Khi bàn về cách thức tiếp nhận nền văn minh bên
ngoài của người Nhật, GS. Vĩnh Sính viết rằng: “Có thể nói rằng
không có dân tộc nào nhạy bén về văn hóa nước ngoài cho bằng người
Nhật. Họ không ngừng theo dơi những diễn tiến trên thế giới bên
ngoài, đánh giá và cân nhắc ảnh hưởng của những trào lưu và xu hướng
chính đối với Nhật Bản. Một điều đáng chú ư khác là khi họ biết trào
lưu nào đang thắng thế th́ họ có khuynh hướng chấp nhận, học hỏi,
nghiên cứu để bắt kịp trào lưu đó, không để mất thời cơ”.
Đi theo nhận định đó, trong bài viết này chúng
tôi đă:
1- Chỉ rơ một trong những đặc điểm về
cách thức tiếp nhận văn minh bên ngoài là khảo sát, phân tích, quyết
định tiếp nhận “cái văn minh nhất” chứ không nhất thiết phải tiếp
nhận tất cả cái “văn minh hơn” ḿnh.
2- Chính bằng cách thức tiếp nhận như
vậy mà Nhật Bản thực sự đă “đi tắt đón đầu” một cách thành công. Ở
thời đại nào cũng vậy, chỉ một thời gian ngắn khi tiếp thu “những
cái nhất”, Nhật Bản đă đuổi kịp các nước tiên tiến nhất và xây dựng
Nhật Bản thành quốc gia tiên tiến nhất của của thời đại đó.
3- Trong tiến tŕnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước, chúng ta chủ trương “đi tắt đón đầu” nắm bắt
cho được những thành tựu tiên tiến nhất về khoa học, kỹ thuật của
nhân loại để xây dựng đất nước, làm cho nước ta tiến kịp các nước
trong khu vực và trên thế giới. Trong quá tŕnh thực thi chính sách
đó, chúng tôi nghĩ rằng, những bài học của Nhật Bản trong việc tiếp
nhận văn minh từ bên ngoài có ư nghĩa thiết thực.
Bất cứ một dân tộc nào trong quá tŕnh phát
triển đều có sự tiếp nhận thành tựu văn minh bên ngoài. Vấn đề là ở
chỗ phương cách tiếp thu văn minh đó như thế nào để cho cho đất
nước, dân tộc phát triển kịp với các nước văn minh tiên tiến nhất
trên thế giới.
Khi bàn về cách thức tiếp nhận nền văn minh bên
ngoài của người Nhật, GS. Vĩnh Sính viết rằng: “Có thể nói rằng
không có dân tộc nào nhạy bén về văn hóa nước ngoài cho bằng người
Nhật. Họ không ngừng theo dơi những diễn tiến trên thế giới bên
ngoài, đánh giá và cân nhắc ảnh hưởng của những trào lưu và xu hướng
chính đối với Nhật Bản. Một điều đáng chú ư khác là khi họ biết trào
lưu nào đang thắng thế th́ họ có khuynh hướng chấp nhận, học hỏi,
nghiên cứu để bắt kịp trào lưu đó, không để mất thời cơ”.(Xem Vĩnh
Sính; 1991; tr:20).
Từ xưa, Nhật Bản đă nhiều lần cử các đoàn lưu
học sinh sang nước Đông Á học tập, tiếp thu nền văn minh đại lục,
chủ yếu là văn minh Tuỳ-Đường để phát triển đất nước. Bước vào thời
cận đại, khi nhận thức được sự tiến bộ vượt bậc của văn minh phương
Tây th́ Nhật Bản chủ trương học tập Âu-Mỹ để văn minh hoá, cận đại
hoá đất nước. Vào thời hiện đại, khi Mỹ trở thành nước phát triển
nhất về kinh tế và khoa học, Nhật Bản chủ trương học tập Mỹ để đưa
Nhật Bản trở thành cường quốc phát triển hành đầu của thế giới.
Trong bài viết này, chúng tôi thử nêu ra và
phân tích một trong những đặc điểm quan trọng nhất trong việc tiếp
thu văn minh bên ngoài của Nhật Bản: Đó là biết lựa chọn những cái
tinh hoa nhất của nền văn minh để tiếp nhận.
Khi tiếp nhận nền văn minh, văn hóa từ bên
ngoài, Nhật Bản không chủ trương tiếp nhận tất cả những nền văn minh
cao hơn ḿnh và chủ trương tiếp nhận cái văn minh nhất và bằng con
đường trực tiếp. Đây là cách thức mà ngày nay chúng ta gọi là “đi
tắt đón đầu” nhằm rút ngắn thời gian, đưa đất nước tiến kịp các nước
văn minh trên thế giới.
