báo, Nguyễn Huệ quyết định chọn cách đánh
thần tốc để chống quân nhà Thanh, đội tiếng phù nhà Lê để xâm
lăng.
Để lấy danh nghĩa chính thống, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế kỷ
nguyên là Quang Trung ngày 25 tháng 11 năm 1788, rồi ngày 22
tháng 12 năm 1788 (25 tháng 11 năm Mậu Thân) xuất quân tiến ra
Bắc Hà, truyền hịch hẹn ba quân là ngày mồng bẩy Tết sẽ quét
sạch quân Thanh, vào ăn tết ở Thăng Long.
Đêm mồng bốn Tết Kỷ Dậu 1789, cánh quân của đô đốc Long bất ngờ
tập kích đồn Khương Thượng khiến quân Thanh không kịp trở tay,
bị giết hàng vạn. Tướng Sầm Nghi Đống tự vẫn. Xác quân Thanh
chết sau xếp thành mười ba g̣ đống lớn, có đa mọc um tùm nên gọi
là G̣ Đống Đa.
Sáng mồng năm Tết Kỷ Dậu 1789, Quang Trung mới cùng đô đốc Bảo
tổng tấn công vào đồn Ngọc Hồi.
Tôn Sĩ Nghị sợ hăi đă bỏ chạy trước. Lê Chiêu Thống cũng chạy
theo Tôn Sĩ Nghị thoát sang bên kia biên giới. Trưa mồng năm
Tết, Quang Trung tiến vào thành Thăng Long.
Chỉ trong ṿng sáu ngày, quân Tây Sơn đă đánh tan hai mươi chín
vạn quân Thanh. Hai trận chiến, trận Rạch Gầm - Xoài Mút chống
quân Xiêm phía Nam và trận đại phá quân Thanh Ngọc Hồi - Đống
Đa, ghi nên những trang sử oai hùng của nhà Tây Sơn.
Trong khi đó tại Pháp,
cuộc phá ngục Bastille xảy ra ngày 14 tháng bẩy 1789 đă mở đầu
cho cuộc cách mạng đặt nền móng cho một chính thể dân chủ, mà
hiện nay ngày 14.07 vẫn là ngày lễ trọng đại của nước Pháp.
Mười ngày sau
đó, ngày 24 tháng 7 năm 1789 Bá Đa Lộc và Hoàng tử Cảnh trên
chiến thuyền Méduse cùng với khoảng ba trăm thủy quân, tám mươi
pháo binh và năm mươi phụ binh người da đen, cập bến Băi Dừa,
Cap Saint-Jacques (Vũng Tàu) .
Như thế là Bá Đa Lộc và Hoàng tử Cảnh đă mất bốn năm rưỡi để đi
Pháp và về Việt Nam.
Trong khi đó, tại Pháp, sau sự kiện cuộc cách mạng năm 1789, vua
Louis XVI và gia đ́nh t́m cách trốn ra nước ngoài nhưng không
thành.
Ngày 10 tháng 8
năm 1792 vua Louis XVI bị bắt tại cung điện Tuileries và bị Quốc
Hội kết tội phản bội chính thể tự do, với 387 phiếu thuận và 334
phiếu chống án tử h́nh. Ngày 21 tháng 1 năm 1793 đao phủ Sanson
chém rơi đầu vua Louis XVI tại quảng trường Cách Mạng, ngày nay
là quảng trường Concorde tại Paris. Mười tháng sau đó, hoàng hậu
Marie-Antoinette lên máy chém ngày 16 tháng 10 năm 1793 cũng tại
quảng trường Cách Mạng.
Thời vận
Nguyễn Phúc Ánh đă đến.
Bấy giờ Nguyễn
Phúc Ánh đă tái chiếm Gia Định, từ năm 1788.
T́nh h́nh đă thay đổi thuận lợi, Bá Đa Lộc chuyển chủng viện từ
Xiêm về Đàng Trong và chọn địa điểm là Lái Thiêu làm trung tâm
của giáo phận Đàng Trong, lập Ṭa Giám mục.
