PGS.TS. Lê Thanh
B́nh
Đại học Khoa học Xă hội và Nhân văn - TP. Hồ Chí Minh (*)
Theo tác giả, những điểm sau là sức mạnh của
truyền thống văn hoá Nhật và có ảnh hưởng nhất định đến Nhật Bản hôm
nay:
1. Sự khu biệt địa lư, thuần nhất văn hóa và
không bị nước ngoài đô hộ đó làm nên vị thế riêng của Nhật Bản;
2. Dân tộc thuần nhất, tôn giáo hài ḥa, phát
triển văn hóa công ty- là những yếu tố làm cho Nhật Bản có chỗ đứng
cao trong cạnh tranh quốc tế.
Về những thách thức mới đối với Nhật, tác giả
đó đưa ra một số phân tích có hạn chế và khuyến nghị liên quan đến
văn hóa chính trị, văn hóa cơ chế, mặt trời của samurai, sự tôn thờ
tính độc nhất, lối suy nghĩ đóng khung…v.v
Cuối cùng, tác giả tin tưởng rằng với những thế
mạnh của nội lực, nước Nhật sẽ có những điều chỉnh thích hợp để tiếp
tục phát triển trong thiI kỳ toàn cầu hóa.
Với phương châm “mở cửa” để học tập văn minh
tiên tiến phương Tây nhằm chấn hưng đất nước, đồng thời giữ vững cốt
cách tinh thần văn hóa dân tộc, Nhật Bản là nước châu á duy nhất,
sớm nhất thực hiện thành công cách mạng công nghiệp, hiện đại hóa
đất nước để sánh cùng các cường quốc phương Tây, làm cho mọi quốc
gia khâm phục, nể trọng. Nước Nhật chỉ mất hơn 20 năm để trở thành
quốc gia có nền công nghiệp phát triển trong khi nước Anh phải mất
hơn 100 năm. Cuối những năm 60 thế kỷ XX (nghĩa là sau CM Minh Trị
một thế kỷ), Nhật Bản đă vượt các quốc gia Tây âu để trở thành cường
quốc kinh tế thứ hai trên thế giới, đứng sau nước Mỹ. Những năm 90
cuối thế kỷ XX, nước Nhật lâm vào t́nh trạng khủng hoảng như một đô
vật Sumô tiến lên và lùi lại đều khó khăn, sang thế kỷ XXI, nước
Nhật đă giải quyết được một số vấn đề, kinh tế đă có những dấu hiệu
khôi phục và bắt đầu tăng trưởng nhưng c̣n chậm và chưa vững chắc.
Nhiều nhà vạch chính sách Nhật và chuyên gia đang t́m kiếm những
giải pháp để đưa nước Nhật tiếp tục phát triển thông qua các giải
pháp tổng hợp và nhấn mạnh vai tṛ của văn hóa trong chiến lược chấn
hưng đất nước. Bài viết sau xin cung cấp một cái nh́n qua lăng kính
văn hóa về những điểm mạnh trong quá khứ và những thách thức hiện
nay cũng như trong tương lai của Nhật.
1. Sự khu biệt địa lư, thuần nhất văn hóa
và không bị đô hộ làm nên vị thế riêng của Nhật
Nhật Bản là một quốc đảo nằm về
phía Đông Bắc của lục địa châu á gần với Trung Quốc. Thời phong
kiến, do phương tiện tàu bè chưa tối tân, khoảng cách Biển Đông
Trung Hoa và Eo biển Triều Tiên ngăn Nhật Bản với châu á lục địa,
tuy không tạo nên “Thành cao” nhưng đă tạo ra “Hào sâu”- hào sâu tự
nhiên đó đă ngăn trở những đội quân xâm lược xung quanh muốn chiếm
Nhật Bản. Thế là Nhật gần như biệt lập riêng một sơn hà với Trung
Quốc, nơi từng được coi là “Thiên triều”, là mẫu h́nh thiết chế nhà
nước và trung tâm văn hóa quốc tế của cả Đông á thời phong kiến. Đầu
thế kỷ XIX, khi cách mạng công nghiệp thành công ở các quốc gia
phương Tây, làm cho phương Tây hùng mạnh trở thành nơi tụ hội của
văn minh mới, trong khi đó Nhật vẫn là vùng đảo khu biệt về địa lư,
mang đặc thù văn hoá rất riêng so với phương Tây. Có thể nói rằng vị
trí khu biệt tương đối đó đă tạo điều kiện duy tŕ sự ổn định, an
toàn cho Nhật Bản. Trong lịch sử, Nhật Bản chưa từng bị nước ngoài
đô hộ. Khi quân Nguyên Mông hùng hổ tấn công 2 lần th́ đều bị băo
biển nhấn ch́m tàu thuyền gần hết, một lần bỏ dở cuộc chinh phạt,
lần sau một số tàu thuyền bị băo đắm, số quân tướng tràn lên bờ đều
bị các samurai thiện chiến của Nhật tiêu diệt hoàn toàn. Đến khoảng
những năm 50 của thế kỉ XIX, khi các nước phương Tây bắt đầu xâm lấn
châu á, th́ hầu hết các quốc gia vùng này từ Trung Quốc to lớn đến
các nước nhỏ khác đă trở thành thuộc địa hoặc nửa thuộc địa của các
nước thực dân, đế quốc. Nhung xứ sở Hoa anh đào lại thoát khỏi nạn
kiếp bị đô hộ nhờ vị trí khu biệt về địa lí, xa lạ về văn hóa và nhờ
các tư tưởng canh tân, học hỏi du nhập điều hay của ngoại bang kể cả
của những kẻ đối địch với ḿnh.
