Loài voi đă từng di cư sang Nhật Bản thời
nguyên thủy nhưng đă bị tuyệt chủng do không hợp với điều kiện khí
hậu, địa h́nh của quần đảo này. Trong thời trung đại, có không ít
lần voi được chở sang Nhật Bản, nhưng sự kiện gây sự chú ư lớn nhất
là việc hai con voi Việt Nam được tàu buôn Trung Quốc chở sang Nhật
Bản năm 1728. Có lẽ điểm khác biệt lớn nhất, đồng thời là lí do
chính khiến sự kiện này được ghi chép chi tiết hơn các lần khác là
hai con voi Việt Nam không phải do vua chúa hay lái buôn nước ngoài
cống tiến mà được chở sang Nhật Bản theo yêu cầu của Tướng quân
Tokugawa Yoshimune (Đức Xuyên Cát Tông, 1684-1751), vị tướng quân
nổi tiếng bởi tính quyết đoán, quan điểm thực học và các chính sách
cải cách.
Trong bài báo cáo này, trên cơ sở phân tích
các tư liệu đương thời, tác giả muốn phác họa lại hành tŕnh và cuộc
sống của voi Việt Nam trên đất Nhật và những ảnh hưởng của sự kiện
này đến đời sống xă hội ở Nhật Bản đương thời.
1. Voi sang Nhật Bản
Trong lịch sử Nhật Bản có không ít lần voi được
các thuyền buôn Đông Nam á, Trung Quốc, phương Tây chở sang Nhật
Bản. Voi được coi là một cống phẩm quí giá và việc rước voi được coi
là một sự kiện trọng đại đương thời do loài voi vốn không sinh sống
được ở Nhật Bản. Trên thực tế, trong các di chỉ khảo cổ học thời
nguyên thủy ở Nhật Bản, người ta đă t́m thấy dấu tích xương của một
số loài voi, nhưng các loài này đều không tồn tại lâu dài trong điều
kiện khí hậu, địa h́nh của quần đảo Nhật Bản.
Trong thời kỳ Cánh tân (pléistocène) hay c̣n
gọi là thời Băng hà (khoảng 2,5 triệu đến 1 vạn năm trước), đă diễn
ra 4 lần băng hà, khí hậu lạnh bao trùm toàn bộ trái đất. Vào đầu
thời Cánh Tân, nhiệt độ trung b́nh ở Nhật Bản thấp hơn hiện nay 7, 8
độ, mực nước biển thấp hơn khoảng 100 m khiến cho Nhật Bản nối liền
với lục địa châu á ở hai đầu bắc nam, c̣n biển Nhật Bản ngày nay chỉ
như một hồ nước trong lục địa. Vào thời ḱ băng hà thứ nhất, loài
voi ma mút đă di chuyển từ vùng Siberia đến cư trú ở đảo Hokkaido
(Bắc Hải Đạo). Dấu tích của voi ma mút được t́m thấy ở các di chỉ
như Shirataki (Bạch Long), Tarugishi (Tôn Ngạn)... Tiếp đó, ở khu
vực Kanto người ta đă phát hiện ra dấu tích của loài voi Java
(Indonesia) và ấn Độ sang cư trú ở Nhật Bản vào thời ḱ băng hà thứ
hai. Sang thời ḱ băng hà thứ ba, loài voi Naumann [1]
từ Đông á đă sang cư trú ở Nhật Bản.
Đến lần băng hà thứ tư, do biến động của vỏ
trái đất, bán đảo Triều Tiên đă được h́nh thành. Cuối thời kỳ Cánh
tân đến đầu thời kỳ Toàn tân (holocène, khoảng 1 vạn năm trước đến
nay), khí hậu trở nên ấm áp, mực nước biển dâng lên làm cho Nhật Bản
dần tách ra khỏi lục địa châu á và trở thành một quần đảo như ngày
nay. Người ta đă phát hiện ra dấu tích hoá thạch của loài voi Aomori
(Thanh Sâm) thời ḱ này có kích thước nhỏ hơn các loài trước. Nhiều
khả năng đây là một loại biến thể của voi Naumann cho phù hợp với
điều kiện môi trường mới sau khi Nhật Bản tách ra khỏi lục địa. Tuy
nhiên trong các di chỉ khảo cổ học có niên đại muộn hơn, không thấy
dấu tích của loài voi này nữa. Có lẽ những thay đổi của điều kiện tự
nhiên đă khiến loài voi bị tiệt chủng.