Tháng 6/1792, Bá Đa Lộc chuyển chủng viện ra Tân Triều, kinh đô
mới của Nguyễn Ánh tại Đồng Nai.
Nguyễn Phúc Ánh ban cho Bá Đa Lộc một đội ngự lâm quân gồm 200
người và đặt Bá Đa Lộc là Đặc ủy viên của vua Pháp, làm cố vấn
chiến tranh kiêm ngoại giao. Khoảng hai mươi sĩ quan Pháp, và
hơn ba trăm năm mươi thủy binh, pháo binh t́nh nguyện ở lại huấn
luyện quân lính và thủy quân Việt Nam, xây dựng thành lũy theo
hệ thống của Vauban.
Nhiều người trở thành quan dưới trướng Gia Long và được đặt tên
Việt, như Jean Marie Dayot (Ông Trí) lănh đạo đội thủy quân,
Philippe Vannier (Ông Chấn) chỉ huy chiến thuyền le Dong Nai, De
Forsans (Ông Lăng) chỉ huy chiến thuyền L‘Aigle, Jean-Baptiste
Chaigneau chỉ huy chiến thuyền le Dragon, Julien Girard de
l‘Isle-Sallé chỉ huy chiến thuyền Le prince de la Cochinchine,
Laurent Barisy (Ông Mân) coi về huấn luyện, Olivier de Puymanel
(Ông Tín) chỉ huy bộ binh, pháo binh và phụ trách xây thành,
Desperles và Despiau, hai nhà giải phẫu và bác sĩ quân đội phụ
trách về sức khỏe và thương binh, Theodore Lebuen, Guilloux.
Vào năm 1792, Nguyễn Nhạc đóng nhiều tàu thuyền ở cửa Thị Nại để
nam tiến. Nhưng lúc đó là mùa gió nồm, thuận gió cho quân nam
ra, Nguyễn Phúc Ánh thừa dịp cùng quân Pháp, Bồ Đào Nha đánh úp
cửa Thi Nại, đốt cháy nhiều thuyền chiến của Tây Sơn. Nguyễn
Nhạc phải thu quân về Quy Nhơn.
Trước sự kiện này, Nguyễn Huệ chuẩn bị huy động hơn hai mươi vạn
quân thuỷ bộ, chia làm ba đường đánh Nguyễn Phúc Ánh. Chính các
giáo sĩ Pháp giúp Nguyễn Phúc Ánh lúc đó cũng rất lo lắng và dự
liệu Nguyễn Phúc Ánh khó ḷng chống lại được Tây Sơn trận này.
Tuy nhiên, cái chết đột ngột của vua Quang Trung Nguyễn Huệ vào
tháng 9 năm 1792 khiến kế hoạch nam tiến này không bao giờ trở
thành hiện thực.
Vua Quang Trung
Nguyễn Huệ sinh năm 1753, (sinh trước Nguyễn Phúc Ánh chín năm)
mất ngày 15 tháng 9 năm 1792, thọ 39 tuổi, miếu hiệu là Thái Tổ
Vơ Hoàng Đế.
Thời đại hiển hách vủa vua Quang Trung chỉ kéo dài từ năm khởi
nghĩa 1771 cho đến năm 1792 là được hai mươi mốt năm, làm vua
được gần bốn năm.
Năm 1799, Bá Đa Lộc lâm bịnh nặng trong khi hộ tống Nguyễn Phúc
Ánh đánh chiếm Quy Nhơn, trung tâm của nhà Nguyễn Tây Sơn. Sau
hai tháng lâm bệnh, ông mất ngày 9 tháng mười 1799 tại cửa Thị
Nại - Quy Nhơn, tỉnh B́nh Định, thọ 58 tuổi.