Trên thực tế, từ sau cách mạng Minh Trị, Nhật
Bản với quá tŕnh hiện đại hoá đất nước đă không ngần ngại học hỏi,
làm theo và dần gắn bó với cộng đồng quốc tế, có vị thế quan trọng
hẳn hoi, nhưng vẫn duy tŕ các chính sách hướng tới biệt lập tương
đối với luồng giao lưu chính của cộng đồng thế giới, nhằm giữ bản
sắc riêng và lợi thế riêng của ḿnh trong cạnh tranh toàn cầu.
Ngay từ thời cổ xưa, Nhật Bản đă
từng nh́n vào Trung Hoa như một tấm gương, Nhật Bản cử những sứ bộ
hào hứng sang các triều Đường, Tống, Nguyên, Minh… giao lưu, có
người c̣n ở lại làm quan cho triều đ́nh Trung Hoa. Trong những chừng
mực nào đó, Nhật đă cố gắng du nhập và mô phỏng văn hoá Trung Hoa,
cải tiến cho phù hợp ở Nhật, ví dụ cải tiến chữ Hán, tham khảo các
điển tích Trung Hoa trong sáng tác văn học; nhấn mạnh tính chất
Thiền “Zen” của đạo Phật, chấp nhận một số giáo lư của đạo Khổng. Về
điểm này có thể rút ra rằng: Nhật Bản học hỏi để làm ra cái riêng
của Nhật là “Giản lược và quyết liệt”- tính chất đó được thể hiện rơ
từ những nét bút Nho, những bức tranh, cốt truyện hay đường kiếm của
họ. Và cũng may thay, Nhật Bản chưa bao giờ trở thành chư hầu nhược
tiểu của đế chế Trung Hoa như một số nước láng giềng khác, thậm chí
nhiều lúc c̣n mở rộng cửa cho các nhà cách mạng của Trung Quốc và
nước khác đến trốn tránh chính quyền đàn áp. Nhật Bản thích giữ cái
riêng của ḿnh, có giai đoạn thời Mạc phủ đă thi hành chính sách
biệt lập (Sakoku) kéo dài hơn hai thế kỉ từ 1639 đến 1859, “đóng cửa
nhưng không cài then” đối với thế giới, chỉ để một cảng buôn bán nhỏ
cho người Trung Quốc và Hà Lan ở phía nam, cho đến khi chính quyền
Tokugawa buộc phải mở cửa ba cảng biển cho các tàu buôn của Nga,
Anh, Pháp, Hà Lan và Mỹ. Chính sách biệt lập lâu dài của giai đoạn
đó cũng có mặt tích cực là góp phần giúp Nhật Bản tiếp tục xây dựng
và duy tŕ tính đồng nhất về văn hóa như tiêu chuẩn hóa ngôn ngữ, áp
dụng rộng sâu các qui tắc ứng xử và tập quán kinh tế- xă hội kiểu
Nhật, hướng nhận thức mọi người vào việc chấp nhận những phương thức
chung trong tư duy và hành động v́ cả tập thể, xă hội, quốc gia; đề
cao tinh thần cao thượng, trung tín, danh dự của samurai trong đạo
đức người Nhật. Như vậy, Nhật Bản đă chủ động, khôn khéo du nhập
tinh hoa của những nền văn hóa tiên tiến, văn minh hơn mà không bị
trải qua quá tŕnh bị đô hộ xâm lược hoặc bị ép buộc bởi bạo lực,
cưỡng bức. Ngay cả thời kỳ chiếm đóng của Mỹ sau chiến tranh (1945 -
1950) th́ dù sao Mỹ vẫn là đại diện cho phe đồng minh đóng quân ở đó
để thực hiện sứ mệnh quốc tế nhằm giải giáp hoàn toàn các thế lực
quân phiệt, giúp Nhật tái thiết sau chiến tranh.