1) Việc tiếp nhận văn minh Trung Hoa của
Nhật Bản
Vào thời cổ đại, văn minh Nhật Bản lạc hậu hơn
nhiều so với Trung Quốc và Triều Tiên. V́ vậy, theo “ḍng chảy văn
minh”, các nền văn minh cao hơn là Trung Quốc sẽ được truyền bá sang
Nhật Bản và Nhật Bản tiếp nhận nền văn minh đó. Lúc đầu, người Nhật
tiếp nhận các nền văn minh khác một cách thụ động và gián tiếp thông
qua bán đảo Triều Tiên. Tuy nhiên, từ khi h́nh thành quốc gia rộng
lớn – Vương quốc Yamato (khoảng thế kỷ IV–VII), đặc biệt là thời
Asuka, Thái tử Nhiếp chính Shotoku đă thực hiện nhiều biện pháp tích
cực và chủ động tiếp nhận một cách trực tiếp nền văn minh Trung
Quốc, đưa Nhật Bản có bước tiến nhẩy vọt.
Vào thời kỳ bấy giờ, trong phạm vi mà người
Nhật hiểu biết được th́ văn minh Tuỳ-Đường là văn minh nhất trong
khu vực Đông Á. Vào thời Tuỳ-Đường, văn minh Trung Hoa có sự kết hợp
giữa nền văn minh đầy sức sống năng động phía Bắc với nền văn minh
hoa lệ phía Nam tạo nên nền văn minh rực rỡ mà không quốc gia nào
trong khu vực có thể so sánh được. Nền văn minh đó đă truyền bá sang
các nước Đông Á xung quanh, tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển cao
hơn của nền văn minh ở khu vực này, trong đó có Nhật Bản.
Những người thức thời trong Triều đ́nh và quư
tộc Nhật Bản nhận thức được rằng, Nhật Bản c̣n lạc hậu rất nhiều so
với Trung Quốc và Triều Tiên, muốn trở thành một vương quốc hùng
mạnh, theo kịp các nước trong khu vực th́ cần phải chủ động học tập
và học tập trực tiếp nền văn minh Trung Hoa. Người có công to lớn
đầu tiên trong sự nghiệp này là Thái tử Shotoku (Thánh Đức), Nhiếp
chính cho Thiên hoàng Suiko.
Năm 600, với mục đích t́m hiểu, học tập văn
minh Trung Hoa và thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, Thái
tử Shotoku đă cử Sứ đoàn đi sứ nhà Tuỳ. Đi theo Sứ đoàn này có rất
nhiều tăng lữ và lưu học sinh. Họ đi sang Trung Quốc, ở lại đó tu
đạo, học tập văn minh Trung Quốc, rồi sau đó về nước, đóng góp vào
sự phát triển văn minh Nhật Bản. Trong lần đi sứ này, Chánh sứ Ono
Imoko mang theo “Quốc thư” trong đó có một câu nổi tiếng “Thiên tử
xứ Mặt trời mọc kính thư tới Thiên tử xứ Mặt trời lặn”(Hiizuru
tokoro no taishi, sho wo hibotsusuru tokoro no taishi ni itasu)
chứng tỏ Nhật Bản mong muốn thiết lập quan hệ đối đẳng với Trung
Quốc. Từ đó về sau, Nhật Bản đă gửi nhiều Sứ đoàn, mà lần nào cũng
có rất đông lưu học sinh đi theo để tích cực học hỏi, tiếp thu một
cách trực tiếp văn minh Trung Hoa, nhanh chóng xây dựng và phát
triển văn minh Nhật Bản.
Một trong những mặt yếu kém nhất của Nhật Bản
so với Trung Quốc là chế độ nhà nước và luật lệnh. Từ thế kỷ III
TCN., Trung Quốc đă thiết lập được chế độ trung ương tập quyền mạnh
th́ đến thế kỷ VI, Nhật Bản vẫn chưa làm được điều đó. Mặc dầu ngay
từ thời Yamato, Nhật Bản đă có Triều đ́nh, tuy vậy, thế lực của
Triều đ́nh cũng chỉ mạnh hơn thế lực địa phương chút ít mà thôi. V́
vậy, nhiệm vụ đầu tiên của Nhật Bản là phải học tập chế độ chính
trị, hệ thống luật lệnh của Trung Quốc, từng bước xác lập và xây
dựng chế độ trung ương tập quyền.
Năm 603, Thái tử Shotoku cho ban hành “Mười hai
bậc quan vị” nhằm định rơ địa vị của 12 bậc quan chánh-thứ trong
Triều đ́nh. Điều này không những xác định vị trí, địa vị của quan
lại trong Triều mà c̣n xác nhận trách nhiệm của quan lại đối với
Thiên Hoàng. Năm sau, năm 604, Thái tử cho công bố “Mười bảy điều
hiến pháp” nhằm giáo huấn ḷng trung thành với Thiên Hoàng và giáo
lư trị nước cho các quan lại. Đây không phải là hiến pháp theo nghĩa
hiện đại của từ này nhưng nó là điển lệ đầu tiên trong lịch sử Nhật
Bản quy định về đạo đức và trách nhiệm của quan lại Nhật Bản. Những
biện pháp này là sự tiếp thu, học hỏi từ văn minh chính trị Trung
Quốc để nhanh chóng xây dựng chế độ trung ương tập quyền ở Nhật.