Lễ táng Bá Đa Lộc được cử hành trọng thể do Nguyễn Phúc Ánh chủ
tọa và đọc điếu văn. Một lăng mộ của Bá Đa Lộc được Nguyễn Phúc
Ánh cho xây dựng trong khu vườn thuộc giáo phận Chí Ḥa, thuộc
tỉnh Gia Định, cách trung tâm thành phố khoảng ba cây số, sau
này dân chúng gọi là Lăng Cha Cả. Nhưng có sách viết rằng lăng
mộ chính của Bá Đa Lộc nằm ở cửa Thị Nại, Lăng Cha Cả trong nam
chỉ là mộ vọng.
Năm 1801, hai năm sau khi Bá Đa Lộc qua đời, Nguyễn Phúc Ánh
chiếm lại được Phú Xuân, lên ngôi vua lấy niên hiệu là Gia Long
ngày 2 tháng 5 năm 1802, rồi tận dụng thời cơ nhà Tây Sơn suy
yếu sau cái chết của vua Quang Trung, tiến ra Bắc, đánh quân Tây
Sơn tan ră, làm chủ đất nước từ nam chí bắc. (4)
Thời đại mười ba vua nhà Nguyễn bắt đầu
Và để trả thù, Nguyễn Phúc Ánh sai đào mộ Nguyễn Huệ và Nguyễn
Nhạc, giă hài cốt thành bột và bỏ xương sọ vào ṿ, giam cầm
trong ngục tối, và tru diệt các tướng lănh Tây Sơn, gây ra cái
chết thảm thiết của vợ chồng Trần Quang Diệu và Bùi thị Xuân.
Bà Bùi Thị Xuân là một nữ tướng xuất sắc của vua Quang Trung, có
tài luyện voi đánh giặc, được vua Quang Trung phong làm Đô Đốc,
cùng chồng là Trần Quang Diệu, đă hết ḷng pḥ tá Nguyễn Huệ, bị
Nguyễn Phúc Ánh bắt năm 1802 cùng với chồng. Trần Quang Diệu bị
Nguyễn Phúc Ánh xử lột da đến chết, bà Bùi thị Xuân, và đứa con
gái nhỏ bị xử voi giầy cho đến chết.
Theo lịch sử Công giáo th́ dưới thời vua Gia Long, Giáo Hội Công
Giáo có 320.000 giáo dân, 119 Linh mục Việt Nam, 15 nhà truyền
giáo ngoại quốc và 3 Giám mục. Điều đáng chú ư là tám mươi phần
trăm các Linh mục và Giáo chức Việt Nam đều ở miền Bắc.
Vua Gia Long Nguyễn Phúc Ánh mất ngày 19 tháng 12 năm 1820, thọ
58 tuổi, làm vua được 18 năm, có 31 người con.
Hoàng tử Nguyễn Phúc Đảm, sanh năm 1791 tại Gia Định, con của
Nguyễn Phúc Ánh và Bà Trần thị Đặng, lên làm vua lấy niên hiệu
là Minh Mạng, chết năm 1840 thọ 49 tuổi, làm vua được 20 năm, để
lại 142 người con.
Họ Nguyễn, từ Nguyễn Hoàng cho đến Bảo Đại, chín chúa mười ba
vua, đă in dấu ấn lịch sử gần bốn thể kỷ (từ 1558 cho đến 1955
là 397 năm).
Bảo Đại, Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy, vua cuối cùng của triều Nguyễn
chết ngày 31 tháng bẩy năm 1997 tại Pháp, mộ chôn ở Paris.
Tro xương của
Giám mục Bá Đa Lộc được đem về Pháp năm 1983 và cất giữ tại hầm
mộ của Viện Giáo sĩ Truyền đạo nước ngoài Paris.
Sau này, khi
Pháp xâm lược Việt Nam, họ viện dẫn hiệp ước Versailles 1787 để
đ̣i triều đ́nh Huế phải nhân nhượng điều này điều nọ. Nhưng hiệp
ước Versailles không có giá trị pháp lư, v́ triều đ́nh Louis XVI
đă không thực hiện các điều khoản cam kết để giúp Nguyễn Phúc
Ánh (giả dụ là triều đ́nh Pháp thực sự muốn giúp), và nhất là
triều đ́nh Louis XVI đă bị lật đổ hai năm sau đó (1789), trước
khi Nguyễn Phúc Ánh đạt được mục đích của ḿnh. Do đó, triều
Nguyễn không có « nghĩa vụ » thi hành những điều khoản trong
hiệp định Versailles 1787.
Hoàng tử Cảnh tại Versailles
năm 1787
C̣n Hoàng tử Cảnh ?
Năm 14 tuổi (1792) Hoàng tử Cảnh được lập làm Đông Cung, phong
chức Nguyên Súy Quận Công. Năm 1797, Hoàng tử Cảnh theo cha đi
đánh quân Tây Sơn ở Qui Nhơn.
Vua Gia Long đặt Bá-Đa-Lộc là Sư Phó, Ngô Ṭng Chu làm Phụ đạo,
và các thầy học khác, trong số này có Trịnh Hoài Đức, Lê Quang
Định, Phó tướng Tả quân Phạm văn Nhân, Đốc học Nguyễn Thái
Nguyên, Nguyễn Gia Cát, Tiến sĩ nhà Lê.
Ảnh hưởng của Bá Đa Lộc lên Hoàng Tử Cảnh không phải là nhỏ, v́
Hoàng Tử Cảnh ăn ở chung sống với Bá Đa Lộc nhiều năm, được Bá
Đa Lộc dậy dỗ theo đạo Thiên Chúa, cho nên có cảm t́nh với người
Tây Dương, ra mặt che chở cho tất cả những người Âu, bảo vệ cho
đạo Thiên Chúa.
Khi ở bên Pháp, Hoàng tử Cảnh được Hoàng Hậu Marie Antoinette
cho sửa đổi lại trang phục, thay thế quần lĩnh áo the và khăn
vấn, và sai họa sĩ vẽ tranh kỷ niệm.
Ngày 20 tháng 3 năm 1801, sau khi lấy được Thị-nại, Hoàng Tử
Cảnh mắc bệnh đậu mùa, mất năm 22 tuổi, chỉ hai năm sau khi Bá
Đa Lộc qua đời, an táng ở B́nh Định, năm 1809 cải táng về
Dương-xuân, và được truy tụng là Anh Duệ Hoàng Thái Tử.
Hoàng Tử Cảnh kết duyên với Tống thị Quyên, sinh được hai con
trai là Mỹ Đường và Mỹ Thùy. Năm Gia-Long thứ 16 (1818), phong
cho Mỹ Đường là Ứng Ḥa Công, Mỹ Thùy là Thái B́nh Công.
Sau khi Hoàng Tử Cảnh qua đời, có người tố cáo Mỹ Đường thông
gian với mẹ đẻ là Tống thị Quyên. Lê văn Duyệt tâu kín. Vua
Minh-Mệnh sai bắt người vợ của Hoàng Tử Cảnh giao cho Lê văn
Duyệt d́m chết và cấm Mỹ Đường không được chầu hầu. Năm 1824
Nguyễn Phúc Mỹ Đường dâng sớ nói có bệnh, xin nộp trả sách và
ấn, về ở nhà riêng, làm thứ dân.
Năm 1826, Nguyễn Phúc Mỹ Thùy bị quân lính ở Dực Chấn kiện, sắp
giao xuống cho đ́nh thần nghị tội th́ bị bệnh chết, không có con
(có sách viết ông có một con gái).
Cuối cùng, con trai của Mỹ Đường, Nguyễn Phúc Lệ Trung, bị bỏ
tước hiệu Ứng Ḥa Công, giáng xuống là Thái B́nh Hầu.
Kỳ Ngoại Thái
B́nh Hầu Cường Để tên húy là Nguyễn Phúc Vân, đích tôn ḍng
Hoàng Tử Cảnh, đời thứ sáu kể từ vua Gia Long (Mỹ Duệ Anh Cường
Tráng...), được Phan Bội Châu tôn làm Minh chủ Việt-Nam Quang
Phục Hội, và giúp Cường Để xuất du, sang Nhật hoạt động (1906).
Tôi sẽ tiếp tục học hỏi về đoạn sau của lịch sử, tức là từ 1802,
sau khi Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi vua trở thành vua Gia Long, cho
đến chiến thắng Điện Biên năm 1954, buộc người Pháp phải rút
hoàn toàn ra khỏi Việt Nam.
©Tuyết Trần,
France, Xuân Đinh Hợi 2007
Tôi chỉ là người học sử, nếu có sai sót xin vui ḷng chỉ giáo.
Xin cảm ơn trước.
Liên lạc:
tuyet999@aol.com
CHÚ THÍCH
(1) Quan tiền Pháp đầu tiên trong lịch sử nước Pháp là "quan cỡi
ngựa" (Franc à cheval) từ thế kỷ thứ XIV v́ có in h́nh vua Jean
le bon (1350-1364) cỡi ngựa, bằng vàng nhuyễn nặng từ 3,8 đến
3,9g, tương đương với một chỉ vàng ṛng hiện nay. Sau đó, vua
Charles V (1364-1380) ấn định chính xác một quan Pháp nặng
3,826g. Đồng quan này được gọi là "quan đi bộ" (Franc à pied) v́
in h́nh vua đứng trên ngai vàng có phủ trướng.
Năm 1785 vua Louis XVI ấn định đơn vị tiền tệ một quan vàng
(gọi là 1 livre tournois) nặng 0,29g vàng ṛng, c̣n một quan bạc
(gọi là 1 livre) th́ nặng 4,45g bạc ṛng.
Từ năm 1879 đến năm 1928 một quan vàng Pháp được ấn định nặng
0,3225g, nhưng tiền vàng dần dần được thay thế bằng tiền giấy kể
từ năm 1914, khi Đệ nhất thế chiến bắt đầu.
(2) Người bạn Pháp đi cùng với tôi mang ba tên: tên của ông nội
là tên chính của anh ta, tên một người chú chết trận khi c̣n trẻ
tuổi và tên cha.
(3) Giáo sĩ Đắc Lộ Alexandre de Rhodes, con của Bernardin de
Rhodes và bà Jeanne de Tolède, sinh ngày 15 tháng 1 năm 1591,
qua đời ngày 05 tháng 11 năm 1660 tại Isfahan, Ba Từ (Persian),
cho nên không thể nhầm lẫn với Giáo sĩ Bá Đa Lộc sanh năm 1741,
tức là 81 năm sau.
(4) Các quốc
hiệu chính thức của Việt Nam theo ḍng lịch sử là Văn Lang , Âu
Lạc, Vạn Xuân, Đại Cồ Việt ( từ thời nhà Đinh năm 968 đến đời
vua Lư Thánh Tông năm 1054), Đại Việt ( từ thời nhà Lư đến năm
1804 , nhưng không liên tục v́ nhà Hồ đổi thành Đại Ngu năm
1400, cho đến khi nhà Hậu Lê giành lại độc lập cho Việt Nam,
quốc hiệu của Việt Nam đổi lại thành Đại Việt. Nhà Nguyễn Tây
Sơn cũng gọi tên nước là Đại Việt.
Việt Nam được
Vua Gia Long Nguyễn Phúc Ánh ban hành là quốc hiệu chính thức.
Nhà Thanh chính thức tuyên phong tên Việt Nam năm 1804. Theo các
tác giả nghiên cứu khác th́ tên gọi "Việt Nam" đă xuất hiện từ
thế kỷ 14. Qua thế kỷ 15 hai chữ "Việt Nam" được t́m thấy trong
các tác phẩm của Nguyễn Trăi (1380-1442) và của trạng Tŕnh
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585). Vua Minh Mạng công bố quốc hiệu
mới Đại Nam vào ngày 15 tháng 2 năm 1839. Quốc hiệu Đại Nam tồn
tại đến năm 1945.
®
"Khi phát hành lại thông tin
từ trang này cần phải có sự đồng
ư của tác giả
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com"
.....
ERCT nhận bài bổ sung
từ tác giả ngày 5 tháng 4 năm 2007
- lên mạng ngày 6/4/2007
|
|