Nhật Bản luôn có điều kiện dành cho
ḿnh khả năng tự chủ và tự do trong việc lựa chọn những khả năng và
nhân tố thích hợp cho phát triển văn hóa- xă hội và thực sự họ chọn
đường đi rất hiệu quả cho ḿnh. Có thể nói họ giữ độc lập nhưng biết
dùng chính sách t́m cách học hỏi, du nhập từ ngoài để phục vụ mục
tiêu: t́m cách đứng được trên vai những người khổng lồ để làm cho
ḿnh cao lớn nhanh.
Sau khi tiến hành cách mạng Minh
Trị ít lâu, người nước ngoài đến Nhật rất đông, người Nhật bắt đầu
học cách mặc đồ Âu mạnh mẽ, ăn bánh ḿ bơ, phó mát, dùng dao nĩa. Có
lúc tưởng chừng một số nhân tố văn hoá nước ngoài lấn át được phần
nào văn hóa bản xứ. Tới khi cao trào đó lắng dịu xuống, văn hóa
truyền thống Nhật Bản lại trỗi dậy và xảy ra quá tŕnh "Nhật Bản
hoá" những ǵ được du nhập, thâu nhận, trao đổi và học hỏi được từ
phương Tây. Chính v́ vậy, việc du nhập, tiếp biến yếu tố văn hóa
ngoại lai đă không phá hỏng, làm lai căng nền văn hóa bản xứ hay
chia cắt văn hóa xứ sở này, trái lại c̣n giúp Nhật Bản tạo dựng được
những h́nh mẫu văn hóa đặc sắc của ḿnh. Với tư cách là một quốc gia
dân tộc (nation state), Nhật Bản đă duy tŕ được nền văn hoá thuần
nhất, riêng biệt, đặc sắc của ḿnh từ thời tiền sử đến tận thời hiện
đại và điều này làm nên sức mạnh của Nhật Bản, tạo nên một vị thế
hiếm có của Nhật trên thế giới trong thời gian qua.
2. Dân tộc thuần nhất, tôn giáo hài ḥa,
phát tiển văn hóa công ty- nước Nhật có chỗ đứng cao trong cạnh
tranh quốc tế
Hiện nay, trong tổng số hơn 120 triệu dân của
Nhật, chỉ có 2-3 triệu người thiểu số chủ yếu thuộc dân tộc Ainu và
Triều Tiên, số c̣n lại đều thuộc về dân tộc Nhật. Về ngôn ngữ, tiếng
Nhật là ngôn ngữ phổ thông được dùng trên khắp lănh thổ, nhưng lại
được sử dụng ở những nước khác một cách khó khăn.
Hệ tư tưởng Nhật Bản từ xưa đến nay là sự kết
hợp một cách thực dụng giáo lư của 3 tôn giáo là Thần đạo (Shinto),
Phật giáo và Khổng giáo.
Người Nhật cho rằng tôn giáo nếu
dùng đúng mức độ, liều lượng th́ có tác dụng như thang thuốc gia
truyền có tính bổ dưỡng cao và dùng được lâu dài, v́ vậy, họ kính
trọng và theo tôn giáo rất đông (Năm 1889- Minh Trị thứ 22 đă ban
hành hành Hiến pháp nêu rơ “Toàn thể nhân dân Nhật Bản đều có quyền
tự do tín ngưỡng”), v́ thế có nhiều người Nhật là tín đồ cùng một
lúc của 2- 3 tôn giáo. Người ta ước tính hiện số người theo Thần đạo
khoảng hơn 54 %; theo đạo Phật chừng xấp xỉ 41 %; theo Thiên chúa
giáo gần 1 % c̣n lại là các tôn giáo khác. Nói về đời sống tôn giáo
ở Nhật có người nói: khi tổ chức đám cưới người Nhật hay tổ chức
theo phong tục Thần đạo ở đền hoặc một số người theo nhà thờ Thiên
chúa giáo, trong cuộc sống th́ vận dụng một số triết lư của đạo
Khổng, đến khi qua đời lại làm theo phong tục Phật giáo ở các chùa.