Ngoài ra, do nhận thức được Phật giáo chứa đựng
nhiều tri thức về thế giới, phù hợp với tâm tính của người Nhật, nên
Thái tử tích cực ủng hộ, cổ vũ việc tiếp thu Phật giáo, cũng chủ yếu
qua con đường Trung Quốc, xây dựng nền Phật giáo Nhật Bản.
Đáng tiếc là do sự tranh chấp trong Triều đ́nh
và do Thái tử mất sớm nên sự nghiệp của ông tiến hành c̣n dang dở.
Sinh thời, ông chưa được tận mắt chứng kiến những thành quả mỹ măn
của chính sách của ḿnh, nhưng những việc làm của ông đă tạo cơ sở
cho những cải cách mạnh mẽ hơn sau này.
Quá tŕnh học, tập tiếp thu tri thức Trung Hoa
được tiếp tục một cách mạnh mẽ với tiến bộ mới là cuộc cải cách
Taika năm 645. Cải cách Taika là sự tiếp thu và áp dụng chế độ chính
trị, luật lệnh, chế độ kinh tế… của Trung Quốc vào Nhật Bản. Những
biện pháp quan trọng nhất của cải cách này là xác định lại hệ thống
chính trị từ trưng ương đến địa phương, thực thi chế độ hộ tịch, ban
hành chế độ ban điền và chế độ tô thuế mới: tô, dung điệu. Việc tiến
hành cải cách Taika đă tạo ra một bước phát triển mới cho Nhật Bản.
Đánh dấu bước phát triển mới đó là việc Triều đ́nh dời kinh đô từ
Asuka đến Nara. Tại đây, Triều đ́nh cho xây dựng kinh đô Heijo-kyo ở
Nara nguy nga tráng lệ, học theo kinh đô nhà Đường của Trung Quốc là
kinh đô Trường An.
Trong thời Nara, mặc dầu tiếp nhận cơ cấu chính
trị của nhà Đường nhưng không phải rập khuôn theo Trung Quốc. Ở
Nhật, ngoài Thiên Hoàng th́ người đứng đầu hệ thống quan lại là Thái
chính Đại thần (Tajo Daijin), giúp việc cho Thái chính Đại thần có
Sadaijin (Tả đại thần) và Udaijin (Hữu đại thần). Cơ cấu Triều đ́nh
có 8 bộ chứ không phải 6 bộ như Trung Quốc: Bộ Lại, Bộ Hộ, Bộ Lễ, Bộ
Binh, Bộ H́nh, Bộ Công, Bộ Quốc khố, Bộ Cung đ́nh. Cơ cấu chính trị
này được tổ chức dựa trên đạo luật Taihoritsurei (Đại Bảo Luật
lệnh), lấy Thiên Hoàng làm trung tâm, xây dựng chế độ trung ương tập
quyền theo kiểu Nhật Bản. (Mặc dầu học theo chế độ chính trị nhà
Đường ở Trung Hoa).
Một trong những biểu hiện rơ nhất về ảnh hưởng
của Trung Hoa trong thời kỳ này là việc xây dựng Heijo-kyo c̣n là
Nara. Năm 710 triều đ́nh đă dựa theo lối kiến trúc kinh đô Trương An
của nhà Đường để xây dựng kinh đô Nara rất lộng lẫy. Kinh đô này
được xây dựng theo mô-típ Trung Hoa như: lợp ngói màu xanh, dựng cột
màu đỏ, quét vôi tường màu trắng…, có thành, có thị. Đây là một kinh
đô rất đẹp và được ca ngợi trong thơ ca Nhật Bản thời kỳ đó “vẻ đẹp
rực rỡ lộng lẫy của nó như những bông hoa muôn màu”.(Xem Ikeda On,
1992; tr: 7-14; 172-176; 179-192)
Tuy nhiên, từ năm 794, tức là sau khi dời kinh
đô từ Nara về Heian (nay là Kyoto) th́ Nhật Bản bước vào thời kỳ
phát triển rực rỡ nhất trong thời cổ. Nền kinh tế, chế độ chính trị
và văn hoá đều đạt đến tŕnh độ phát triển cao. Đây chính là thời kỳ
Nhật Bản đă biến những việc tiếp thu những thành tựu mọi mặt của nền
văn minh cao hơn để nhanh chóng phát triển nền văn minh của ḿnh và
xây dựng nền văn minh đậm đà tính chất Nhật Bản. V́ vậy đă bắt đầu
có quá tŕnh “thoát Trung Quốc” trong văn hoá Nhật Bản. Các nhà
nghiên cứu gọi văn hoá Heian là văn hoá “quốc phong” (phong cách của
Nhật Bản).
Như vậy, Nhật Bản xác định được nền văn minh
Tùy-Đường là nền văn minh tiên tiến nhất lúc bấy giờ và chủ động
tiếp thu nền văn minh đó, chứ không bị cưỡng bức tiếp nhận như các
nước khác. Lư do khá rơ là lúc đó Nhật Bản không bị Tuỳ- Đường thôn
tính, không làm nước chịu sắc phong của các Hoàng đế Trung Hoa, hơn
nữa c̣n ra sức thiết lập quan hệ ngoại giao đối đẳng với Trung Hoa.