Ghi chép sớm nhất phản ánh việc tiến voi sang
Nhật Bản là vào năm Ouei (ứng Vĩnh) thứ 15 (1408), thuyền Java đă
chở voi cập bến Kohama (Tiểu Tân) thuộc phiên Sakasa (Nhược Hiệp)
tức tỉnh Fukui (Phúc Tỉnh) ngày nay. Tiếp đó, năm Tenshou (Thiên
Chính) thứ 2 (1574) thuyền của lái buôn Minh (Trung Quốc) đă chở voi
đến cảng Hakata (Bác Đa) thuộc tỉnh Fukuoka (Phúc Cương) ngày nay.
Ba năm sau đó (1577), lại có thuyền chở voi sang cảng Usuki ( thuộc
phiên Bingo (Phong Hậu) tức tỉnh Ooita (Đại Phần) ngày nay. Thuyền
chở voi Việt Nam sang Nhật Bản được ghi lại vào năm Keichou (Khánh
Trường) thứ 7 (1602), thời Tướng quân thứ nhất của Mạc phủ Tokugawa
là Ieyasu (Đức Xuyên Gia Khang, 1542-1616). Sau này, năm Bunkyu (Văn
Cửu) thứ 3 (1863), một tàu thủy của Mỹ cũng đă chở voi đến cảng
Yokohama (Hoành Tân).
Nhưng lần tiến voi sang Nhật Bản được phản ánh
nhiều nhất trong tư liệu là vào tháng 6 năm Kyoho (Hưởng Bảo) thứ 13
(1728). Hai con voi Việt Nam, một con đực và một con cái, đă được
một thuyền buôn Trung Quốc chở từ Quảng Nam sang Nhật Bản và cập bến
Nagasaki (Trường Ḱ). Có lẽ điểm khác biệt lớn nhất, đồng thời là lí
do chính khiến sự kiện này được ghi chép lại chi tiết hơn các lần
khác là hai con voi Việt Nam không phải do vua chúa hay lái buôn
nước ngoài cống tiến mà được chở sang Nhật Bản theo yêu cầu của
Tướng quân Tokugawa Yoshimune (Đức Xuyên Cát Tông, 1684-1751).
2. Tướng quân Tokugawa Yoshimune
Trong lịch sử Nhật Bản, Yoshimune là vị Tướng
quân thứ 8 của Mạc phủ Tokugawa (tại vị 1715-1745). Khi c̣n là phiên
chủ phiên Kishuu (Kỉ Châu) thuộc miền nam bán đảo Kii (Kỉ Y) ngày
nay, ông đă bộc lộ năng lực lănh đạo và tính quyết đoán. Với tư cách
là Tướng quân, ông là một nhà cải cách theo quan điểm thực chứng đầy
nhiệt huyết nhưng lại sống rất giản dị và tiết kiệm. Ông đă tiến
hành một loạt các cải cách lớn được gọi là Kyouho no kaikaku (Hưởng
bảo chi cải cách, tức Cải cách thời Kyouho 1716-1736) nhằm ổn định
t́nh h́nh chính trị, xă hội và tài chính của Mạc phủ.

H1: Tướng quân Tokugawa
Yoshimune
Các sử gia đánh giá chính sách cải cách của
Yoshimune là sự tiếp tục các nỗ lực cải cách của Tướng quân thứ 4
Tokugawa Ietsuna (Đức Xuyên Gia Cương, 1641-1680) và thứ 5 Tokugawa
Tsuneyoshi (Đức Xuyên Cương Cát, 1646-1709) và là những cải cách
thành công nhất dưới thời Mạc phủ Tokugawa. Trong các cải cách
Kyouho, phải kể đến chính sách khuyến khích khai hoang, cải cách
Ashidaka no sei (Túc cao chi chế, tức Cải cách quan chế bằng cách
tin dùng người tài không kể tầng lớp xuất thân), Kujikata
osadamegaki (Công sự phương ngự định thư, tuơng đương với Bộ luật
của Mạc phủ, gồm 2 tập: tập 1 có 81 điều luật, tập 2 qui định các
thủ tục xử án), lập các Mokuan bako (Mục an tương, tức hộp thư góp ư
của dân chúng) tại các địa phương, tháo bỏ một phần lệnh cấm nhập
khẩu sách báo từ Trung Quốc và phương Tây... Đặc biệt ông được dân
chúng gọi là Kome no shougun (Mễ chi tướng quân) do chính sách điều
tiết giá gạo nhằm ổn định đời sống của nông dân và khuyến khích sản
xuất.
Là một Tướng quân, Yoshimune nổi tiếng là người
tâm huyết với việc củng cố và nâng cao khả năng quân sự của giới vơ
sĩ. Nghe nói các nước lân bang có kĩ thuật huấn luyện voi chiến,
Yoshimune muốn tận mắt chứng kiến voi và khả năng khiển voi của quản
tượng nước ngoài nên đă yêu cầu một lái buôn người Trung Quốc là Ngô
Tử Minh t́m kiếm voi ở Trung Quốc, Xiêm và các nước lân cận [2]
. Đáng tiếc là hiện nay chúng tôi chưa t́m được tư liệu về quá tŕnh
mua bán voi diễn ra ở Việt Nam, chỉ biết rằng một năm sau khi
Yoshimune chính thức đặt hàng, năm 1728, thuyền buôn Trung Quốc đă
chở 2 con voi của Quảng Nam sang Nagasaki.