Xét về lịch sử, Thần đạo là tôn giáo phổ biến nhất, xuất hiện sớm
nhất tại Nhật. Thần đạo suy tôn dân tộc Nhật- dân tộc Đại ḥa là cao
quư hơn mọi dân tộc khác, Nhật Bản là nước mẹ (Oyaguni) của các dân
tộc, chủng tộc khác và là đất nước của các thần thánh (Shinkoku) c̣n
hoàng đế Nhật được tôn vinh là hiện thân của trời xuống cai quản dân
chúng Nhật. Thần đạo là cơ sở văn hóa tâm linh, có ư nghĩa nhất định
trong việc thống nhất nước Nhật, nó khuyến khích, đề cao lẽ sống
trung tín, kỷ luật, xả thân v́ cấp trên, v́ Thiên hoàng tối thượng.
V́ thế, thời phong kiến khi v́ lănh chúa, hoặc trường hợp sau chiến
tranh thế giới thứ 2, khi Thiên hoàng buộc đầu hàng đồng minh, nhiều
quân nhân đă tự sát để thể hiện ḷng trung của ḿnh.
Đạo Phật được du nhập vào Nhật từ
năm 538 từ ấn Độ qua ngả Triều Tiên, Trung Quốc, người Nhật được coi
là hóa thân của đức Thích Ca và sáng lập ra Phật giáo Nhật Bản là
Thái tử Shotoku (572- 622). Triết lư ‘Nhân quả” được người Nhật vận
dụng không chỉ trong lối sống mà vào trong mọi lĩnh vực, kể cả khoa
học kỹ thuật, kể cả vũ trụ quan “Nhỏ trong to, to trong nhỏ”- trong
cái to có chứa cái nhỏ và ngược lại, v́ thế phải bắt đầu làm việc
tốt từ những việc nhỏ và trong kỹ thuật, nếu hiểu được điều này th́
mọi kết cấu sẽ theo hướng hợp lư, tiện lợi, đẹp đẽ, chứa đựng cả
triết học lẫn mỹ học và luật “nhân quả”.
Tư tưởng Nho giáo được du nhập vào
Nhật Bản từ thế kỉ thứ V sau công nguyên. Nhiều chuyên gia đă gọi
chủ nghĩa tư bản ở Nhật là “chủ nghĩa tư bản Khổng tử” không phải là
không có lư. Nhiều điểm trong tư tưởng Nho giáo được Nhật Bản vận
dụng hiệu quả về cách tu thân của kẻ sĩ, trách nhiệm nghĩa vụ, đạo
lư của mọi người nhất là kẻ sĩ trong xây dựng chính quyền và quốc
gia. Có điều người Nhật tiếp thu không máy móc, từ xa xưa người Nhật
luôn tự hào về thế mạnh có năng lực tháo vát, ứng biến trong cuộc
sống thực tiễn, họ gọi là “Yamato damashi- Tinh thần Nhật Bản”, nên
các điều xơ cứng của đạo Khổng th́ không được tiếp nhận ở Nhật, v́
họ cho rằng không chỉ đạo Khổng mà nhiều tư tưởng khác của Trung Hoa
mang tính sách vở hàn lâm- tức là “Kara zae”. Đến tận ngày nay,
chính phủ Nhật vẫn sử dụng các cố vấn rất đa dạng. Họ có thể gồm các
chuyên gia tài chính, tiền tệ; các nhà văn hóa; những nhà kinh tế
theo học thuyết Keynes, những người ủng hộ kinh tế học Mác-xít; các
học giả say mê triết học Trung Hoa. Một điều hơi đặc biệt là trong
khi nhiều nước càng hiện đại hóa th́ các tôn giáo có xu hướng bị thế
tục hóa, nhưng Nhật Bản th́ tôn giáo vẫn tồn tại như một thành tố
văn hóa quan trọng làm nên sự độc đáo, hài ḥa, an b́nh, cân bằng
trong xă hội hiện đại.