Và kết quả tiếp theo là, mặc dầu tích cực tiếp thu văn minh
Tuỳ-Đường nhưng Nhật Bản đă chủ động tiếp nhận, chủ động tiêu thụ,
có khả năng chuyển những thành tựu văn minh bên ngoài thành các yếu
tố để xây dựng nền văn minh dân tộc phát triển ngang tầm văn minh
nhân loại mà vẫn đậm tính dân tộc.
2. Việc tiếp nhận văn minh phương Tây của
Nhật Bản
Sau khi lật đổ chế độ Bakufu, chính quyền Meiji
đă tiến hành nhiều biện pháp để nhanh chóng tiếp thu văn minh phương
Tây: thị sát nền văn minh phương Tây; thuê chuyên gia phương Tây làm
cố vấn và giảng dạy ở Nhật và gửi học sinh sang phương Tây lưu học.
Bất cứ lĩnh vực nào, người Nhật cũng phân tích kỹ lưỡng, t́m ra
những cái nhất của từng nước để học tập.
Trước hết chúng ta xem xét vấn đề cử sứ đoàn đi
thị sát, học hỏi phương Tây của chính phủ Meiji như thế nào và họ đă
đưa ra quyết sách cụ thể nào để Nhật Bản tiếp thu văn minh phương
Tây.
Ngày 8 tháng 10 năm 1871, Thiên hoàng Meiji ban
chiếu cử Iwakura làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền, 4 phó sứ cùng phái
đoàn đông đảo đi sứ các nước phương Tây. Nhiệm vụ của sứ đoàn được
nêu rơ: Một là thăm đáp lễ các nước đă kư hiệp ước với Nhật; Hai là
chuẩn bị thương thuyết về sửa đổi hiệp ước mà Bakufu đă kư trước
đây; Ba là thị sát, nghiên cứu chế độ văn vật của các nước tiên tiến
Âu Mỹ. Ngày 4 tháng 11, Iwakura tế lễ xuất hành, triều kiến Thiên
hoàng và Hoàng hậu. Ngày 6, lễ tiễn được tổ chức long trọng có sự
tham gia của Thái chính Đại thần Sanjo. Sứ đoàn rời cảng Yokohama
vượt Thái B́nh Dương đến thăm Mỹ và sau đó là các nước Anh, Pháp,
Bỉ, Hà Lan, Đức, Nga, Đan Mạch, Thuỵ Điển, Ư, Áo và Thuỵ Sĩ. Thời
gian của chuyến đi kéo dài từ ngày 6 tháng 11 năm 1871 đến ngày 13
tháng 9 năm 1873, mất khoảng 1 năm 10 tháng.
Trước hết, về nhận thức: Sứ đoàn đă có dịp quan
sát một cách tổng quan toàn bộ nền văn minh Âu-Mỹ, những thành quả
to lớn của của cách mạng công nghiệp, những điều mới mẻ trong cơ cấu
của chế độ tư bản chủ nghĩa. Sứ đoàn có dịp so sánh với văn minh
phương Đông và tuy nhận thức được ngay giữa văn minh phương Đông và
phương Tây co nhiều điểm khác nhau nhưng văn minh vật chất của
phương Tây th́ vượt xa phương Đông rồi. Toàn thể thành viên của sứ
đoàn đều có chung nhận thức là Nhật Bản cần thiết phải học tập văn
minh phương Tây từ văn vật đến chế độ để phát triển đất nước.
Tuy nhiên, vấn đề là phải khảo sát xem cần phải
học cái ǵ ở nước nào để đảm bảo tính tiên tiến, hiện đại và thích
ứng với Nhật Bản, làm cho Nhật Bản phát triển nhanh chóng. Sứ đoàn
đă chỉ ra những nhận thức cụ thể khi đến thăm các nước.
Sứ đoàn nhận thức được sự phát triển mạnh mẽ
của nước Mỹ trẻ tuổi và nhận thức về nhiều mặt Nhật Bản có thể học
được ở Mỹ trong quá tŕnh xây dựng quốc gia Tư bản chủ nghĩa non trẻ
của ḿnh.
Sứ đoàn ngưỡng mộ những thành tựu của cuộc cách
mạng công nghiệp ở Anh và bằng con mắt của ḿnh, họ nhận thức được
những thành tựu to lớn của “công xưởng thế giới”, “mậu dịch lập
quốc”. Sứ đoàn cũng thấy được Nhật Bản giống Anh là những “đảo quốc”
nên củng cố thêm tư tưởng “mậu dịch lập quốc” như là quốc sách cho
sự phát triển của Nhật. Sứ đoàn cũng thấy, mặc dầu Anh theo chế độ
quân chủ-lập hiến nhưng Anh có một nền dân chủ phát triển cao nhất
thế giới đương thời. Về điểm này th́ hầu hết thành viên của sứ đoàn
đều cho rằng nền dân chủ của Anh không phù hợp với điều kiện của
Nhật.