3. Voi đến Nagasaki
Từ Nagasaki, voi được chở đến Kyoto và Edo để
ra mắt triều đ́nh và Tướng quân Tokugawa Yoshimune (Đức Xuyên Cát
Tông, 1684-1751). Hành tŕnh của đoàn rước voi được ghi lại trong
nhiều tư liệu như Getsudou kenbunshuu (Nguyệt đường kiến văn tập),
Yutokuinden gojikki (Hữu Đức viện điện ngự thực kỉ), Goshokusho
Kanbo shuusei (Ngự xúc thư Khoan Bảo tập thành), Annam kiryakugou
(An Nam kỷ lược cảo)... và nhiều tư liệu địa phương mà tiêu biểu là
tư liệu của Okamoto Toshiji (Cương Bản Tuấn Nhị), một gia đ́nh chức
sắc cấp quận ở thành phố Nishimiya, phiên Amagasaki (Ni Ḱ), nay là
khu vực đông nam tỉnh Hyogo, giáp giới phủ Osaka. Sau đây, thông qua
việc giới thiệu và phân tích một số đoạn tư liệu chính, chúng tôi
muốn phác họa lại hành tŕnh của voi Việt Nam trên con đường từ
Nagasaki đến Edo.
Ngày 13 tháng 6 năm Kyouho thứ 13 (1728),
thuyền nhập cảng. Thuyền trưởng thuyền từ Quảng Nam là Trịnh Đại
Thành, quản tượng Đàm Số (49 tuổi), Đàm Cẩm (31 tuổi), thông ngôn
người Chương Châu là Lư Cẩm Minh (58 tuổi) và người Quảng Đông là
Trần A (38 tuổi)... [3]
Ngày 13 tháng 6 năm 1728, thuyền chở voi từ
Quảng Nam đă cập bến Nagasaki. Thuyền trưởng Trịnh Đại Thành (có tư
liệu chép là Trịnh Đại Uy) và hai thông ngôn là người Trung Quốc,
nhưng hai quản tượng là người Quảng Nam. Mỗi người chuyên quản một
con voi. Việc đưa voi từ thuyền lên bờ được chuẩn bị rất kĩ lưỡng
trong 6 ngày. “Sáng ngày 19 tháng 6, người ta bắc cầu rộng 4 gian [4]
từ thuyền sang bến Oonamito (Đại Ba Hộ). Thuyền trang trí kiểu Nam
Kinh (Trung Quốc), mặt trước của thuyền không thay đổi ǵ. Trên sàn
thuyền và cầu được đổ thêm đất và trải cỏ. Mỗi quản tượng cưỡi trên
một con voi, tay cầm gậy, vừa gơ vừa điều khiển voi tiến lùi khi di
chuyển...” . [5]
Tháng 5 năm sau, một quyển sách viết về voi gọi
là Zoushi (Voi chí) đă được xuất bản. Trong cuốn sách này có những
đoạn mô tả tỷ mỉ về hai con voi khi mới đến Nagasaki.
... Ngày 19 voi được đưa đến Toujin ryokan
(Đường nhân lữ quán) trong Juuzenji (Thập Thiện tự). Voi do người
Nam Kinh mang từ nước man ở Quảng Nam đến. Voi đực 7 tuổi... cao 5
thước 7 thốn, thân dài 7 thước 4 thốn... Voi sống lâu, da có nếp
nhăn, ít lông. Voi biết khuỵu chân trước để người trèo lên... Voi đi
nhanh hơn ngựa nhiều, lội ngập ḿnh trong nước. Voi cái 5 tuổi...
thân dài khoảng 5 thước, chiều cao 4 thước 7 thốn [6]...
Người Quảng Nam kể rằng voi mẹ của nó to đến 7 gian... [7]
Sau khi đặt chân đến Nagasaki, do sự thay đổi
đột ngột của thức ăn, khí hậu và môi trường sống, lại đúng vào đợt
mưa kéo dài nên con voi cái đổ bệnh và chết sau đó 3 tháng. “Voi
cái này năm ngoái đến Nagasaki, do ăn nhiều đồ ngọt quá đổ bệnh,
trên lưỡi bị đau, quản tượng chữa trị mà không được, may có người
hào kiệt chữa khỏi bệnh trên lưỡi. Voi khoẻ lại vẫy đuôi như vui
mừng, nhưng cuối cùng vẫn chết...” [8]. Nửa năm
sau, ngày 13 tháng 3 năm 1729, con voi đực c̣n lại mới rời khỏi
Nagasaki để đi Kyoto.