Người Nhật không chỉ học tập về tư
tưởng nước ngoài mà họ thấy được cốt lơi sự tŕ trệ đất nước thời
Mạc phủ là doanh nghiệp yếu kém, văn hóa Nhật lúc đó không tôn trọng
thương nhân, thế là họ hô hào tầng lớp được tôn quư nhất xă hội là
vơ sĩ tham gia đi đầu trong kinh doanh, buôn bán. Họ cũng nhận ra
rằng: muốn phát triển thương nghiệp th́ nhanh nhất là học các nước
phương Tây đă có nền thương mại phát triển lâu đời cùng với luật
pháp chuẩn mực, bảo đảm. Có thể nói, khẩu hiệu “Obei ni oikose”
(Vượt lên trên châu Âu và nước Mỹ) là hiệu kèn và mệnh lệnh chiến
đấu của nhà nước Minh Trị nhằm đuổi kịp phương Tây về kinh tế, quân
sự và lấy lại danh dự cho quốc gia.
Sau những năm Minh trị Duy tân,
Nhật Bản đă chuyển từ một nước phong kiến lạc hậu thành một nước
công nghiệp hóa nhờ học tập và áp dụng đúng cách nhiều lĩnh vực từ
phương Tây để đạt mục tiêu “Phú quốc, cường binh” (Fukoku Kyohei),
tránh được họa xâm lăng của các cường quốc và xây dựng đất nước
cường thịnh lâu dài. Để có nền pháp trị làm chuẩn mực xă hội và được
quốc tế công nhận là một nước đứng vào hàng ngũ các nước phương Tây
văn minh, Nhật Bản đă tham khảo hệ thống pháp luật của các nước tiên
tiến như Anh, Mỹ, Đức, Pháp để soạn thảo và ban hành một hiến pháp
thành văn.
Có luật pháp làm nền tảng, người Nhật học tập
mô h́nh nghị viện, mở rộng nền dân chủ, thúc đẩy phương tiện thông
tin đại chúng phát triển, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp lớn
mạnh, xây dựng văn hóa doanh nghiệp Nhật. Xin tổng kết một số nét cơ
bản trong văn hóa doanh nghiệp Nhật, được xây dựng nhờ quá tŕnh học
tập nước ngoài và xây dựng, phát triển trên cơ sở văn hóa Nhật:
- Trước tiên, doanh nghiệp Nhật xem trọng chất
lượng lượng toàn diện (Chất lượng từng khâu sản xuất chứ không chỉ
chất lượng cuối cùng + tinh thần trách nhiệm, đạo đức làm việc của
nhân viên toàn doanh nghiệp).
- Các thành viên công ty đều được coi là các
khâu quan trọng trong hoạt động doanh nghiệp. Khâu này tôn trọng
hoạt động của khâu kia, tín nhiệm khâu kia và hỗ trợ nhau cùng phát
triển. Tôn trọng quyền cá nhân và tín nhiệm nhân viên, nhưng có kiểm
tra, đánh giá. Cũng chính sự tôn trọng và tín nhiệm này đă mở rộng
tuyệt đối phạm vi trách nhiệm của cá nhân nên các vấn đề nảy sinh
rất ít.
- Duy tŕ quan hệ chan ḥa, để hễ ai có vấn đề-
nhất là liên quan đến đạo đức th́ phát hiện giải quyết ngay. Người
Nhật chú trọng lễ nghi, thứ bậc, coi đó là một tiêu chí để đánh giá
về một cá nhân, một tổ chức, một cộng đồng nhưng mọi người dù các vị
trí khác nhau vẫn hay tổ chức giao lưu, chơi thể thao, đi picnic
ngoài giời làm việc rất thân ái.
- Xây dựng sự đồng thuận, nhất trí cao, tránh
manh mún, bè phái là miếng đất cho kẻ xấu len lỏi, cơ hội.