Khi đến thăm Pháp, sứ đoàn cũng cảm nhận được
nước Pháp và Paris là “trung tâm văn hoá” của thế giới với nhiều
công tŕnh kiến trúc tuyệt vời và tŕnh độ văn hoá cao của đất nước
này. Tuy nhiên, khi sứ đoàn đến Paris, ở đó c̣n ngổn ngang những dấu
tích của chiến tranh Pháp-Phổ và Công xă Paris làm cho đoàn thấy
rằng nền cộng hoà Pháp chứa đựng tính bất ổn, dễ xảy ra các cuộc đấu
tranh giai cấp, xă hội. V́ vậy, chế độ chính trị Pháp cũng không
phải là h́nh mẫu mà Nhật Bản cần noi theo.
Khi đến Đức, thấy được thành quả sự nghiệp
thống nhất nước Đức, sứ đoàn rất ngưỡng mộ vị thủ tướng “máu và sắt”
Bismarck và nhận thấy rằng nền quân chủ-lập hiến, tập trung quyền
lực như ở Đức có thể phù hợp với Nhật Bản trên con đường xây dựng
một quốc gia phú quốc cường binh.
Khi đến thăm Nga, sứ đoàn chứng kiến sự trổi
dậy của nước Nga sau cải cách nông nô nhưng về văn minh và dân chủ,
Nga c̣n lạc hậu hơn nhiều so với Anh, Pháp, Mỹ hay Đức, thậm chí là
với Áo và Ư. Tuy nhiên, sứ đoàn cũng tái nhận thức rằng, tuy Nhật
Bản không học tập Nga nhưng quan hệ với Nga có ư nghĩa rất quan
trọng, v́ Nga là nước láng giềng của Nhật và đang bành trướng mạnh
mẽ về phía Đông nơi Nhật có lợi ích sống c̣n.
Sau khi khảo sát cụ thể các nước phương Tây, sứ
đoàn đă đề xuất cụ thể các phương sách có hiệu quả để tiếp nhận văn
minh phương Tây. Trước hết, Nhật Bản cần phải mời chuyên gia của
những nước nào, chuyên gia lĩnh vực nào để giúp cho việc đẩy nhanh
quá tŕnh cận đại hóa đất nước Nhật Bản. (Xem Nguyễn Tiến Lực, 2004
B; tr.55-56).
Lĩnh vực mà Nhật Bản ưu tiên học tập là công
nghệ và kỹ thuật. Theo đó, liên quan đến các lĩnh vực công nghiệp,
Nhật Bản thuê nhiều chuyên gia nước ngoài nhất. Tính tổng thể mà
nói, chuyên gia nước ngoài làm việc ở Bộ Công nghiệp chiếm 1/3 tổng
số chuyên gia ở Nhật Bản. Trong thời kỳ đầu tỷ lệ đó lên đến 50%.
Chuyên gia làm việc ở Bộ Công nghiệp chủ yếu là các kỹ sư trực tiếp
chỉ đạo thi công các công tŕnh lớn hay điều khiển các máy móc hiện
đại, số chuyên gia này có tới 50%, c̣n lại là những cố vấn ở cơ quan
của Bộ. Ở Bộ này, các chuyên gia người Anh chiếm đến 60%. Họ đảm
nhiệm xây dựng các tuyến đường sắt, điện tín, hải cảng và đèn biển.
Chuyên gia có tiếng nhất ở bộ Công nghiệp là William Cargill, người
Anh, tổng công tŕnh sư các tuyến đường sắt đầu tiên ở Nhật.
Giáo dục cũng là lĩnh vực được ưu tiên thuê
chuyên gia. Bộ Giáo dục chủ yếu thuê chuyên gia giảng dạy ở các
ngành khoa học tự nhiên, y học và ngôn ngữ học. Ở Bộ này, các chuyên
gia người Đức chiếm 37,2%, Anh: 22,5%, Mỹ: 20,1%, Pháp: 13%. Những
chuyên gia có ảnh hưởng lớn đến nền giáo dục cận đại Nhật là Giáo sư
David Murray, Scott (Mỹ), Giáo sư Ludwig Reiss, Herman Roessler,
Albert Mosse (Đức), Luật sư Gustave Boissonade (Pháp).
Bộ Hải quân phần lớn thuê các chuyên gia người
Anh huấn luyện. Các chuyên gia người Pháp làm việc ở nhà máy luyện
kim ở Yokohama và nhà máy đóng tàu ở Yokosuka cũng thuộc Bộ Hải quân
quản lư. Người đảm nhận việc xây dựng nhà máy đóng tàu ở Yokosuka là
Francois Verny, người Pháp. Chuyên gia các nước khác làm việc ở Bộ
này là không đáng kể. Bộ Nội vụ chủ yếu thuê chuyên gia người Đức.
Họ cố vấn thiết lập hệ thống cảnh sát. Bộ Lục quân chủ yếu thuê
chuyên gia Pháp. Có một số chuyên gia Đức làm việc ở Tham mưu Lục
quân.