4. Voi từ Nagasaki đến Amagasaki
Để chuẩn bị cho hành tŕnh của voi, ngày mồng 1
tháng 3, phiên Nagasaki đă gửi okakitsuke (ngự thư phó, tức thư
truyền mệnh lệnh của Mạc phủ) cho phiên trưởng các phiên trên đường
từ Nagasaki đến Edo về việc đón rước voi. Trong thư có dặn:
Sắp tới, một con voi sẽ từ bản phiên đi đến
Sesshuu (Nhiếp châu)[9] , Osaka... Voi này không
thể đi nhiều nên có thể sẽ phải dừng chân ở nhà dân, ngoài các trạm
dịch. Khi đó phải chuẩn bị chỗ như chuồng ngựa cho voi nghỉ tạm một
đêm... Voi có thể lội qua phần lớn các con sông, nhưng cần hướng dẫn
qua chỗ nước nông. Chỗ nào ngựa qua được th́ không cần chuẩn bị
thuyền. Không được dùng thuyền cỡ nhỏ. Khi vượt sông nước siết, voi
có thể lên thuyền cỡ lớn chở được 3-4 con ngựa. Bên ngoài chỗ nghỉ
của voi cần chuẩn bị thức ăn như cỏ, lá tre, cháo gạo... [10]
Ngày 9 tháng 3, ofuregaki (ngự xúc
thư, một loại thông báo của Mạc phủ hoặc quan lại cho các cấp địa
phương và dân chúng) được ban bố. Trong thông báo có ghi rơ:
Voi này theo lệnh trên được đưa đến Edo.
Lương thực, ngựa và người phục vụ phải được chuẩn bị không trễ nải.
Cần tính toán trường hợp trên đường đến Osaka gặp mưa to thời tiết
khắc nghiệt, hay khi lên thuyền gặp sóng lớn. Có thể lường trước
việc đi lại chậm đôi ba ngày. Mỗi ngày voi đi được 5-6 lí [11]
th́ phải nghỉ chân. Trường hợp kéo dài hành tŕnh sẽ có thông báo
của các chức sắc trạm dịch...
1. Việc đi thuyền phải chuẩn bị loại
thuyền chở được 5 con ngựa. Khi lắp ván cần tính toán, xếp bằng các
tấm gỗ dày 6,7 thốn, phía trên phủ đất mỏng. Khi đưa voi từ dưới đất
lên thuyền cũng dùng đường đi ghép ván và phủ đất như vậy, sao cho
mặt đất và thuyền phải liền nhau.
2. Cầu bằng đất, cầu ván mỏng, cầu
đá mỏng cũng cần chuẩn bị như trên. Cầu bằng đá cao cần cân nhắc sao
cho voi đi được.
3. Về nơi voi nghỉ đêm, nếu là
chuồng ngựa, phải rộng cỡ 2 con ngựa, tháo dỡ ván ngăn, san bằng sàn
đất... Nếu không có chuồng ngựa cần dựng chuồng chắc chắn. Chiều
rộng 6 chiếu [12] , cửa vào không cao đủ 8, 9
thước th́ voi khó qua được. Người đi cùng không có chỗ ngủ th́ có
thể bố trí thêm trong chuồng voi.
4. Nếu người xem voi ầm ỹ sẽ khiến
voi kinh động, đêm voi ngủ mà c̣n ghé xem sẽ làm voi mất giấc đau
ốm, cần để chuồng voi ở nơi yên tĩnh.
Những điều trên cần biết và thực hiện.
Về lương thực cho voi.
1. Rơm mới 200 cân
2. Lá tre 150 cân
3. Cỏ 100 cân, gồm lá sắn kuzu và cỏ
hime
4. Chuối 2 cây cắt sát gốc
5. Gạo chiêm 8 thăng [14]
, trong đó 4 thăng nấu thành cháo
6. Nước đun sôi
7. Bánh bao không nhân 50 cái
8. Quưt 50 quả
9. Cam kunenbo 30 quả
Những thứ trên cần chuẩn bị trước...[15]
Ngày 13 tháng 3, voi rời khỏi Nagasaki. Ngày
14, cơ quan hành chính phiên Nagasaki ở làng Yagami (Thỉ Thượng) nay
là thành phố Nagasaki, gửi cho các phiên mà voi sẽ đi qua sakibure
(tiên súc, tức thư nhắc nhở) báo trước về việc chuẩn bị rước voi.
Ngày 21 tháng 3 phiên Shimonoseki gửi thông báo về việc chuẩn bị
chuồng voi. Ngày 22 voi rời Shimonoseki. Lúc này phiên Amagasaki đă
bắt đầu chuẩn bị cho chặng đường tiếp theo của voi. Ngày 19, phiên
Amagasaki gửi thông báo cho các quận trong phạm vi phiên. Ngày 22,
thông báo đến tay các trưởng thôn. Không những thế, các quan địa
phương c̣n cử người đi nghe ngóng động tĩnh và báo cáo về t́nh h́nh
thực hiện lệnh. Trong tư liệu của ḍng họ Okamoto c̣n lưu giữ những
báo cáo từ các làng Besho (Biệt Sở), Okura (Tiểu Thương), Omichi (Vĩ
Đạo), Himeji (Cơ Lộ), Ookubo (Đại Cửu Bảo), Akaishi (Minh Thạch)...
Việc thư từ trao đổi giữa các cấp địa phương diễn ra liên tục cho
thấy thái độ cẩn thận đối với sự kiện này. Có lẽ việc voi cái bị
chết ngay khi đến nơi đă khiến Mạc phủ và các quan địa phương lo
lắng, hơn nữa đoàn rước voi đi qua một chặng đường dài khoảng 1200
km đă thu hút sự ṭ ṃ của dân chúng dọc đường.
5. Voi đến Osaka va Kyoto
Ngày 15 tháng 4, chức sắc Osaka ban bố thông
báo về việc chuẩn bị rước voi với nội dung rất cụ thể:
1. Vào ngày voi đi qua, từ đường ven
sông, biển, đến đường qua ruộng đồng, các ngă rẽ hay phố xá đều phải
chăng dây chặn đường rộng 5 gian. Phải nhắc nhở người xem voi giữ
trật tự sau hàng dây chăng.
2. Khi đi qua đường, chức dịch làng
phải canh pḥng cẩn mật không cho dân chúng vượt qua dây chăng.
3. V́ voi là thú hiếm nên có thể có
người quá khích muốn xem, cần chặn lại. Trong làng không được để cho
dân xem quá đông.
4. Trên ruộng đồng phải cẩn thận
không để cho người quấy rối.
5. Trên đường voi đi phải nhắc nhở
dân chúng không để chó mèo chạy ra.
6. Không cho ḅ ngựa đi đến chỗ dân
chúng xem voi...
7. Chuông, kẻng, trống... các hàng
thợ rèn, hàng bán dầu, quán rượu... thường tạo âm thanh để buôn bán
đều bị cấm từ sáng cho đến khi voi đi qua.
8. Những hàng có đun khói cũng phải
tuân theo lệnh như trên.
9. Khi voi đi qua phải giữ yên lặng.
10. Khi voi nghỉ lại không được đến
gần xem.
11. Vào ngày voi qua, khi voi chưa đi
cũng phải dắt ḅ ngựa đi ṿng từ làng Nagasu (Trường Châu) qua làng
Namba (Nạn Ba), không cho đi vào đường voi sẽ qua.
12. Đường voi đi cấm thả diều.
13. Những nơi buông phên, rèm phải
buộc lên.
14. Đường qua phố xá, ngă tư, thương
nhân phải tránh sau dây chăng.
Những điều trên phải lưu tâm trước sau khi
voi đi qua. Cần chuẩn bị và thông báo trước. Lưu ư dầu thắp để không
gây hoả hoạn... [16]
Ngày 20 tháng 4, voi đến Osaka.
Ngày 28 tháng 4, voi được đưa vào Gosho (Ngự sở, tức Hoàng cung ở
Kyoto) yết kiến Thiên Hoàng Nakamikado (Trung Ngự Môn, 1701-1737) và
Pháp Hoàng Reigen (Linh Nguyên, 1654-1732). Trong Edo meisho zukai
(Giang hộ danh sở đồ hội) có chép rằng để ra mắt Thiên Hoàng và Pháp
Hoàng, voi được ban tước Quảng Nam ṭng tứ vị bạch tượng (tức voi
trắng Quảng Nam tước ṭng tứ phẩm). Nhưng cuốn sách này được viết
năm Bunsei (Văn Chính) thứ 12 (1829), tức là sau đó 100 năm, c̣n các
tư liệu thế kỉ XVIII không ghi về việc ban tước cho voi nên c̣n có ư
kiến nghi ngờ về chi tiết này.
Dù sao th́ việc voi ra mắt triều đ́nh là một sự
kiện trọng đại và gây ấn tượng rất mạnh mẽ. Thiên Hoàng Nakamikado,
Pháp Hoàng và các công gia đă làm thơ waka (hoà ca) vịnh voi. Bài
thơ của Thiên Hoàng Nakamikado được chép lại rằng: “Toki shi are wa,
hito no kuni naru, ketamono mo, kefu kyuujuu ni miru ureshisa” [17]
(tạm dịch nội dung là: cảm động thay khi thấy loài thú lớn hy hữu
của nước ngoài).