- Tận tụy, hết ḷng v́ công việc được giao là
một biểu hiện của đạo đức kinh doanh Nhật. Nhân viên và doanh nghiệp
là một chỉnh thể thống nhất, cùng thực hiện mục tiêu của doanh
nghiệp, do đó toàn thể nhân viên có thể hy sinh hết thảy cho lợi ích
doanh nghiệp
- Nhỏ trong to và to trong nhỏ, việc ǵ nhỏ mà
có lợi cho tu dưỡng cũng làm việc ǵ lợi to mà hại cho doanh nghiệp
cho xă hội cũng không làm th́ không bị sa ngă, tay nhúng chàm. Phát
huy lợi thế quy mô nhỏ của các đơn vị nhỏ trong doanh nghiệp: ít
người- giảm phiền hà quan hệ dưới trên và dưới; lợi thế về uyển
chuyển linh động- thuận tiện cho quá tŕnh sản xuất; dễ huy động
toàn bộ nhân viên vào việc tham gia quản lư, nghiên cứu, áp dụng các
sáng tạo, sáng kiến …
- Có tinh thần hợp tác chặt chẽ giữa các nhân
viên, giữa cấp trên và dưới, giữa doanh nghiệp và nhà nước, giữa
doanh nghiệp với khách hàng.
- Trong doanh nghiệp và rộng ra cả xă hội,
người Nhật dân chủ trong bàn bạc rộng răi khi t́m sáng kiến, nhưng
khi quyết định th́ người lănh đạo chịu trách nhiệm lựa chọn, tổ chức
thực hiện. Văn hóa Nhật thiên về mềm dẻo trong ứng xử giao tiếp
nhưng cương quyết bảo vệ quan điểm và quyền lợi của ḿnh. Trọng tầng
lớp elite tài năng, chân chính của xă hội nên có chính sách đúng
trong sử dụng, đăi ngộ, xây dựng phát triển và tôn vinh họ tương
xứng với đóng góp của họ…
Phân tích, nhấn mạnh các đặc điểm
văn hoá nói trên chúng tôi muốn làm rơ thêm việc người Nhật đă thực
hiện nhuần nhuyễn quá tŕnh dung hợp giữa văn hoá bản địa với văn
hóa ngoại quốc, tạo ra một nền văn hoá mới vừa khác với cái ngoại
nhập, vừa cao hơn cái ḿnh vốn có, điều đó góp phần làm nên hương
sắc văn hoá Nhật Bản trong vườn hoa văn hóa thế giới và trong nền
kinh tế toàn cầu, hàng hóa mang thương hiệu Nhật có sức cạnh tranh
cao, được đông đảo khách hàng thế giới ưa chuộng...
3. Suy nghĩ về những thách thức mới đối với
văn hóa Nhật
Nước Nhật hùng mạnh là thế nhưng gần một thập
niên qua lại lâm vào khủng hoảng nhiều mặt. Sự khủng hoảng đó không
phải do những yếu tố mang tính chu kỳ mà là do nhiều nguyên nhân từ
cơ cấu bên trong- có những nhân tố văn hóa góp phần.
Thời gian qua, ngay cả văn hóa chính trị Nhật
cũng có biểu hiện suy thoái. Người Nhật xấu hổ khi nhớ tới vụ Hăng
sản xuất máy bay Mỹ Lockheed hối lộ chính phủ Tanaca năm 1976 làm
hàng loạt quan chức liên đới, thủ tướng Tanaca phải từ chức. Đầu năm
1998, các kiểm soát viên đă t́m ra những chứng cứ tham nhũng ở Bộ
Tài chính và Ngân hàng Trung ương khiến Bộ trưởng tài chính từ chức,
Phó Thủ tướng cũng từ chức, Thống đốc ngân hàng mất chức, nhiều quan
chức tài chính phải tự tử. Trước đó (6/1993) là vụ nghị sĩ Shin
Kanemaru- được mệnh danh là người giật dây trong hậu trường nền
chính trị bị phát hiện đi lại với mafia Nhật, trốn thuế và có những
hành vi trái với quan niệm văn hóa về giới elite nước Nhật đă làm
nhiều người dân thất vọng. Họ đă gây nên những cú sock lớn làm mất
ḷng tin trong giới trẻ và dân chúng. Thực ra, ông Ozawa, người đứng
đầu phái “Diễn đàn cải cách 21” và sau này là lănh đạo Đảng “Đảng
đổi mới” (Shinsshinto) đă nhận ra rằng: Bộ máy chính trị của Nhật là
bộ máy để nắm giữ những cấu trúc cũ, nó không thích hợp cho việc
tiến hành những cải cách. Trong nhiệm kỳ này, dù Thủ tướng Koizumi-
người của Đảng Dân chủ Tự do đă nhận thức được sự xơ cứng, bảo thủ,
cố duy tŕ đặc quyền, đặc lợi của Đảng ḿnh nên t́m cách giải quyết
vấn nạn phe phái trong đảng, cải tổ đảng nhưng không phải một sớm
một chiều thay đổi được những cung cách, lề thói cũ đă hằn sâu thành
tập quán, ứng xử văn hóa trong giới chính trị Nhật. Mặt khác, chúng
ta khâm phục những nhân tố tích cực của văn hóa samurai chính thống
nhưng chúng ta phải hiểu rằng có những khía cạnh của samurai gần như
là mặt trái của huy chương, nếu bị lợi dụng. Ví dụ, khi cách mạng
Minh Trị được phát động, những kẻ bảo thủ chống đối đă khuyến khích
sự ra đời của chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Năm 1881, Mitsuru Toyama,
một samarai cấp thấp đảo Kyushu đă lập tổ chức “Huyền dương xă”- tập
hợp Liên minh của những hiệp hội dân tộc chủ nghĩa và các nhóm yêu
nước toàn Nhật theo đường lối chính trị cực hữu, bẩn thỉu như ám
sát, khủng bố, tống tiền, mua chuộc và đầu thế kỷ XX, các nhóm mafia
Yakuza ồ ạt tham gia tổ chức này để chống lại công đoàn của công
nhân. Ngược thời gian, khi hàng ngàn năm nội chiến chấm dứt vào
1604, hàng trăm ngàn samurai thất nghiệp, những người không giữ được
phẩm chất đă trở thành lưu manh (gurentai), nhiều người trở thành
bán hàng rong (tekiya), gá bạc (bakuto), chính 3 loại người này tập
hợp nhau thàng bang hội và người dân gọi miệt thị là Yakuza (Tiếng
Nhật là bát cửu tam- cộng lại bằng 20- con số bét nhất trong bài cào
3 cây). Năm 1919, các nhà chính trị cực hữu c̣n thành lập “Đại Nhật
Bản túy hội” (Dai Nippon Kokusa-kai) với ṇng cốt là nhiều nhóm
Yakuza, góp phần thúc đẩy Nhật vào hướng phát xít hóa và thua trận
năm 1945. Ngày nay, tại Nhật Yakuza vẫn hoạt động và thu về nhiều
lợi nhuận. Đă có những dấu hiệu về sự “đi đêm” của một số nhà chính
trị thoái hóa với Yakuza để được ủng hộ tài chính trong tranh cử
hoặc gây áp lực với đối thủ. Đó là những biểu hiện không thể chấp
nhận được trong văn hóa chính trị, mà trong cải cách hiện đại nước
Nhật cũng phải tính đến, nhất là trong thực tiễn, văn hóa doanh
nghiệp đă có nhiều cải cách, v́ vậy văn hóa chính trị với vai tṛ
đầu tàu của ḿnh cần sớm có những bước chuyển tương xứng. Một đất
nước, một xă hội có thể tồn tại các giai tầng khác nhau. Họ có thể
coi trọng các giá trị khác nhau, nhưng giá trị văn hóa chủ lưu của
xă hội phải là giá trị thuộc về sự chân chính, minh bạch. Người ta
hay nói đến ở đâu có một xă hội pháp trị, tôn vinh sự cao thượng,
nhân bản, dân chủ, hào hiệp và ở đó các nhà lănh đạo là tấm gương về
các phẩm chất đó th́ văn hóa chủ đạo trong xă hội với những giá trị
nói trên sẽ thắng thế, đất nước sẽ dễ tập hợp các sức mạnh lại thành
một hợp lực to lớn để phát triển bền vững, lâu dài. Về văn hóa cơ
chế, nhiều người Nhật vẫn suy nghĩ theo lối đóng khung “Thinking
box”, theo những đường ṃn lâu nay đă quá quen thuộc, trong khi cơ
chế làm việc thời kỳ mới đ̣i hỏi thông thoáng hơn. Chắc chắn muốn
phát triển lên nữa, Nhật Bản phải có sự điều chỉnh và thay đổi văn
hóa, nghĩa là theo như cách gọi hiện nay là phải chia tay với sự tôn
thờ tính độc nhất. Người Nhật đă tự hào rằng họ là một ṇi giống
đồng nhất, độc nhất và khác về về cơ bản tất cả các quốc gia khác,
thể hiện qua tính độc nhất về huyết thống chủng tộc, về văn hóa và
quan niệm sùng bái Thần đạo của họ. Đối với đa số người Nhật, thế
giới được chia làm 2 phần: người Nhật Bản và những người không phải
Nhật Bản. Ngay cả những người Nhật sống lâu năm, hay đi du học ở
nước ngoài từ nhỏ, nếu muốn tái ḥa nhập vào xă hội Nhật th́ cực kỳ
khó khăn. Trước đây, tính độc nhất, thuần nhất đă đem lại cho người
Nhật sức mạnh thần kỳ, nhưng ngày nay câu chuyện thần thoại đó đang
trở thành gánh nặng. Ngày nay, xă hội thông tin, kinh tế tri thức,
sự toàn cầu hóa đ̣i hỏi sự cởi mở. Dù chính phủ và giới chính trị
vẫn chưa tích cực khơi mào, đột phá cho sự thay đổi cơ cấu của hệ
thống, nhưng có thể thấy rằng một cuộc cách mạng thầm lặng về thay
đổi đang diễn ra. Trước hết sự thay đổi trong lĩnh vực văn hóa kinh
doanh đang lan dần sang các lĩnh vực khác. Nhiều tập đoàn, công ty
Nhật bắt đầu từ bỏ hệ thống thuê nhân công suốt đời, thay thế việc
trả lương và thăng cấp theo tuổi tác, năm công tác bằng cách trả
lương và thăng cấp theo năng lực và thậm chí c̣n công nhận giá trị
cổ phiếu là một trong những mục tiêu của công ty. Những dấu hiệu đó
cho thấy người Nhật đă nhận thức sâu sắc về những hạn chế của ḿnh.
4. Kết luận
Trong thế kỷ XXI này, Nhật Bản đang tiếp tục
chuẩn bị cho ḿnh những tiền đề cơ sở khoa học, kỹ thuật để từ đó đi
vào những lĩnh vực mà Nhật có khả năng cạnh tranh mạnh. Dù sao nền
tảng văn hóa đă tạo nên sự thần kỳ Nhật Bản vẫn c̣n nguyên: đó là
những phẩm chất cao thượng, tín nghĩa, v́ quốc gia của người samurai
chân chính; tính chăm chỉ, cần cù, kỷ luật, óc thẩm mỹ, tính đồng
đội, trọng danh dự; tŕnh độ chuyên môn cao. Ngoài ra, chất lượng
sản phẩm tốt, đẹp của các sản phẩm công nghiệp và hệ thống sản xuất
hiện đại, uy tín làm ăn và một khi nhiều tập đoàn, công ty Nhật đứng
vào hàng đầu đẳng cấp quốc tế nếu được cơ cấu lại theo kiểu Âu Mỹ sẽ
làm ăn có lăi lớn, tăng trưởng vượt bậc.
Về nội lực, Nhật vẫn có khả năng chủ động để
tương thích với những thay đổi do quá tŕnh toàn cầu hóa mang lại.
Văn hóa Nhật đă làm nên vị thế riêng của Nhật, nhưng trong một thế
giới mở cửa liên thông với nhau, ngày càng phụ thuộc lẫn nhau chắc
chắn nước Nhật phải có những điều chỉnh để tiếp tục phát huy vị thế
trong thời đại mới, một thời đại phức tạp hơn, thay đổi nhanh hơn
bởi kinh tế tri thức mang lại./.
Tài liệu tham khảo
1. George Sansom, Lịch sử Nhật Bản, NXB
KHXH, Hà Nội 1999, T 1.
2. Mochio Morishima, Tại sao Nhật Bản
thành công? Công nghệ phương Tây và Tính cách Nhật Bản, NXB KHXH, Hà
nội, 1991.
3. TS. Lê Thanh B́nh, Những thay đổi
bước đầu trong quản trị nhân sự của Nhật Bản, Kỷ yếu Hội thảo quốc
gia- Đông phương học lần thứ nhất, NXB Đại học QG, HN 2000.
4. Tài liệu phục vụ Hội nghị TW 3 -
Khoá VIII, 1997. TS. Lê Thanh B́nh, Tổ chức bộ máy Nhà nước Nhật,
Kinh nghiệm truyền thống và những cải cách hiện đại.
5. Warren S. Hunsberger, ed., Japan's
Quest: The search for international role, recognition, and respect,
East Gate Book, New York, 1997.
6. Konrad Seitz, Cuộc chạy đua vào thế
kỷ XXI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2004.