Cục Khai khẩn Hokkaido thuê nhiều chuyên gia Mỹ
trong các ngành khai khoáng, xây dựng đường sá và sản xuất nông
nghiệp. Ngoài ra, c̣n có các chuyên gia Đức giúp xây dựng nhà máy
bia. Bộ Tài chính chủ yếu thuê các chuyên gia Anh và Pháp giúp đỡ
kiến thức tài chính cận đại.
Như vậy, không phải Nhật thuê chuyên gia một
cách ồ ạt mà họ có sự lựa chọn các quốc gia có tŕnh độ tiên tiến
nhất về lĩnh vực vực nào th́ thuê chuyên gia về lĩnh vực đó. Có như
vậy, Nhật mới sớm nắm bắt được những kiến thức tiên tiến nhất để học
tập, mới có thể “đi tắt đón đầu”, tiến kịp các nước tiên tiến nhất
thế giới.
Các nhà nghiên cứu đánh giá rất cao vai tṛ của
chuyên gia nước ngoài trong việc cận đại hóa Nhật Bản. Sakata đưa ra
nhận định: chính việc thuê các chuyên gia nước ngoài phương Tây làm
đ̣n bẩy cho Nhật Bản tiến tới văn minh hóa. Umetani coi việc thuê
chuyên gia phương Tây, tiếp thu kiến thức phương Tây chính là việc
“Sử dụng kiến thức của ngoại quốc để chống lại sức ép của ngoại
quốc”. B.Chamberlain cho rằng các chuyên gia là “Người sáng tạo ra
Nhật Bản cận đại”. Tuy cách diễn đạt có khác nhau nhưng nh́n chung
các nhà nghiên cứu người Nhật hay người nước ngoài đều thừa nhận sự
đóng góp to lớn của các chuyên gia vào quá tŕnh cận đại hóa Nhật
Bản. (Xem Nguyễn Tiến Lực, 1999;tr: 70-75)
Tuy nhiên, việc mời các chuyên gia nước ngoài
đến cố vấn, chỉ đạo, giảng dạy có tác dụng to lớn trong việc tiếp
thu những kiến thức tiên tiến thế giới nhưng đó vẫn chỉ tiếp xúc một
cách gián tiếp và không phải là biện pháp lâu dài. Chính quyền Meiji
c̣n chủ trương gửi học sinh ra nước ngoài lưu học mới có khả năng
tiếp thu văn minh và kỹ thuật phương Tây một cách trực tiếp và sâu
sắc, và đó là chính sách cơ bản và lâu dài để người Nhật nắm quyền
chủ đạo trong công cuộc xây dựng nền khoa học, văn hoá, giáo dục độc
lập, tự chủ và tiên tiến.
Ngay năm 1869, các nhà lănh đạo chính quyền mới
thấy rằng để nhanh chóng tiếp thu khoa học, kỹ thuật, chế độ và luật
pháp phương Tây, cần phải khẩn cấp việc cử các học sinh có năng lực
sang các nước phương Tây lưu học. Chính phủ Meiji đă tiến hành tuyển
chọn và sử dụng ngân sách của nhà nước gửi các học sinh ưu tú ra
nước ngoài học tập. Năm 1871, chính phủ Meiji sửa đổi và ban hành
Quy chế về lưu học sinh (Kaigai Ryugakusei Kisoku). Theo đó, việc
tuyển chọn phải tiến hành một cách tự do, dựa vào năng lực của học
sinh và việc gửi học sinh đó đến học nước nào, trường nào, ngành nào
là do chính phủ quyết định. Ngay từ lúc đó, chính quyền Meiji đă
biết lựa chọn các nước có ngành học nổi tiếng nhất ở các trường đại
học Âu-Mỹ để gửi lưu học sinh của ḿnh đến đó học tập... Chính phủ
quy định: Học về máy móc, thương nghiệp, tài chính-tiền tệ, đóng
tàu, gia súc, hoạt động từ thiện th́ học ở các trường tốt của Anh;
học về luật, luật quốc tế, động vật học và thực vật học th́ học ở
các trường đại học có tiếng của Pháp; học về triết học, chính trị
học và y học th́ học ở các trường của Đức; học về bưu chính, công
nghệ, nông học, gia súc, thương mại, khai khoáng th́ học ở Mỹ…(Xem
Nguyễn Tiến Lực, 2004 A; tr. 56-5)
Ngoài ra, để nâng cao tinh thần dân tộc, các
lưu học sinh hưởng học bổng từ ngân sách chính phủ, trước lúc ra đi
đều đến viếng đền thờ của Shinto, làm lễ dâng rượu thần, thề nguyện
quyết tâm học tập và trở về nước phục vụ Tổ Quốc.
Nhờ chủ trương và phương cách học tập nền văn
minh phương Tây một cách đúng đắn, cụ thể mà trong ṿng 30 năm Nhật
Bản đă duy tân thành công, trở thành một nước Tư bản chủ nghĩa tiên
tiến, ngang hàng với các cường quốc trên thế giới.