6. Voi ở Edo
Cuối tháng 4 voi rời Kyoto, đi tiếp về phía
đông. Hành tŕnh của voi đi men theo con đường ven biển (Đông hải
đạo) hay đi theo đường núi (Trung sơn đạo) vẫn c̣n nhiều tranh cải
do c̣n thiếu tư liệu. Dựa trên một số tư liệu địa phương và các
thông báo được phiên Nagasaki gửi từ tháng 2, nhiều người cho rằng
voi đă đi qua các địa danh như cây cầu đất Nakashima (thuộc thành
phố Nagoya, tỉnh Aichi); Torii (thuộc tỉnh Nagano), qua chân núi
Fuji (tỉnh Shizuoka), rồi vượt qua Hakone, Odawara, Hirazuka (tỉnh
Kanagawa), và đến Yokohama vào ngày 4 tháng 5.
Ngày 25, voi đến Edo và được đưa vào Hamagoden
(Tân Ngự điện), nay thuộc cung Hamarikyuu. Ngày 27, Tokugawa
Yoshimune cho gọi các quan từ ngũ vị trở lên vào thành Edo cùng ngắm
voi. Thế là sau hơn 2 tháng (73 ngày) hành tŕnh ṛng ră, voi đă
được ra mắt Tướng quân. Tương truyền sau đó Yoshimune c̣n đến thăm
voi mấy lần, quan sát quản tượng khiển voi và đích thân mang thức ăn
cho voi.

H2: Tranh vẽ voi đực do người
Quảng Nam điều khiển
Nhưng rồi mối quan tâm đối với voi của
Yoshimune giảm sút, thay cho nỗi lo lắng về chi phí sinh hoạt tốn
kém của voi. V́ vậy, tháng 3 năm 1730, Mạc phủ quyết định bán lại
voi cho dân chúng. Việc quyết định bán lại voi cho dân chúng có căn
nguyên của nó. Hành tŕnh của voi từ Nagasaki đến Edo không chỉ
khiến các chức sắc địa phương bận rộn mà càng ngày càng gây sự chú ư
đặc biệt trong dân chúng. Các sách, thơ mô tả voi, tranh khắc trên
ngói, tấm chắn chuôi kiếm... có h́nh voi được bán rất chạy. Người ta
đồn rằng voi là loài thú hiếm linh thiêng, chỉ cần thấy voi có thể
xua đuổi được bệnh tật. Thậm chí trên một số bức tranh Phật, người
ta vẽ cảnh Phổ Hiền Bồ Tát ngự trên lưng voi. Nhưng trên thực tế,
không có ai dám bỏ tiền ra mua voi. V́ vậy, voi được Mạc phủ nuôi
tại Hamagoden trong 13 năm. Để giảm bớt chi phí nuôi voi, người
chuyên cung cấp thức ăn cho voi là Gensuke (Nguyên Trợ), được sự
đồng ư của Mạc phủ, đă đem phân voi phơi khô, gọi là “zou dou”
(tượng động), ra bán ở vùng Yodobashi như một loại thuốc “trị bệnh
đậu mùa”.
Voi càng lớn chi phí càng tốn kém, sức khoẻ và
tính t́nh không ổn định. Tháng 4 năm Kanho (Khoan Bảo) nguyên niên
(1741), voi nổi cơn hung dữ dùng ṿi quật chết người quản tượng. Sự
việc này khiến Mạc phủ quyết định trao hẳn voi cho Gensuke đưa về
nuôi ở làng Nakano (Trung Dă), nay là quận Nakano, thuộc thủ đô
Tokyo. Chuồng nuôi voi được đặt ở khu vực công viên Asahigaoka
Jidoukan ngày nay. Gần đó, Gensuke mở quán bán “zou mantou” (bánh
bao voi). Lúc đầu người ta nô nức đến xem voi và mua bánh. Nhưng rồi
lượng người xem thưa dần, thức ăn cho voi v́ thế kém đi khiến voi
đau yếu. Tháng 12 năm 1742 voi chết. Mạc phủ thu lại tấm da voi, c̣n
xương đầu, ngà và da ṿi voi ban cho Gensuke. Gensuke tiếp tục đem
ra trưng bày để thu hút khách xem, nhưng sau đó mắc bệnh liệt giường
rồi chết.
Khoảng 30 năm sau, năm Anei (An Vĩnh) thứ 8
(1779), Hoà thượng Yuugen (Hữu Nham), chùa Housen (Bảo Tiên) đứng ra
mua lại xương đầu và ngà voi của con cháu Gensuke với giá 17 lượng
vàng và trưng bày tại chùa để thu hút khách thập phương. Năm Showa
(Chiêu Hoà) thứ 15 (1940), xương đầu voi được trưng bày tại Triển
lăm Thái B́nh Dương ở Yokohama. Nhưng sau đó 5 năm chùa Housen bị
cháy trong một trận không tạc và bộ xương này cũng bị tiêu huỷ mất.
B1: Những sự kiện chính về hành tŕnh của
voi ở Nhật Bản [18]
TT
Thời gian Sự kiện
1. 1728/6/13 Thuyền
chở voi Việt Nam vào cảng Nagasaki
2. 1728/6/19 Voi
được đưa lên bờ
3. 1728/9
Voi cái chết ở Nagasaki (5 tuổi)
4. 1729/3/1 Phiên
Nagasaki gửi thư truyền mệnh lệnh của Mạc phủ cho quan lại
các phiên trên đường đến Osaka về việc voi sẽ được đưa đến Osaka
5. 1729/3/9 Thông
báo về việc chuẩn bị đón voi được phiên Nagasaki
gửi đến các địa phương
6. 1729/3/13 Voi đực
rời Nagasaki
7. 1729/3/14 Báo cáo
về việc voi đă đến nơi được gửi từ làng Yagami
8. 1729/3/16 Thư báo
cáo của quan địa phương thông báo về việc đón voi
9. 1729/3/19 Phiên
Amagasaki gửi thông báo cho dân chúng
10. 1729/3/21 Báo cáo
về việc chuẩn bị chuồng cho voi ở Shimonoseki
11. 1729/3/22 Voi rời
Shimonoseki
12. 1729/3/22 Thông
báo của phiên Amagasaki được các quận gửi về các làng
13. 1729/4/11 Zabaro
Uemon, người làng Besho, gửi thư báo cáo t́nh h́nh
14. 1729/4/11 Thông
báo về kích cỡ của voi và về người phục vụ
15. 1729/4/13 Báo cáo
từ cảng Hyogo được gửi đến
16. 1729/4/13 Báo cáo
về việc người ở Ookubo kể chuỵện đă gặp voi
17. 1729/4/17 Các báo
cáo gửi từ làng Higashinita và Nishinita
18. 1729/4/18 Báo cáo
gửi từ làng Hamata
19. 1729/4/18 Thông
báo của các địa phương gửi đến Osaka về việc voi sắp tới Osaka
20. 1729/4/18 Voi dừng
ở Hyogo
21. 1729/4/19 Voi dừng
ở Amagasaki
22. 1729/4/19 Thư báo
cáo của làng Bessho về việc chuẩn bị lương thực
23. 1729/4/20 Voi đến
Osaka
24. 1729/4/20 Voi vào
Kyoto, ra mắt triều đ́nh
25. 1729/5/4 Voi đến
Yokohama
26. 1729/5/25 Voi đến
Edo, ở tại Hamagoden
27. 1729/5/27 Voi vào
thành Edo, ra mắt Tokugawa Yoshimune
28. 1730/3
Mạc phủ rao bán voi
29. 1741/4
Trao voi cho Gensuke nuôi ở Nagano
30. 1742/12 Voi đực
chết (22 tuổi)
Như vậy, hơn 2 tháng hành tŕnh của voi từ
Nagasaki đến Edo, sự có mặt của voi Quảng Nam ở Nhật Bản trong gần
15 năm là một sự kiện trọng đại thời Tokugawa Yoshimune. Mối quan
tâm của triều đ́nh và Tướng quân về loài thú lạ và cách điều khiển
nó, việc chuẩn bị kĩ lưỡng cho hành tŕnh rước voi đi qua gần một
nửa nước Nhật, sự ṭ ṃ của dân chúng đối với voi, các dịch vụ và
hàng hóa xuất hiện xung quanh sự hiện diện của voi... được phản ánh
một cách sinh động qua sử liệu. Qua đó chúng ta bắt gặp những tính
cách rất Nhật Bản đă từng được nhiều nhà nghiên cứu phân tích như
một phần động lực cho sự phát triển thần ḱ của nước Nhật thời cận
hiện đại.
.........................
[1] Đây là tên của loài voi
sống phổ biến ở Nhật Bản và các nước Đông á khoảng 30 vạn năm trước
đến 1,5 vạn năm trước. Loài voi này nhỏ hơn và sống ở những vùng khí
hậu ấm áp hơn so với voi ma mút. Tên của loài voi này được đặt theo
tên của nhà khoa học người Đức Edmund Naumann (1854-1927). Ông là
người được chính phủ Nhật Bản mời sang với tư cách là giáo viên của
Đại học Đế quốc Tokyo (tiền thân của Đại học Tokyo ngày nay). Ông đă
đóng góp nhiều công tŕnh nghiên cứu quan trọng về địa chất, địa lí
và hóa thạch của Nhật Bản.
[2] Điều này được ghi lại trong
các tư liệu như Wakankibun (Ḥa Hán ḱ văn), Tsukou ichiran (Thông
cảng nhất lăm)...
[3] Amagasaki shishi
henshuushitsu (Pḥng biên tập lịch sử thành phố Amagasaki): Chiiki
shi kenkyu (Nghiên cứu lịch sử địa phương), số 2, tập 2, 10/1972,
tr. 68
[4] Gian (ken) bằng 6 thước,
tức khoảng 1,8m. Do đó 7 gian tương đương 12,6 m.
[5] Amagasaki shishi
henshuushitsu (Pḥng biên tập lịch sử thành phố Amagasaki): Chiiki
shi kenkyu (Nghiên cứu lịch sử địa phương), số 2, tập 2, 10/1972,
tr. 68
[6] Thước (shaku) tương đương
30cm. Thốn (sun) bằng 1/10 thước, tức khoảng 3cm. Như vậy, voi đực
cao khoảng 1,7m, thân dài 2,2m; voi cái dài 1,5m, cao 1,4m.
[7] Saitama hakubutsukan (Bảo
tàng Saitama): Tokubetsu ten Shougun Yoshimune to Kyutei “ga” - Zou
ga yuku (Triển lăm đặc biệt: Tướng quân Yochimune và Cung đ́nh
“nhă”: Rước voi), Tokyo 2000. tr. 76
[8] Saitama hakubutsukan (Bảo
tàng Saitama): Tokubetsu ten Shougun Yoshimune to Kyutei “ga” - Zou
ga yuku (Triển lăm đặc biệt: Tướng quân Yochimune và Cung đ́nh
“nhă”: Rước voi), Tokyo 2000. tr. 76
[9] Một phần tỉnh Hyogo và phủ
Osaka ngày nay
[10] Amagasaki shishi
henshuushitsu (Pḥng biên tập lịch sử thành phố Amagasaki): Chiiki
shi kenkyu (Nghiên cứu lịch sử địa phương), số 2, tập 2, 10/1972,
tr. 69
[11] 1 lí (ri) tương đương 3,9
km, nên trung b́nh một ngày voi đi được trên dưới 20 km.
[12] Chiếu (tatami/jou), đơn
vị đo mặt sàn truyền thống của Nhật Bản. Kích thước trung b́nh của
tatami ở miền Tây là 190cmx95cm. Kích thước ở miền Đông hẹp hơn
174cmx87cm.
[13] Nguyên văn là Taitoumai
(Thái Đường mễ), tức giống gạo dài Indica được nhập từ Trung Quốc
vào Nhật Bản từ thế kỉ XIV. Đây chính là giống lúa chiêm rất phổ
biến ở miền nam sông Dương Tử (Trường Giang) và Việt Nam từ thế kỉ
XII.
[14] Thăng (shou) tương đương
1,8l
[15] Amagasaki shishi
henshuushitsu (Pḥng biên tập lịch sử thành phố Amagasaki): Chiiki
shi kenkyu (Nghiên cứu lịch sử địa phương), số 2, tập 2, 10/1972,
tr. 71
[16] Amagasaki shishi
henshuushitsu (Pḥng biên tập lịch sử thành phố Amagasaki): Chiiki
shi kenkyu (Nghiên cứu lịch sử địa phương), số 2, tập 2, 10/1972,
tr. 78.
[17] Saitama hakubutsukan (Bảo
tàng Saitama): Tokubetsu ten Shougun Yoshimune to Kyutei “ga” - Zou
ga yuku (Triển lăm đặc biệt: Tướng quân Yochimune và Cung đ́nh
“nhă”: Rước voi), Tokyo 2000. tr. 69.
[18] Bảng được lập theo các tư
liệu: Amagasaki shishi henshuushitsu (Pḥng biên tập lịch sử thành
phố Amagasaki): Chiiki shi kenkyu (Nghiên cứu lịch sử địa phương),
số 2, tập 2, 10/1972; NHK promotion: Shogun Yoshimune to sono
jidaiten (Triển lăm về Tướng quân Yoshimune và thời đại của ông),
1995
Tài liệu tham khảo
1. Amagasaki shishi henshuushitsu
(Pḥng biên tập lịch sử thành phố Amagasaki): Chiiki shi kenkyu
(Nghiên cứu lịch sử địa phương), số 2, tập 2, 10/1972.
2. NHK promotion: Shogun Yoshimune to
sono jidaiten (Triển lăm về Tướng quân Yoshimune và thời đại của
ông), Tokyo 1995.
3. Saitama hakubutsukan (Bảo tàng
Saitama): Tokubetsu ten Shougun Yoshimune to Kyutei “ga” - Zou ga
yuku (Triển lăm đặc biệt: Tướng quân Yochimune và Cung đ́nh “nhă”:
Rước voi), Tokyo 2000.