3. Việc tiếp nhận văn minh hiện đại Mỹ của Nhật
Bản
Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, Nhật Bản
bị bại trận, đất nước bị tàn phá nặng nề, tinh thần dân chúng suy
sụp nghiêm trọng. Trước t́nh h́nh đó, Nhật Bản phải tiến hành công
cuộc “duy tân lần thứ II” như nhiều nhà lănh đạo Nhật kêu gọi. Tuy
nhiên, nếu như “duy tân lần thứ I”-Meiji Duy tân dựa vào sự tiếp thu
nền văn minh phương Tây để cận đại hóa Nhật Bản th́ “duy tân lần thứ
II”-Showa Duy tân là sự tiếp thu nền văn minh Mỹ để hiện đại hóa
Nhật Bản.
Điều đáng nói ở đây là, sau chiến tranh, Nhật
Bản bị GHQ (Bộ Tư lệnh tối cao quân đội chiếm đóng) thực chất là Mỹ
chiếm đóng. Mỹ và các nước Đồng minh có nhiệm vụ rất quan trọng là
“tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa quân phiệt” và dân chủ hóa Nhật Bản.
Lúc bấy giờ, người Mỹ vẫn coi Nhật là kẻ thù và người Nhật cũng có
thái độ tương tự như vậy.
Tuy vậy, người Nhật đă nhanh chóng thay đổi
nhận thức của ḿnh. Họ đă sớm vượt qua sự thù hận và cố chấp, sớm
nhận thức được rằng nước Mỹ là một siêu cường trên thế giới, có nền
kinh tế và khoa học kỹ thuật tiên tiến bậc nhất thế giới. Muốn tiến
hành “Duy tân lần II”, phục hồi và phát triển đất nước Nhật Bản th́
chỉ có một cách là học tập nền văn minh của Mỹ, đuổi kịp Mỹ, vươn
lên thành quốc gia hàng đầu của thế giới.
Trong lĩnh vực kinh tế: Dựa vào nền kinh tế
hùng mạnh của Mỹ, Nhật chấp nhận những cải cách về kinh tế, tài
chính và tiền tệ của Mỹ, hợp tác tích cực với cơ quan GHQ để thực
thi những cải cách đó. Nhật cũng dựa vào thị trường khổng lồ của Mỹ
để thực thi chính sách “thương mại lập quốc” (thương mại hưng quốc)
để đẩy nhanh xuất khẩu hàng hóa sang Mỹ, phục hồi và phát triển kinh
tế, tạo tiền đề cho giai đoạn phát triển cao độ của kinh tế Nhật.
Trong vấn đề quốc pḥng: Người Nhật đă lựa chọn
một phương cách gây tranh cải là thiết lập liên minh với Mỹ, ủy thác
cho Mỹ sứ mệnh bảo vệ Nhật Bản, để Nhật Bản phục hồi và phát triển
đất nước. Sự lựa chọn đó, không hẳn đă đưa tới an ninh và ḥa b́nh
cho khu vực nhưng đó là phương cách ít tốn kém nhất cho Nhật khi mà
Nhật cần tập trung vào phát triển kinh tế.
Trong lĩnh vực giáo dục: Nhật Bản không ngần
ngại chuyển từ hệ thống giáo dục theo kiểu Pháp đă được tiếp nhận từ
thời Meiji (phân chia giáo dục theo khu vực giáo dục) tiếp nhận hệ
thống giáo dục kiểu Mỹ: hệ thống 6-3-3-4. Hệ thống giáo dục đó được
coi là hệ thống tiên tiến nhất và hệ thống giáo dục đại học 4 năm
cũng được coi là hợp lư. Việc Nhật Bản từ bỏ hệ thống đại học 5 năm
như hệ thống của Pháp-Anh, áp dụng hệ thống giáo dục của Mỹ làm cho
giáo dục đại học Nhật Bản thích ứng hơn với thời kỳ mới của cuộc
cách mạng khoa học-kỹ thuật.
Một vấn đề có liên quan đến giáo dục là sau
chiến tranh, gần như thành lệ, con đường tiến thân của một nhà khoa
học ở Nhật là phải có kinh nghiệm lưu học ở các trường danh tiếng
của Mỹ. Cụ thể hơn là: học đại học ở Nhật, học sau đại học ở một
trường tốt ở Nhật, chưa lấy bằng tiến sĩ, sang thực tập ở một trường
danh tiếng của Mỹ, trở về Nhật lấy bằng tiến sĩ và làm giảng viên
đại học. Bằng con đường như vậy, Nhật Bản đă học tập, thậm chí là
nắm bắt được những thành tựu khoa học mới nhất của thế giới, góp
phần đưa tŕnh độ khoa học của Nhật lên tŕnh độ tiên tiến nhất thế
giới. Cũng chính con đường đào tạo như vậy đă sản sinh ra các nhà
khoa học đạt giải thưởng Nobel của Nhật.
Một vấn đề liên quan đến giáo dục nữa là vấn đề
học tiếng Anh: v́ xác định Mỹ là quốc gia cần học tập nên hầu như
người người Nhật theo học tiếng Anh-Mỹ (American English) chứ không
học tiếng Anh-Anh (British English) như nhiều nước khác. Mặc dầu
không có sự khác biệt giữa tiếng Anh-Anh và tiếng Anh-Mỹ nhưng việc
người Nhật thiên về học tiếng Anh-Mỹ có lẽ họ muốn tiếp xúc và nắm
bắt nhanh hơn những thành tựu khoa học mới của Mỹ.
Nhờ cách tiếp nhận văn minh của Mỹ như vậy mà
trong một thời gian rất ngắn kể từ sau chiến tranh, Nhật Bản đă có
một sự chuyển ḿnh kinh dị, biến Nhật Bản thành cường quốc kinh tế
lớn thứ hai của thế giới Tư bản chủ nghĩa, vượt lên trên các nền
kinh tế lớn, truyền thống như Pháp, Anh và Đức.
KẾT LUẬN
Vào thời cổ đại, khi văn minh Tùy Đường được
coi là văn minh nhất ở Đông Á, th́ Nhật Bản chủ trương học tập văn
minh Trung Quốc để phát triển đất nước. Vào thời cận đại, khi nhân
thức văn minh phương Tây có sự tiến bộ vượt bậc so với văn minh
phương Đông th́ Nhật Bản th́ họ học tập Âu-Mỹ để văn minh hoá, cận
đại hoá đất nước. Vào thời hiện đại, khi Mỹ trở thành nước phát
triển nhất về kinh tế và khoa học, Nhật Bản chủ trương học tập Mỹ để
đưa Nhật Bản trở thành cường quốc phát triển hành đầu của thế giới.
Trong quá tŕnh tiếp nhận đó, người Nhật cẩn
thận khảo sát nhận định xem nên học tập nước nào, học tập cái ǵ và
học tập bằng cách nào để có thể bắt kịp với họ và xây dựng đất nước
thành quốc gia tiên tiến nhất. Đó là học tập cái nhất chứ không nhất
thiết phải học tập cái hơn. Chính cách học tập như vậy mới làm cho
Nhật Bản, chỉ trong một thời gian ngắn đă bắt kịp các nước phát
triển nhất thế giới đương thời.
Sau khi tiến hành chính sách đổi mới, nước ta
chủ trương tiếp thu nền văn minh, nền khoa học kỹ thuật tiên tiến ở
bên ngoài để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chúng ta đă đề
ra khẩu hiệu “đi tắt đón đầu” nắm bắt cho được những thành tự tiên
tiến nhất của nhân loại, tiến kịp các nước trong khu vực. Thiết
nghĩ, để thực hiện “đi tắt đón đầu” phải chăng chúng ta nên học tập
cách thức tiếp nhận văn minh bên ngoài của người Nhật: học tập tiếp
nhận những “cái nhất”?
Tài liệu tham khảo:
1. Ginal Barnes, 2004, Trung Quốc-Triều
Tiên-Nhật Bản, Đỉnh cao văn minh Đông Á, NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí
Minh.
2. Chin-ning Chu, 1997, Mưu lược châu
Á, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh.
3. Đỗ Lộc Diệp, 2003, Mỹ-Âu-Nhật: Văn
hóa và phát triển, NXB Khoa học Xă hội, Hà Nội.
4. Egami Namio, 1982, Nhật Bản và Trung
Quốc (Nihon to Chugoku), Shogakukan, Tokyo.
5. Ikeda On, 1992, Nhà Đường và Nhật
Bản (To to Chugoku), Yoshikawa Kobunkan, Tokyo.
6. Nguyễn Tiến Lực, 1999, Chuyên gia
nước ngoài và sự nghiệp cận đại hóa Nhật Bản, Nghiên cứu Kinh tế, Số
258.
7. Nguyễn Tiến Lực, 2004 A, Phong trào
du học của thanh niên Nhật Bản vào thời Meiji, Nghiên cứu Lịch sử,
số 335, Hà Nội.
8. Nguyễn Tiến Lực, 2004 B, Sứ đoàn
Iwakura và sự nghiệp cận đại hóa Nhật Bản, Nghiên cứu lịch sử, số
341, Hà Nội.
9. Nhiều tác giả, 1999, Lịch sử văn hoá
Trung Quốc, T.II, NXB Văn hoá-Thông tin, Hà Nội.
10. Nihon-shi Kenkyukai, 1984, Lịch sử
Nhật Bản (Nihon Rekishi), Tokyo Daigaku Shuppankai, Tokyo.
11. Edwin O. Reischauers, 1978, The
Japanese, Harvard University Press.
12. Lương Duy Thứ (Chủ biên), 2000, Đại
cương văn hoá phương Đông, NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.
13. Lê Trần Đoan Trinh, 2001, Người Nhật
với văn hoá nước ngoài, LVTN, Trường ĐHKH Xă hội & Nhân văn, TP. Hồ
Chí Minh.
14. Vinh Sính, 1991, Nhật Bản Cận đại,
NXB TP Hồ Chí Minh.
15. Vĩnh Sính, 2001, Việt Nam và Nhật
Bản: Giao lưu văn hóa, NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh.