|

|
Setsuwa (thuyết thoại) của
Nhật Bản
dưới góc
nh́n của văn học so sánh
Trung tâm là nihonreiki (nhật
bản linh dị lư)
và kon JAKUMONOGATA RI (kim tích vật ngữ tập)
Nguyễn Thị Oanh
Viện Nghiên cứu Hán Nôm (*)
Setsuwa (Thuyết thoại) là cách gọi chung cho
thể loại thần thoại, truyền thuyết và truyện kể dân gian Nhật Bản.
Trong kho tàng Thuyết thoại Nhật Bản, Nihonreiki (thế kỷ thứ 9) và
Konjakumonogatarishu (thế kỷ thứ 12) được coi là hai tác phẩm tiêu
biểu, ra đời vào thời kỳ Phật giáo và văn học Trung Quốc được du
nhập và phát triển rực rỡ tại Nhật Bản. Sau khi chữ Kana ra đời,
Thuyết thoại ngày càng phát triển và chiếm một vị trí quan trọng
trong lịch sử văn học Nhật Bản. Tuy số lượng không nhiều song giá
trị mà nó đem lại vô cùng to lớn, không chỉ cho việc nghiên cứu văn
học Nhật Bản, mà cho cả việc nghiên cứu lịch sử văn học so sánh ở
Đông Á.
Cũng như Nhật Bản, Việt Nam là nước chịu ảnh
hưởng của hai nền văn minh lớn là Trung Quốc và Ấn Độ. Khi chữ Hán
chính thức được coi là công cụ ghi chép, ở Việt Nam đă xuất hiện các
sưu tập Thuyết thoại viết bằng chữ Hán, chữ Nôm. Tiêu biểu cho thể
loại này là các tác phẩm Lĩnh Nam chích quái, Việt điện u linh,
Truyền kỳ mạn lục, Công dư tiệp kư, Lan tŕ kiến văn lục... Các tác
phẩm trên thực sự đă chiếm một vị trí quan trọng trong văn xuôi tự
sự Việt Nam thời trung đại. Do bắt nguồn từ truyện kể dân gian, lại
chịu ảnh hưởng của văn học Trung Quốc, Thuyết thoại của hai nước
Việt Nam, Nhật Bản tuy không có mối quan hệ giao lưu trực tiếp song
sự lưu thông giữa các motip và sự hoán cải các motip và cốt truyện
giữa tác phẩm của hai nước có nhiều nét tương đồng. Truyện Bắt thần
Sấm trong Nihonreiki của Nhật Bản, Truyện Cường Bạo đại vương trong
Công dư tiệp kư của Việt Nam, Truyện Vương Cán trong Dậu dương tạp
trở, Truyện Dương Đạo Ḥa trong Sưu thần kư của Trung Quốc... đều có
cùng cốt truyện, với một kết cấu hoàn chỉnh từ nhân vật, địa điểm,
h́nh dáng thần Sấm, phương pháp bắt thần Sấm, Sự trả ơn và báo thù
của thần Sấm, sự tôn vinh người bắt thần Sấm... Hay motip "cây" với
các không gian thiêng trên cây, dưới cây, các vật lạ trên cây...
trong Konjakumonogatarishu của Nhật Bản có nét tương đồng với các
truyện về "cây" trong Lĩnh Nam chích quái, Thiền uyển tập anh, Việt
điện u linh... của Việt Nam, Băo Phác Tử, Nhâm thị truyện, Minh báo
kư... của Trung Quốc, cho thấy "tính nhân loại", "tính khu vực" đă
tạo ra nét chung trong sáng tạo nghệ thuật của tác giả ba nước. Bên
cạnh đó, nét riêng độc đáo được h́nh thành từ đặc điểm địa lư,
truyền thống dân cư, ngôn ngữ dân tộc, tâm lư cộng đồng... cũng đă
tạo ra những mảng màu khác biệt, làm cho bức tranh chung về Thuyết
thoại khu vực trở nên hấp dẫn và lôi cuốn.
I. Vài nét về Setsuwa của Nhật Bản và Việt
Nam
1. Về khái niệm Thuyết thoại
說
話(Setsuwa).
Setsuwa (từ đây chúng tôi gọi là Thuyết thoại)
theo định nghĩa của Từ điển chuyện cổ tích Nhật Bản
日
本
昔
話
事
典
(Nihon muka shibana shi jiden)(1) là cách gọi chung cho các chuyện
được kể theo một chủ đề nhất định. Khái niệm này được sử dụng rộng
răi trong giới nghiên cứu. Trong văn học Nhật Bản, người ta phân
loại văn học tự sự thời Thượng đại (khoảng trước sau thời đại Nara,
71- 784) thành thần thoại, truyền thuyết, thuyết thoại. Thuyết
thoại, ngoài thần thoại và truyền thuyết c̣n được quan niệm là thể
loại có dây mơ rễ má với văn xuôi tự sự. Hoặc, người ta coi thuyết
thoại là các câu chuyện ngắn, không tuân theo những quy định nghiêm
ngặt, khác xa với thể loại monogatari là ḍng chủ lưu của tản văn
thời ḱ Heian (khoảng 400 năm từ thời Thiên hoàng Kanmu 737 - 806
cho đến Kamakura Bakufu 1206). Sau thời kỳ Heian, các sưu tập về
thuyết thoại chủ yếu là các truyền thuyết về kinh Phật ở các chùa
chiền, tuy được kể thành từng chuyện, nhưng vẫn như trước, thuyết
thoại chỉ được coi là một thể loại tản văn mang tính "đoản thiên" và
"sắp xếp các t́nh tiết câu chuyện" mà thôi. Hơn thế nữa, trong văn
học Nhật Bản, thuyết thoại được dùng để gọi chung không hạn định cho
loại h́nh truyện kể dân gian, truyện truyền miệng đă được văn bản
hóa. Cũng có nghĩa trong văn học Nhật bản, Thuyết thoại được sử dụng
một cách khá linh hoạt. Trong lĩnh vực Dân tục học Nhật Bản, các nhà
nghiên cứu ít dùng thuật ngữ thuyết thoại, nhưng đối với những
truyện kể dân gian được định h́nh bằng chữ Hán, th́ mọi người lại
thường xuyên sử dụng thuật ngữ thuyết thoại. Với nghĩa rộng, nó bao
gồm cả truyện kể Phật giáo, truyền thuyết dân gian, truyện cổ tích
và truyện thế tục, trong đó có cả truyện cười, truyện châm biếm...
2. Các sưu tập thuyết thoại nổi tiếng trên
thế giới và Nhật Bản.
Theo nhà nghiên cứu Nhật Bản Kono Tatsu
今
野
達
(trong Từ điển truyện cổ tích Nhật Bản), sưu tập thuyết thoại cổ
nhất trên thế giới có thể kể đến các tác phẩm như Truyện kể AEdop,
thời cổ đại Bồ Đào Nha, ra đời vào khoảng thế kỷ 6 trước công
nguyên; Ngh́n lẻ một đêm, Truyện kể Jataka (Phạn ngữ), thời Ấn Độ cổ
đại; hay các truyện chí quái thời Hán, Ngụy, Lục triều của Trung
Quốc. Thuyết thoại cổ nhất của Nhật Bản hiện c̣n là Nihonreiiki
(Nhật Bản linh dị kư)
日
本
靈
異
記 , ra
đời vào năm Konin 14 (823), tác giả là nhà sư Kekai
景
戒 (sẽ
được giới thiệu cụ thể dưới đây). Cùng hệ phả với Nhật Bản linh dị
kư c̣n có Nihon kanrei roku (Nhật Bản cảm linh lục)
日
本
感
靈
錄, do nhà
sư Gisho 僧
義
詔 soạn
vào năm Kasho 嘉
祥 thứ 3
(850); Sanbo eji (Tam bảo hội từ)
三
寶
繪
詞 do
Gentame Nori 源
為
憲 biên
soạn vào năm Eikan 永
觀 thứ 2
(984); Nihon ojyo kyorakuki (Nhật Bản văng sinh cực lạc kư
日
本
往
生
極
樂
記 do
Yoshishige Yasutane 慶
滋
保
胤 soạn
vào Kan wa 寬
和 thứ 2
(986) Các truyện văng sinh, tín ngưỡng Pháp Hoa kinh như Nihon
hotsuke genki (Nhật Bản pháp hoa nghiệm kư)
日
本
法
華
驗
記
(1044) hay Uchigikishu (Đả khai tập)
打
開
集
(1134) đều do nhà sư Chingen
僧
鎮
源 biên
soạn. Tất cả các tác phẩm kể trên đều là truyện kể Phật Giáo. Cùng
hệ phả này đến đầu thế kỷ 12 (1110) c̣n có tác phẩm Hotsuke shuho
itsuhyaku kikigaki sho (Pháp Hoa tu pháp nhất bách ṭa văn thư pháp)
法
華
修
法
一
百
座
聞
書
抄 ,
được coi là tư liệu quan trọng để t́m hiểu về t́nh h́nh thuyết kinh
(giảng giải kinh Phật) thời bấy giờ. Sang đầu thế kỷ thứ 10, nở rộ
phong trào sưu tầm, ghi chép truyện cổ tích, truyện lạ trong dân
gian. Đi đầu là tác phẩm Zengehiki (Thiện gia bí kí)
善
家
秘
記 của
Miyoshiki Kyotsura 三
善
清
行 ; thứ
hai là Kike kaii jitsu roku (Kỉ gia quái dị thực lục)
紀
家
怪
異
寔
錄 . Cả hai
tác phẩm đều là sưu tập truyện quái dị được viết bằng Hán văn và đều
là tác phẩm chịu ảnh hưởng của tiểu thuyết chí quái thời Lục triều,
thời Đường. Có thể nói, sự ra đời của thuyết thoại Nhật Bản, bao gồm
cả truyện kể Phật giáo đều xuất phát từ việc coi trọng các cuộc tiếp
xúc với các sách vở đến từ Trung Quốc.
Sau khi chữ Kana ra đời, phong trào ghi chép
truyện kể dân gian ngày một phát triển. Đầu thế kỷ thứ 12,
Konjakumonogatarishu (Kim tích vật ngữ tập)
今
昔
物
語
集 - tác
phẩm ghi chép truyện dân gian đồ sộ ra đời. Kim tích vật ngữ tập
không chỉ là sưu tập truyện kể Phật giáo mà c̣n là tác phẩm mang
tính thế giới, bao quát vào nó cả truyện thế tục không chỉ của Nhật
Bản, mà c̣n có cả truyện kể dân gian Ấn Độ và Trung Quốc (xin giới
thiệu dưới đây). Đến sau thời ḱ Kamakura
鐮
鎗
thuyết thoại tuy không ra khỏi khuôn khổ cơ bản đă được định h́nh từ
thời Heian 平
安 đó là
ghi chép truyện kể Phật giáo và thế tục, nhưng số lượng tác phẩm đă
tăng một cách mạnh mẽ, nội dung cũng phong phú hơn rất nhiều. Có thể
nói từ thời ḱ đầu Kamakura đến Trung ḱ là thời đại của thuyết
thoại... trong đó nổi tiếng có Kojidan (Cổ sự đàm)
古
事
談 ,
Zoku kojidan (Tục cổ sự đàm)
續
古
事
談,
Kokon cho mon jyu (Cổ kim trứ văn tập)
古
今
著
聞
集 là
những sưu tập truyện kể Phật giáo và dân gian của tầng lớp quư tộc
quan nhân có hứng thú với thuyết thoại và cổ thư. Một số tác phẩm
thuyết thoại được viết theo lối Kana như Uji shu i monogatari (Vũ
trị thập di vật ngữ)
宇
治
拾
遺
物
語 ,
Kohon setsuwa shu (Cổ bản thuyết thoại tập)
古
本
說
話
集 , Kon
monogatari (Kim vật ngữ)
今
物
語 ; Một
số tác phẩm như Hasshin shu (Phát tâm tập)
發
心
集 ,
Shen jyu sho (Soạn tập sao)
撰
集
抄... ra
đời do nhu cầu học đạo, t́m đến cuộc sống tu thân thanh tịnh của
những người muốn xuất gia lánh đời. Những thuyết thoại mang nội dung
giáo huấn, dạy cách ứng xử, nổi tiếng có sưu tập thuyết thoại của ba
nước Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản như Shi ju hyaku in nen shu (Tư tụ
bách nhân duyên tập)
私
聚
百
因
緣
集 , Chu
ko sen jyu (Chú hảo soạn tập)
注
好
撰
集 , và
các tác phẩm khác như Ho butsu shu (Bảo vật tập)
寶
物
集 , Sha
seki shu (Sa thạch tập)
沙
石
集 , So
tan shu (Tạp đàm tập)
雜
談
集 .
Trong đó đáng chú ư có Shin do shu (Thần đạo tập)
神
道
集 ,
được chùa Angu biên soạn vào thời Nam Bắc triều (1336-1392); Ngoài
ra c̣n có San goku ten ki (Tam quốc truyện kư)
三
國
傳
記 được
biên soạn vào đầu thời Muromachi (1392-1573) vừa là sưu tập thuyết
thoại nối theo truyền thống của Kon jakumonogata ri shu (Kim tích
vật ngữ tập) 今
昔
物
語
集 và
Shi ju hyaku in nen shu (Tư tục bách nhân duyên tập)
私
聚
百
因
緣
集 , vừa
là thuyết thoại của thời Tam quốc. Từ cuối thời Mu romachi đến sơ ḱ
thời Cận thế đă xuất hiện các truyện quái dị và tiếu lâm như Ki i so
tan shu (Ḱ dị tạp đàm)
奇
異
雜
談 và
Sei sui sho (Tỉnh thụy tiếu)
醒
睡
笑 , tuy
nhiên những sưu tập thuyết thoại truyền thống ngày càng thưa, và mai
một dần trong phong trào văn học mới Genre (Janru) (thơ, tiểu
thuyết, hí khúc). Người ta đă đưa một phần của thuyết thoại thời cận
thế vào Kanajoshi (đoản biên tiểu thuyết thời kỳ Edo)và Hanashiban,
một phần được đưa vào Tùy bút. Độ dày của các sưu tập thuyết thoại
thời cận thế đă được tổng ḥa một cách thực chất hơn ở các thuyết
thoại được biên soạn tiếp sau này cho đến thời cận đại và chiếm một
vị trí khá quan trọng trong lịch sử văn học Nhật Bản. Số lượng các
tác phẩm cũng nhiều hơn, trong đó đáng chú kư có Do dan sho (Giang
đàm sao) 江
談
抄 , Fu
ke go (Phú gia ngữ) 富
家
語 , Chu
gai sho (Trung ngoại sao)
中
外
抄... là
các thuyết thoại ghi chép truyện kể của các gia tộc lớn; Kyo gun sho
(Giáo huấn sao) 教
訓
抄 ,
Zoku kyo gun sho (Tục giáo huấn sao)
續
教
訓
抄... là
các thuyết thoại bằng tranh vẽ cuộn thu thập các truyện lợi sinh và
duyên khởi của thần phật. Về thuyết thoại kỹ nghệ có các tác phẩm
Kyogun sho (Giáo huấn sao)
教
訓
抄 ,
Zoku kyogun sho (Tục giáo huấn sao)
續
教
訓
抄 ; hay
các tập xướng đạo có Gen sen shu (Ngôn tuyền tập)
言
泉
集 và
Ten bo rin sho (Truyền pháp luận sao)
轉
法
論
抄 . Đây
là những tác phẩm không thể thiếu khi nghiên cứu Setsuwashu của Nhật
Bản. Quả thực số lượng các sưu tập thuyết thoại của Nhật Bản chỉ nói
một lời là hết nhưng giá trị mà nó đem lại vô cùng lớn, đặc biệt cho
việc nghiên cứu về truyện kể dân gian mà đầu tiên là truyện cổ tích
Nhật Bản (Nihon muka shibana shi). Tuy nhiên các thuyết thoại cho
đến nay vẫn chưa được chỉnh lư và sử dụng một cách có hiệu quả. Việc
phân loại tuy dựa vào tính cách và nội dung của thuyết thoại nhưng
vẫn chưa đi đến được cách phân loại có tính tổ chức, tính tổng hợp
để có thể bao quát được toàn bộ những thủ pháp nghệ thuật, h́nh thức
biên tập hay ư đồ biên tập với đối tượng là toàn bộ tác phẩm. Việc
khảo sát các sưu tập thuyết thoại mới chỉ dừng ở việc khảo sát một
bộ phận như cốt truyện, motip, và đó vẫn c̣n là vấn đề tồn tại của
tương lai.
3. Các sưu tập Kanbun setsuwa (Hán văn
thuyết thoại) ở Việt Nam.
Ở Việt Nam, các tác phẩm thuộc loại h́nh
truyện, kư, tạp thuật, tiệp kư (ghi nhanh), chí dị, truyền kỳ...có
nội dung ngắn gọn, được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm trong văn xuôi
tự sự trung đại, chưa có sự thống nhất về tên gọi thể loại. Tùy theo
tiêu chí và cách lựa chọn tác phẩm mà có cách gọi khác nhau, ví dụ:
Truyện kư (2)(3); Truyện cổ (4), Thần thoại, Chuyện thần quái,
Chuyện vặt (5); Văn tự sự, truyện kư (6); Tiểu thuyết chữ Hán (7),
Truyện truyền kỳ (8); Kư, Truyện ngắn (9) Truyện kư đoản thiên(10);
Truyền thuyết (11)... Các học giả nước ngoài cũng tùy từng tác phẩm
mà có cách gọi khác nhau: Tiểu thuyết chữ Hán... (12); Đoản thiên
tiểu thuyết (13)
Năm 1997, trong công tŕnh Tổng tập tiểu thuyết
chữ Hán Việt Nam, GS. Trần Nghĩa đă đưa ra 37 tác phẩm thuộc thể
loại tiểu thuyết. Chúng được chia làm 7 loại: Tiểu thuyết bút kư
(những mẩu truyện ngắn danh nhân lịch sử, văn hóa, được viết theo
lối xác tín), Tiểu thuyết chí quái (chuyện lạ về người, vật, thần
thánh, có hư cấu), Tiểu thuyết truyện kỳ (sáng tác trên cơ sở tiểu
thuyết chí quái, mang tính giáo huấn hoặc gửi gắm tâm sự), Tiểu
thuyết lịch sử (viết về đề tài lịch sử, được nhà văn hư cấu, làm cho
sự thực lịch sử được thăng hoa thành nghệ thuật chân thực), Tiểu
thuyết công án (được hư cấu trên cơ sở các vụ án), Tiểu thuyết diễm
t́nh (hay c̣n gọi là "tài tử giai nhân", nội dung viết về trai tài
gái sắc, bút pháp chủ yếu hư cấu) và Tiểu thuyết du kư (viết theo
lối "thực lục", có sự sắp xếp, gia công nghệ thuật). Trong 7 loại
trên, tiểu thuyết lịch sử, công án, diễm t́nh nếu được tŕnh bày
theo kiểu chương hồi c̣n được xếp vào tiểu thuyết chương hồi.
Khảo sát các tác phẩm trong danh mục tiểu
thuyết nói trên, loại trừ các tác phẩm thuộc tiểu thuyết chương hồi,
và các tác phẩm không thuộc loại "sưu tập", theo chúng tôi, số c̣n
lại 24 tác phẩm đều là sưu tập truyện cổ và truyền thuyết dân gian.
Chúng bao gồm các tác phẩm có cốt truyện và nội dung ngắn gọn, viết
theo lối xác thực, nghe sao kể vậy, và các tác phẩm mà nội dung đă
được tác giả hư cấu, tái hiện một cách nghệ thuật. Trong t́nh t́nh
thuật ngữ chưa có sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu như hiện
nay, chúng tôi tạm dùng khái niệm "Hán văn thuyết thoại" (Kanbun
setsuwa), để chỉ về loại h́nh: truyện kư, tiểu thuyết Hán văn,
truyền kỳ, đoản thiên tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện kư đoản
thiên, truyền thuyết,... mà giữa chúng chưa thể có sự phân biệt một
cách rạch ṛi về mặt thể loại.
Danh mục các tác phẩm "Hán
văn thuyết thoại" của Việt Nam
|
TT |
Tên sách |
Tác giả |
Năm biên soạn |
Năm in
|
Năm sao chép |
Số truyện |
|
1 |
Thiền uyển tập anh
禪
宛
集
英
|
Không rơ |
Thế kỷ
11-14 |
1723 |
|
68 |
|
2 |
Lĩnh Nam chích quái
嶺
南
摭
怪
|
Không rơ |
Như trên |
|
Khoảng cuối thế kỷ 18 |
22 |
|
3 |
Việt điện u linh
越
甸
幽
靈
|
Lư
Tế Xuyên |
1329 |
|
Không rơ |
28 |
|
4 |
Nam Ông mộng lục
南
翁
夢
錄
|
Hồ
Nguyên Trừng |
1438 |
1986 |
|
31 |
|
5 |
Truyền kỳ mạn lục
傳
奇
漫
錄
|
Nguyễn Dữ |
1547 |
1712 |
|
22 |
|
6 |
Truyền kỳ tân phả
傳
奇
新
譜
|
Đoàn Thị Điểm |
Khoảng nửa thế kỷ 18 |
1811 |
|
6 |
|
7 |
Công dư tiệp kư
公
餘
捷
記
|
Vũ
Phương Đề |
Khoảng nửa đầu thế kỷ 18 |
|
Không rơ |
43 |
|
|
Công dư tiệp kư tục biên
公
餘
捷
記
續
編
|
Trần Quư Nha |
Như trên |
|
Không rơ |
61 |
|
8 |
Lan tŕ kiến văn lục |
Vũ
Trinh |
1794 |
|
Không rơ |
45 |
|
9 |
Tân truyền ḱ lục
新
傳
奇
錄
|
Phạm Quư Thích |
Khoảng nửa cuối thế kư 18 |
|
Không rơ |
3 |
|
10 |
Truyện kư trích lục
傳
記
摘
錄
|
Khuyết danh |
Vương triều nhà Lê |
|
Không rơ |
13 |
|
11 |
Vũ
trung tùy bút
雨
中
隨
筆
|
Phạm Đ́nh Hổ |
Khoảng nửa đầu thế kỷ 19 |
|
Không rơ |
90 |
|
12 |
Tang thương ngẫu lục
桑
滄
偶
錄
|
Phạm Đ́nh Hổ, Nguyễn Án |
Như trên |
1836 |
|
90 |
|
13 |
Sơn cư tạp thuật
山
居
雜
述
|
Không rơ |
Như trên |
|
Không rơ |
144 |
|
14 |
Thánh Tông di thảo
聖
宗
遺
草
|
Không rơ |
Như trên |
|
Không rơ |
19 |
|
15 |
Mẫn Hiên thuyết loại
敏
軒
說
類
|
Cao Bá Quát |
Như trên |
|
Không rơ |
10 |
|
16 |
Hát đông thư dị
喝
東
書
異
|
Nguyễn Thượng Hiền |
1886 |
|
Không rơ |
66 |
|
17 |
Vân nang tiểu sử
雲
囊
小
史
|
Phạm Đ́nh Dực |
1886-1896 |
|
Không rơ |
103 |
|
18 |
Hàn giang danh tướng liệt truyện
邯
江
名
相
烈
傳
|
Đinh Gia Nghi |
1891 |
|
Không rơ |
4 |
|
19 |
Bà
tâm huyền kính lục
婆
心
懸
鏡
錄
|
Khuyết danh |
Nửa cuối thế kỷ 19 |
|
Không rơ |
60 |
|
20 |
Thính văn dị lục
聽
聞
異
錄
|
Khuyết danh |
Như trên |
|
Không rơ |
54 |
|
21 |
Dị
nhân lược chí
異
人
略
誌
|
Phạm Đ́nh Dực |
Như trên |
|
Không rơ |
16 |
|
22 |
Nam thiên trân dị tập
南
天
珍
異
集
|
Vũ
Xuân Tiên |
1917 |
|
Không rơ |
135 |
|
23 |
Dă
sử
野
史
|
Khuyết danh |
Đầu thế kỷ 20 |
|
Không rơ |
14 |
|
24 |
Đại Nam hiển ứng liệt truyện
大
南
顯
應
烈
傳
|
Khuyết danh |
Không rơ |
|
Không rơ |
36 |
Trong số 24 tác phẩm trên, Thiền uyển tập anh,
Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái, Nam Ông mộng lục (thế kỷ 11
đến 14) được coi là các tác phẩm mở đầu cho khuynh hướng sưu tầm,
bảo tồn truyện kể dân gian, hay nói cách khác, chúng mở đầu cho thể
loại truyện kư viết về thể tài các danh nhân lịch sử và những truyện
ly ḱ, linh dị. Trong số đó Lĩnh Nam chích quái, với lối kể chuyện
đậm đà phong vị dân gian, phóng khoáng, sinh động, có thể nói tác
phẩm "đưa tinh hoa của văn học dân gian vào văn học viết, lần đầu
tiên mở ra mối quan hệ mật thiết giữa hai ḍng văn học trong lịch sử
văn học Việt Nam" (14). Bước sang thế kỷ 15, 16, nổi tiếng với thể
loại truyện truyền kỳ có Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục.
Hai tác phẩm trên không chỉ đem lại diện mạo mới về h́nh thức và
phương pháp sáng tác, mà c̣n ở cả nội dung tư tưởng. Đặc biệt Truyền
kỳ mạn lục , tác phẩm được coi là "thiên cổ kỳ bút" và là "áng văn
hay của bậc đại gia", nó đă "vượt xa những truyện kư lịch sử vốn ít
chú trọng đến tính cách và cuộc sống riêng của nhân vật" (15), tác
phẩm thực sự đă khơi nguồn cho cả một trào lưu văn học nhân đạo ở
thế kỷ sau đó. Bước sang thế kỷ 17, với sự nổi lên bất ngờ của Công
dư tiệp kư, tiếp sau đó là Lan tŕ kiến văn lục, Vũ trung tùy bút,
Tang thương ngẫu lục.. báo hiệu trước sự nở rộ của trào lưu sáng tác
truyện kư giai đoạn cuối thế kỷ 19 đầu 20 của Việt Nam.
II. Nihonreiki
靈
異
記 (Nhật
Bản linh dị kư) với truyện kể dân gian của Trung Quốc và thuyết
thoại Hán văn của Việt Nam
1. Vài nét về Nihonreiki (Nhật Bản linh dị
kư)
Nhật Bản linh dị kư (Ghi chép những chuyện linh
nghiệm, kỳ lạ của Nhật Bản), tên thường gọi là Linh dị kí (Ryoiki)
(từ đây gọi là Linh dị kư), tên đầy đủ là Nhật Bản quốc hiện báo
thiện ác linh dị kư, là tập truyện cổ Phật giáo đầu tiên viết bằng
chữ Hán của Nhật Bản. Đây là tác phẩm nổi tiếng trong kho tàng văn
học cổ điển Nhật Bản, phản ánh nhiều mặt của nền văn hóc Nhật Bản
thời trung đại. Sách được biên soạn năm En ryaku thứ 6 (787), hoàn
thành năm Konin thứ 13 (822). Tác giả là nhà sư Kekai, sống ở chùa
Yakushi ở kinh đô Na ra (nay thuộc tỉnh Na ra).
Linh dị kư gồm 3 quyển: Thượng, Trung, Hạ.
Quyển Thượng có 35 truyện, Trung có 42 truyện và Hạ có 39 truyện. Cả
thảy có 116 truyện. Đầu mỗi truyện là lời Tựa, sau phần lớn mỗi
truyện là lời Tán, xen kẽ giữa các truyện là các đoạn thơ, ca dao.
Tác phẩm tập trung vào các đề tài như truyện về các thiền sư, về
người có sức khỏe, truyện trả ơn của súc vật, các truyện báo ứng
luân hồi, ở hiền gặp lành, làm ác phải chịu quả báo, sự linh nghiệm
của Phật Quan âm, Diệu kiến Bồ tát, Di lặc Bồ tát, sự biến hóa của
kinh điển và tượng Phật. Tất cả các truyện kỳ lạ, linh nghiệm đều
được dàn dựng gắn với hiện thực trên nền lịch sử có thật, được tác
giả sắp xếp theo trục thời gian từ thời Thiên hoàng Yuryaku (Hùng
Lược, 478) cho đến hết thời thiên hoang Kamu (Hằng Vũ, 781-806).
Linh dị kư là tác phẩm được viết dưới ảnh hưởng
sâu sắc của Phật giáo, nó là sản phẩm của thời kỳ Phật giáo và văn
hóa Trung Quốc được du nhập và phát triển rực rỡ ở Nhật Bản. Các tác
phẩm chí quái Trung Quốc đời Tấn như Sưu thần kư
搜
神
記 các
tác phẩm truyền kỳ đời Đường nổi tiếng đương thời như Nhâm thị
truyện 任
氏
傳 và
truyện kể Phật giáo Trung Quốc như Minh báo kư
冥
報
記 Kim
cương bát nhă kinh tập nghiệm kư
金
剛
般
若
經
集
驗
記...
được lưu hành rộng răi ở Nhật Bản thời bấy giờ đă có ảnh hưởng lớn
đến Linh dị kư. Tác giả Linh dị kư c̣n sử dụng nhiều mô típ có tính
khuôn mẫu đă được định h́nh trong truyện kể dân gian không chỉ riêng
của Nhật Bản mà chung của thế giới như: mô típ về sự sinh nở kỳ lạ;
sự hóa thân từ người sang vật; những nhân vật có khả năng kỳ diệu,
hôn nhân giữa người và động vật, những nhân vật xấu xí mà tài ba...
Tác phẩm c̣n có nhiều bằng chứng giúp ta hiểu
được sự lưu thông của các đề tài cốt truyện, cho đến việc hoán cải
motip, cốt truyện đó ở Nhật Bản thời trung đại cũng có những nét
tương tự như ở Việt Nam. Tác phẩm đă được người viết dịch ra tiếng
Việt, nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1999.
2. Linh dị kư với truyện kể dân gian Trung
Quốc và thuyết thoại Hán văn của Việt Nam.
Chúng ta đă biết nền văn học Trung quốc vừa
phong phú vừa đa dạng, xuất hiện lâu đời, từ rất sớm đă có sự kết
hợp nhuần nhuyễn giữa văn học truyền miệng và văn học viết. Từ thế
kỷ thứ 3 sau công nguyên, ở Trung Quốc đă xuất hiện nhiều loại
truyện cổ tích thần kỳ và truyện ngắn chí quái như Bác vật chí
博
物
誌 của
Trương Hoa, Cao Sĩ truyện
高
士
傳 của
Hoàng Phủ Mật ...(thế kỷ thứ 3), Sưu thần kư
搜
神
記 của
Can Bảo (thế kỷ thứ 4), U minh lục
幽
冥
錄, Tường
minh lục 祥
冥
錄(thế kỷ
thứ 5), Thuật dị kư 術
異
記 (thế
kỷ thứ 6) và Linh quái lục
靈
怪錄(thế
kỷ thứ 7). Trung Quốc từ xa xưa đă tiếp thu nhiều truyện cổ của các
dân tộc, cùng vó ngựa bành trướng, muốn trở thành đế quốc rộng lớn.
Bên cạnh đó, trong những năm đầu thế kỷ thứ nhất, Trung quốc cũng
chịu ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo. Phật thoại và truyện cổ tích,
sử thi Ấn Độ cũng sớm có mặt tại Trung Quốc.
Ở Nhật Bản, từ thế kỷ thứ 4, 5, khi chữ Hán trở
thành công cụ chính thức trong việc bang giao với đại lục th́ văn
hóa Hán, văn học Hán đă thực sự có điều kiện để thâm nhập vào đời
sống văn hóa tinh thần của các cư dân vùng đảo. Các tác phẩm Du tiên
quật
遊
仙
窟 , Giá
chi truyện 柘
枝
傳 , Bồ
đảo tử truyện 蒲
島
子
傳... đă
sớm có mặt ở thời Na ra cho thấy đương thời các thể loại là tiểu
thuyết chí quái, truyện truyền kỳ của Trung Quốc đă được cư dân phù
tang yêu thích. Linh dị kư cũng là tác phẩm chịu nhiều ảnh hưởng của
truyện chí quái, truyền kỳ của Trung Quốc được lưu truyền ở Nhật Bản
thời bấy giờ.
Cũng như Nhật Bản, Việt Nam là nước chịu ảnh
hưởng của hai nền văn minh lớn là Trung Quốc và Ấn Độ. Khi chữ Hán
chính thức được coi là công cụ ghi chép, ở Việt Nam đă h́nh thành
ḍng văn học viết bằng chữ Hán. Sự ra đời của nó "là kết quả của
những hối thúc từ bên trong do sự vận động nội tại của bản thân nền
học thuật chữ Hán Việt Nam sinh ra, cộng với những kích thích từ bên
ngoài do giao lưu văn học mang lại" (16). Xét về nguồn gốc nội tại,
thuyết thoại Hán văn của Việt Nam ra đời và phát triển gắn liền với
văn hóa dân tộc, liên quan đến kho tàng thần thoại, truyền thuyết và
truyện cổ tích thần kỳ việt Nam. Về mặt giao lưu văn học, thuyết
thoại Việt Nam đă tiếp thu và chịu ảnh hưởng của tiểu thuyết chí
quái, truyền kỳ Trung Quốc, đồng thời c̣n vay mượn một số đề tài cốt
truyện, motip có liên quan đến Phật Giáo và các dân tộc phương Nam
thời cổ như Chiêm Thành, Phù Nam, Thiên Trúc...
Do bắt nguồn từ truyện kể dân gian, lại chịu
ảnh hưởng của văn học Trung Quốc, Linh dị kư tuy không có mối giao
lưu trực tiếp với các tác phẩm văn học của Việt Nam, nhưng sự lưu
thông giữa các motip và sự hoán cải các motip và cốt truyện trong
Linh dị kư có những nét tương tự như ở Việt Nam. Người ta có thể dễ
dàng t́m thấy những t́nh tiết, motip, cốt truyện tương đồng với các
tác phẩm của Trung Quốc và Việt Nam trong Linh dị kư. Xin lấy cốt
truyện "bắt thần Sấm" trong Linh dị kư làm ví dụ.
Truyện 3 quyển Thượng kể về người nông dân làng
Katawa đi dẫn nước vào ruộng, gặp trời mưa liền trú mưa dưới gốc
cây. Đúng lúc đó thần Sấm giáng hạ, người nông dân định dùng gậy sắt
đập chết thần Sấm, nhưng khi nghe thần Sấm nói trả ơn bằng cách cho
đứa con, ông bèn làm máng nước bằng cây quế hương, thả lá tre xuống
cho thần Sấm bay về trời.
Đây là phần đầu truyện Bắt thần Sấm trong Linh
dị kư. Thần Sấm là nhân vật thường xuất hiện trong truyện cổ và
truyền thuyết dân gian ở các nước trong khu vực. Tuy vị trí địa lư
có khác nhau, song Trung Quốc (vùng phương Nam), Nhật Bản, Triều
Tiên và Việt Nam từ xa xưa cũng là những nước nông nghiệp, lấy lúa
nước làm cây trồng cơ bản. Với khí hậu ấm áp, lượng mưa mùa hạ lớn
đă đem lại cho các nước thảm thực vật phong phú, hoa trái bốn mùa
tươi tốt, nghề nông với cây lúa nước có điều kiện để phát triển và
giữ vai tṛ chủ đạo trong nền kinh tế. Bên cạnh đó, các nước cũng
phải hứng chịu những khắc nghiệt do thiên nhiên mang lại, đe dọa
cuộc sống và tính mạng con người như lũ lụt, ngập úng, hạn hán và
sấm sét. Xuất phát từ nhu cầu ca ngợi tôn vinh, ngay từ những tác
phẩm ghi chép truyện dân gian đầu tiên ở các nước đă xuất hiện những
anh hùng chống thiên tai mang tầm vóc vũ trụ. Trong cuộc đấu tranh
đó, những người b́nh thường nhưng có khả năng ḥa hợp với thiên
nhiên, sau khi chết đi được tôn thành thần, và họ cũng chiếm một vị
trí quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân. Truyện về
những người "bắt thần Sấm" trong Linh dị kư và truyện kể dân gian ở
các nước trong khu vực phản ánh một chiều kích khác của đời sống tâm
linh của con người.
Từ thế kỷ thứ 4, thời nhà Tấn trong tác phẩm
Sưu thần kư
搜
神
記 của
Can Bảo, cũng đă xuất hiện truyện bắt thần Sấm. Truyện của Can Bảo
kể rằng: Dương Đạo Ḥa trú mưa dưới gốc cây dâu, gặp thần Sấm giáng
hạ, anh ta bèn lấy thuổng đập gẫy đùi thần Sấm. Trong Dậu dương tạp
trở, 酉
陽
雜
俎 quyển
8, có truyện Vương Cán. Truyện kể rằng, Vương Cán người Trịnh Châu,
vốn bạo dạn, chẳng biết sợ ai. Vào mùa hè năm Trinh Nguyên đầu, đi
làm ruộng, gặp trời mưa to bèn chạy vào ngôi nhà chăn tằm ở gần đó
để tránh mưa. Bấy giờ sét đánh vào trong nhà, khí đen lan tỏa, nhà
tối như mực, Cán vội ra đóng cửa, cầm cuốc khua loạn lên. Tiếng sét
nhỏ dần, khí mây cũng thu lại. Cán vừa hô lớn vừa đánh lấy đánh để,
khí đen dài như nửa chiếc giường, sau lại cuốn tṛn như chiếc mâm,
lát sau rơi xuống đất, biến thành thỏi sắt. Cán bèn lấy thỏi sắt đó
rèn thành dao, những vụn sắt đúc thành nồi nhỏ có chân như cái vạc.
Ở Việt Nam, trong Công dư tiệp kư
公
餘
捷
記 của
Vũ Phương Đề cũng có truyện đánh nhau với thần Sấm. Phần đầu câu
chuyện tóm tắt như sau: Cường Bạo Đại Vương, người xă Bối Cẩm, huyện
Thiên Bản (Nam Định), tính khí ngỗ ngược, khinh miệt người đời, quên
cả cha mẹ, không cúng giỗ tổ tiên. Chỉ có Táo thần là được ông sớm
hôm cúng lễ, dù chỉ là một com tôm. Táo thần thấy ông có ḷng thành,
thường hay phù hộ. Một hôm, cha mẹ ông đem tội trạng của ông tố cáo
với Thiên Đ́nh, Thiên Đ́nh bèn sai Lôi thần xuống đánh. Nhờ có Táo
thần mách nước, Cường Bạo đem lá mồng tơi giă nhỏ trộn với dầu nước,
tưới lên mái nhà, khi Thiên lôi từ trên trời bay xuống, vừa đặt chân
lên nóc nhà đă bị trượt ngă xuống đất. Cường Bạo ở trong nhà lấy gậy
ra đánh, thần Sét phải chuồn mất. Sau đó ông c̣n cướp được một đoạn
dây đồng đỏ dài độ một trượng, đem chôn ở một chỗ cao ráo sạch sẽ.
Trong khi nghiên cứu Linh dị kư với thuyết
thoại của Trung Quốc, nhà nghiên cứu Kono Kimiko
河
野
貴
美
子 (Đại
học Waseda, Nhật Bản) đă có sự so sánh tỉ mỉ cốt truyện bắt thần Sấm
trong Linh dị kư và các truyện kể dân gian của Trung Quốc và thuyết
thoại Nhật Bản, từ nhân vật, địa điểm, h́nh dáng thần Sấm, phương
pháp bắt thần Sấm, thần Sấm bay lên trời, sự báo thù, trả ơn của
thần Sấm (17) . Kono cho rằng, phần lớn nhân vật bắt thần Sấm trong
các thuyết thoại của Trung Quốc là người nông dân, hoặc người dân
b́nh thường. Phương pháp bắt thần Sấm cũng muôn h́nh muôn vẻ, người
dùng vết nứt của bia để kẹp lấy thần Sấm (truyện 1, quyển Thượng,
靈
異
記 );
dùng gậy sắt giơ lên bắt thần Sấm (truyện 3, quyển Thượng, Linh dị
kư 靈
異
記 );
đọc Kinh Pháp hoa bắt thần Sấm giáng hạ ở ngay ngôi tháp do thần Sấm
phá vỡ (quyển Hạ, Pháp Hoa nghiệm kư
法
華
驗
記 -
Nhật Bản); dùng cuốc đánh gẫy đùi thần Sấm (quyển 111, Sưu thần kư
搜
神
記); vừa
cưỡi ngựa vừa giơ mâu lên để giết thần Sấm (Quyển 18, Bắc Tề thư
北
齊
書 ); dụ
cho thần Sấm nhảy xuống cây, dùng vết nứt ở thân cây kẹp chặt lại
rồi bắt thần Sấm (Tiên cảm ngẫu truyện
仙
感
偶
傳 ,
quyển 394 trong Thái B́nh quảng kư
太
平
廣
記 );
dùng đồ thần Sấm kiêng ăn như cá vàng, thịt lợn, gọi thần Sấm xuống,
rồi dùng dao chém vào đùi thần Sấm, làm thần Sấm rơi xuống (Truyền
kỳ 傳
奇 ,
quyển 394 trong Thái B́nh quảng kư
太
平
廣
記 ...
So với phương pháp dùng "vết nứt của cây và đá"
để bắt thần Sấm trong Linh dị kư và thuyết thoại của Trung Quốc,
chúng ta cũng dễ nhận thấy cách bắt thần Sấm của người Việt cũng có
nét độc đáo. Như truyện nêu trên, thần Táo đă dạy cho Cường Bạo dùng
những sản vật đặc trưng của vùng nhiệt đới như mồng tơi và dầu nước
(có lẽ là dầu lạc) là những nguyên liệu dễ kiếm cho bữa ăn hàng ngày
vào mùa hè để đối phó với thần Sấm. Nhờ có chất nhớt trong cây mồng
tơi và dầu nước tưới trên nóc nhà nên thần Sấm đă bị trượt ngă, bị
đánh và phải bỏ chạy. Chi tiết thần Sấm trượt ngă v́ nhớt mồng tơi
và dầu nước không chỉ đề cao trí thông minh của con người, mà c̣n
đem lại sự hưng phấn làm cho tiếng cười dân gian thêm sảng khoái.
Nét độc đáo ở cốt truyện bắt thần Sấm trong
Linh dị kư, theo Kono và một số nhà nghiên cứu Nhật Bản, thể hiện ở
trang phục của Sugura - người được Thiên hoàng ra lệnh đi bắt thần
Sấm. Sugura được mô tả: "...trên trán thắt dây b́m b́m mầu đỏ, vác
cây mâu trên cắm lá cờ đuôi nheo cũng màu đỏ, cưỡi con ngựa đi từ
con đường Yamabe, thôn Abe ra tới con đường trước chùa Toyora". Theo
các nhà nghiên cứu Nhật Bản, Suga ru đă mặc trang phục của vơ sĩ
Nhật Bản thời xưa khi ra trận. Màu đỏ tía của dây b́m b́m và cờ đuôi
nheo cắm ở ngọn nâu để trừ ma tà là thể hiện tinh thần dũng mănh của
người vơ sĩ. Chi tiết này được tác giả tái tạo một cách thẩm mỹ dựa
theo những yếu tố truyền thống trong sinh hoạt của người dân Nhật
Bản.
Về chi tiết thần Sấm báo thù, và trả ơn, ở
truyện 1, quyển Thượng, truyện kể sau khi Suga ru mất, Thiên hoàng
ra lệnh làm lễ mai táng ông bảy ngày bảy đêm, mai táng ông ở nơi
thần Sấm giáng xuống, dựng bia trên mộ đề rằng: "Mộ của Sugu ru,
người đă bắt được thần Sấm". Thần Sấm thấy vậy, lấy làm oán ghét,
giáng sấm sét xuống tấm bia, rồi nhảy xuống định dẫm nát trụ bia,
nhưng lại bị kẹp chặt vào vết nứt của trụ bia. Thiên hoàng nghe
chuyện, sai người gỡ ra, thần Sấm mới thoát chết; Chi tiết thần Sấm
báo ơn xuất hiện ở truyện 3, quyển Thượng, thần Sấm sau khi được tha
đă tặng cho người nông phu đứa bé con.
Theo Kono, trong thuyết thoại của Trung Quốc
đều xuất hiện hai t́nh tiết, báo ơn và trả thù đối với người đánh
nhau với thần Sấm. Ở quyển 18, Bắc Tề thư, kể lại sau khi đánh nhau
với thần Sấm, tóc của Thệ Cô Diên cùng lông và bờm ngựa bị cháy hết;
quyển 394, sách Thái B́nh quảng kư kể lại, sau khi bay về trời, thần
Sấm để trả thù luôn đuổi theo sau Trần Loan Phượng, nhưng do Phượng
luôn đề pḥng, đi đâu cũng mang dao đi theo, lại đào hố để ẩn náu
nên vẫn b́nh yên. Ông c̣n có khả năng gọi mưa, nên người đời gọi là
Vũ sư (thày gọi mưa). Truyện 394, Thần Tiên cảm ngẫu truyện, chi
tiết thần Sấm báo ơn được thể hiện bằng việc thần Sấm giúp dân làm
mưa, trừ dịch bệnh.
Chi tiết báo thù ở truyện Cường Bạo Đại Vương
của Việt Nam khác với Linh dị kư và thuyết thoại Trung Quốc. Người
báo thù không chỉ là thần Sấm, mà c̣n có sự hỗ trợ của Táo thần.
Cường Bạo từ khi được Táo thần phù hộ, sinh ra chủ quan, ngày một
ngang ngược. Một hôm ông ta bắt được con cua đồng đêm về nướng ăn,
không cúng Táo thần nên Táo thần t́m cách hại lại ông. Táo thần
khuyên ông, khi trời sắp mưa th́ xỏ tay vào lỗ vai cày và lấy then
gỗ ngang khóa chân lại. Cường Bạo làm theo, chẳng ngờ khi mưa gió ập
tới, ông ta muốn chạy nhưng không chạy được liền bị Thiên lôi đánh
chết.
Đoạn kết truyện bắt thần Sấm ở Linh dị kư và
thuyết thoại các nước phần lớn mang cảm hứng tôn vinh. Sasuga, người
bắt được thần Sấm, sau khi chết đi được vua xây mộ, dựng bia đề ngợi
ca: "Một Suga ru, người lúc sống bắt được thần Sấm, khi mất cũng bắt
được thần Sấm". Trần Loan Phượng (Trung Quốc) cũng được phong làm Vũ
sư. Truyện Cường Bạo Đại Vương (Việt Nam) t́nh tiết tuy có khác với
Linh dị kư và thuyết thoại Trung Quốc, song rốt cuộc, sau khi chết,
cũng được dân làng phong làm Phúc thần, lập đền thờ phụng.
III. Konjakumonogatarishu với thuyết thoại
Hán văn của Việt Nam
1. Vài nét về Konjakumonogatarishu.
Sau Nihonreiki, Konjakumonogatarishu (dưới đây
xin được gọi tắt là Kim tích) được đánh giá cao của thể loại setsuwa
trong kho tàng văn học trung đại Nhật Bản. Sách được biên soạn từ
nửa đầu thế kỷ 12 đến thời cuối thời Hean. Chưa rơ tác giả, gồm 31
quyển với khoảng trên một ngàn truyện, được viết bằng chữ Hán xen
lẫn chữ Kana. Đây là bộ sưu tập setsuwa lớn nhất của Nhật Bản từ
trước tới nay, nó không chỉ thâu nạp truyện kể Phật giáo, truyện kể
dân gian của Nhật Bản mà c̣n thu thập khá nhiều truyện cổ của Ấn Độ
và Trung Quốc.
"Kim tích" (Xưa nay) là từ mào đầu câu chuyện
(giống như câu mào đầu của truyện cổ tích: "Ngày xửa ngày xưa") được
tác giả lấy đưa vào tên bộ sưu tập. Thế giới của Kim tích được chia
làm ba phần: Thiên trúc (tức Ấn Độ); Chấn Đán (tức Trung Quốc) và
Bản triều (tức Nhật Bản), đề cập tới ba chủ đề lớn: Phật pháp, Vương
pháp và Thế tục. Phần thứ nhất, quyển 1 được bắt đầu bằng truyện kể
về Thích Ca từ trên trời xuống, thác thai vào làm con của Maya, tiếp
đó là các truyện lạ, truyện kỳ về quá tŕnh Phật giáo du nhập vào
Nhật Bản; Phần thứ hai là truyện lạ, truyện kỳ được trích từ các tác
phẩm văn học nổi tiếng của Trung Quốc (cho đến hết quyển 10); Tiếp
sau đó từ quyển thứ 11 cho đến quyển thứ 31 là các truyện lạ, truyện
kỳ của Nhật Bản. Kim tích đề cập đến nhiều nhân vật, từ Phật Thích
Ca, Quan âm Bồ Tát; Địa tạng Bồ tát, đến các nhà sư, đạo sĩ, người
tu hành; đến các tầng lớp quư tộc như Quốc Vương, Hoàng đế, Thiên
hoàng, các tầng lớp khác trong xă hội như quư tộc, bề tôi, vơ sĩ, kẻ
cắp, lực sĩ Sumo, thày thuốc, thày âm dương, phụ nữ và trẻ em... đến
cả các thần linh, quỷ dữ, ma ác, các vật ḱ dị và động vật. Không
gian của Kim tích rộng lớn, từ Thiên trúc, Thiên giới, Núi Tu di,
Trung Quốc, Triều Tiên... đến các cung điện, chùa chiền, đền miếu
của Nhật Bản, tiếp đó đến thế giới bên kia như minh giới, địa ngục.
Cũng như Linh dị kư, Kim tích được viết dưới
ảnh hưởng của Phật giáo và văn họcTrung Quốc. Ngoài các tác phẩm của
Trung Quốc như Tam bảo cảm ứng yếu lược lục, Minh báo kư, Sưu thần
kư... Kim tích c̣n chịu ảnh hưởng của các thuyết thoại viết bằng chữ
Hán như Nhật Bản linh dị kư, Pháp Hoa nghiệm kư, hay các tác phẩm
nổi tiếng viết bằng chữ Hán xen lẫn với Kana như Bách nhân duyên
tập, Vũ trị thập di vật ngữ, Cổ bản thuyết thoại tập...
Kim tích c̣n sử dụng nhiều motip được định h́nh
trong truyện kể của khu vực và thế giới như motip cây thiêng, g̣
đống, đồi núi, mây mù, sông nước, đến các motip sinh nở kỳ lạ, thai
sinh, thác sinh...
Tác phẩm không chỉ là tư liệu quư cho việc
nghiên cứu văn học cổ điển Nhật Bản, mà c̣n là tư liệu quan trọng
cho việc nghiên cứu lịch sử văn học so sánh ở Đông Á. Nhiều truyện
của Kim tích đă được dịch ra tiếng Anh, gần đây là tiếng Trung Quốc,
và một số rất ít truyện được dịch ra tiếng Việt... Việc nghiên cứu
tác phẩm ở nước ngoài, theo đánh giá của các nhà nghiên cứu Nhật Bản
tuy có muộn, song thực sự nó đă góp phần giới thiệu những tinh hoa
của văn học cổ điển Nhật Bản ra thế giới, là nhịp cầu giao lưu nối
các nền văn hóa mang bản sắc riêng xích lại gần nhau hơn.
2. Konjakumonogatarishu với thuyết thoại Hán
văn của Việt Nam.
Trong các tác phẩm ghi chép truyện kể dân gian
giai đoạn đầu ở các nước, đặc biệt là các nước trong khu vực Hán hóa
như Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam, đều xuất hiện biểu tượng mang
tính thế giới như : núi, đá, cây, sông nước và mây mù. Các nhà
nghiên cứu Nhật Bản khi nghiên cứu motip "cây", đă chia ra thành hai
mục: "thế giới trên cây" và "thế giới dưới cây". Dưới đây xin đi vào
t́m hiểu motip "cây" của Kim tích với một số thuyết thoại Việt Nam.
- Không gian thiêng "dưới cây".
Khảo sát các truyện trong Kim tích, chúng tôi
thấy có khá nhiều truyện tương đồng với thuyết thoại Hán văn của
Việt Nam như truyện kể về "dưa", một loại hoa quả được mọi người yêu
thích, đặc biệt về mùa hè. Truyện Dùng phép thuật lấy trộm dưa,
truyện 40, quyển 28 tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng Bảy, hàng đoàn xe ngựa chở dưa
từ tỉnh Yamato (nay là Na ra) về Kinh đô. Giữa đường, mọi người nghỉ
lại ăn cơm trưa, bỗng có cụ giả lưng đeo ruột tượng, đi guốc geta,
một tay chống gậy, một tay phe phẩy quạt đi tới. Cụ già thấy mọi
người lấy dưa ra ăn bèn ngỏ lời xin. Đám người chở dưa viện lư do đó
là dưa tiến vua nên từ chối. Cụ già bèn nhặt lấy những hạt dưa do
mọi người ăn rơi văi dưới đất rồi bới đất để trồng. Thấy vậy, ai
cũng cười chế nhạo. Được một lúc, hạt dưa nứt ra, nẩy mầm hai nhánh.
Trong lúc mọi người c̣n đang ngơ ngác v́ thấy lạ, cây bỗng lớn lên,
lan ra khắp mặt đất, dây nhánh tua tua, ra hoa kết trái, thành quả
to, chín. Mọi người đều cho cụ là bậc thánh. Cụ già bèn trẩy dưa mời
đám người chở dưa và những người qua đường cùng ăn. Ai nấy đều vui
mừng hớn hở. Ăn xong, cụ già từ biệt mọi người ra đi, chẳng biết đi
lối nào. Đến khi mọi người định xếp sọt dưa lên xe th́ chẳng thấy
c̣n quả dưa nào trong sọt. Đám người chở dưa tỏ ra hối hận, c̣n
những người biết chuyện đều cười chế nhạo. Rốt cuộc sau đó chẳng
người nào biết cụ giả là ai và câu chuyện được truyền đi như vậy.
Ở Việt Nam truyền thuyết về dưa xuất hiện sớm
nhất trong Lĩnh Nam chích quái. Truyện kể Mai An Tiêm được vua sủng
ái, sinh ḷng kiêu ngạo, cho rằng mọi vật vua ban cho đều là vật
tiền thân của ḿnh, không phải nhờ ơn đến ai. Vua nghe nói cả giận
bèn đày An Tiêm ra ḥn đảo giữa bể, bốn bề không một bóng người, ban
cho một số lương thực đủ ăn trong bốn năm tháng để cho ăn hết th́
chết. Có con chim trắng tha hạt từ phía tây lại, nhả trên băi cát,
cây nảy mầm, mọc lên tươi tốt, dây ḅ xanh um, kết nhụy nở hoa, đến
mùa thu, quả chín, lăn lóc khắp nơi. An Tiêm bèn ăn thử, thấy vị
thơm ngọt, bèn lấy dưa đổi lấy thóc để ăn, lại c̣n giữ giống để năm
sau trồng lại. Tiếng lành đồn xa, mọi người khắp nơi t́m đến để mua
dưa của An Tiêm, rồi tùy thời tán hạt trồng ở khắp nơi. Sau vua biết
chuyện bèn sai sứ giả đi mời An Tiêm về kinh, phục cho chức cũ, ban
cho vợ con, thê thiếp nô t́ và ruộng đất.
Giáo sư Nhật Bản Komine Kazuaki
小
峰
和
明, khi
nghiên cứu về motip "thủ thuật lấy cắp dưa" trong thuyết thoại Nhật
Bản (18) có dẫn câu chuyện tương đồng trong Băo Phác tử
抱
朴
子 ,
sách Nghệ văn loại tụ
藝
文
類
聚 của
Trung Quốc. GS. Komene cho rằng, việc ông già dùng thủ thuật để lấy
trộm dưa trong Kim tích vốn bắt nguồn từ truyện kể dân gian Trung
quốc. Tuy nhiên, việc ông già xuất hiện khi mọi người dừng chân nghỉ
dưới gốc cây to, sau đó dùng phép lạ để lấy dưa lại liên quan đến
motip "cây thiêng" là motip mang tính thế giới. Theo tín ngưỡng cổ
đại, thần linh thường trú ngụ trên các cây lớn, cây cổ thụ. Cây là
tụ điểm trung tâm của cộng đồng, đồng thời là nơi giao tiếp giữa
trời và người, giữa thần và người. Nếu trên cây xuất hiện thần linh
nắm giữ và bảo hộ sinh mệnh th́ cũng có lực lượng ma quỷ, trấn áp và
làm hại sinh mệnh. Trường hợp ông già xuất hiện ở dưới gốc cây làm
cho tính thiêng của không gian cây đă cụ thể hóa bằng nhân vật của
truyền thuyết.
So sánh hai truyện kể về dưa ở Nhật Bản và Việt
Nam, chúng tôi thấy ở truyện Dưa hấu của Việt Nam, hầu như không
xuất hiện yếu tố kỳ lạ như t́nh tiết ông già dùng phép lạ lấy dưa
như trong truyện kể của Trung Quốc và Nhật Bản. Việc chim tha hạt
t́nh cờ rơi trên băi cát, sau đó mọc thành cây, cho quả chín vào mùa
thu là cả quá tŕnh phát triển của cây dưa theo tự nhiên, không có
sự trợ giúp của thần thánh. Câu chuyện như thật, khiến người ta tin
theo, ư nghĩa giáo huấn nhờ đó được đề cao, đúng như lời Tựa sách
viết : "khuyên điều thiện, răn điều ác, bỏ giả theo thật để khuyến
khích phong tục" (Tựa sách Lĩnh Nam chích quái) .
Tuy t́nh tiết cốt truyện có khác nhau, song sự
xuất hiện cốt truyện về dưa trong truyện kể dân gian giai đoạn đầu
của mỗi nước cho thấy cách đánh giá về loại hoa quả đặc biệt này có
nét chung. Giáo sư Komine cho rằng dưa là loại hoa quả đặc biệt có
giá trị, thậm chí có thể nói nó mang một hương vị đặc biệt, khó loại
hoa quả nào có thể so sánh được. V́ thế dưa thường được người dân
dâng lên cúng các vị thần tiên, hoặc bản thân dưa cũng là nơi trú
ngụ của thần tiên nên được người xưa tôn lên là vật thánh (19). Sùng
bái tự nhiên, gán cho các vật trong tự nhiên những giá trị tinh thần
là cách nhận thức của con người cổ đại, và đó là điểm chung dễ thấy
trong truyện kể dân gian của các nước trong khu vực và trên thế
giới.
Liên quan đến không gian thiêng "dưới cây",
trong Lan tŕ kiến văn lục của Việt Nam có truyện "Dốc đầu Sấm (Lôi
thủ pha) kể câu chuyện hai vợ chồng đi bán vàng mă, giữa đường gặp
mưa to, đường xa, trời tối, không c̣n nhận ra lối đi bèn nghỉ lại
dưới một gốc cây đa. Trong ánh chớp họ thấy có một ṭa biệt thự liền
đi tới xin ngủ trọ. Đến đêm, họ nghe thấy chủ nhân ngôi nhà nói
chuyện về việc làm sổ cho những người chết trong đại dịch. Đến sáng
nh́n ra, họ thấy ḿnh đang nằm trên hai tàu chuối, có đệm rơm, bên
cạnh một g̣ đất. Hai người kinh hăi trở về quê quán. Đến năm sau,
nạn dịch nổi lên, người chết đầy đường, đúng như điều họ đă nghe
thấy trong đêm hôm đó.
- Không gian thiêng "trên cây".
Trong Kim tích có khá nhiều chuyện đề cập đến
motip trên cây có vật lạ, cây thiêng. Truyện thứ 3, Quái vật biến
thành ông Phật ngồi trên cây, quyển 20 kể rằng:
Xưa nay, vào thời Thiên hoàng Engi, ở ngôi đền
thời Saennokami ở Gojo có cây hồng không ra quả. Một hôm, trên cây
bỗng xuất hiện đức Phật, tỏa những tia vàng rực rỡ. Đức Phật ngự
trên cây thả xuống những bông hoa muôn màu, cảnh tượng thật đáng
kính. Nghe tin, người trong Kinh thành nô nức rủ nhau tới xem, xe
ngựa nườm nượp, không c̣n chỗ chen chân. Bấy giờ có vị đại thần
Hikaru. Ông là con của Thiên hoàng Fukku sa, hiền tài thông minh bậc
nhất. Ông không tin đức Phật lại có thể hiện ra ở nơi cây cao như
vậy, bèn dùng thuật thôi miên khiến vị Phật đó phải biến thành con
diều hâu gẫy cánh, từ trên cây rơi xuống. Ông được mọi người khen
ngợi hết lời và câu chuyện được truyền đi như vậy.
Theo các nhà nghiên cứu Nhật Bản, trên cây có
vật lạ là motip thường thấy ở thuyết thoại Nhật Bản và truyện kể dân
gian Trung Quốc. Trong phần truyện kể Trung Quốc ở Kim tích, có
truyện trên cây Hán Cao tổ ẩn nấp, xuất hiện rồng ngũ sắc (truyện 2,
quyển 10). Ở Việt Nam, truyện Thiền sư Khuông Việt trong sách Thiền
uyển tập anh, cũng đề cập đến truyện trên cây có vật thiêng. Truyện
kể rằng: Một lần nhà sư đi ngao du ở núi Vệ Linh, quận B́nh Lỗ, thấy
phong cảnh thanh tịnh, muốn lập am để ở. Đêm hôm đó, vua nằm mơ thấy
một vị thần đem theo lũ quỷ Dạ Xoa đến thưa theo lệnh của Thiên đế
đến giúp bảo vệ biên giới, khiến cho Phật pháp hưng thịnh. Khi sư
tỉnh giấc, bỗng nghe trong núi có tiếng la hét ầm ĩ, lấy làm lạ lắm.
Đến sáng, nhà sư vào núi thấy một cây to, cao khoảng hơn mười
trượng, cành lá sum xuê, bên trên mây ngũ sắc bao phủ, bèn sai thợ
chặt đem về khắc tượng như đă thấy trong mộng để thờ.
Liên quan đến không gian thiêng trên cây,
truyện 25, quyển 15, Kim tích c̣n có motip, trên cây có tiếng đàn
sáo, đó là âm thanh của đoàn rước đưa người có duyên về cơi Cực lạc.
Ở Việt Nam, trong truyện Bố Cái Đại Vương, sách Việt điện u linh
cũng xuất hiện motip trên. Bố Cái Đại Vương sau khi mất rất hiển
linh. Dân các làng thường nghe có tiếng xe, ngựa đi ầm ầm trên các
nóc nhà hoặc trên các cây cổ thụ, trông lên thường thấy trong đám
mây ngũ sắc có cở, kiệu rực rỡ, lại có tiếng đàn sáo văng vẳng trên
không.
Trong nhóm truyện có motip "cây" ở Kim tích,
c̣n xuất hiện motip độc đáo "thế giới khác trên ngọn cây". Truyện
tóm tắt như sau:
Xưa nay, cũng không biết từ bao giờ, có nhà sư
sống ở chùa Ni shinoto, chiều chiều trong ánh nắng tà, ông đứng
ngoảnh mặt về chùa Higa shi sanmude để tụng kinh. Bỗng có chàng trai
khôi ngô tuấn tú không biết từ đâu đi tới, muốn mời nhà sư về nhà để
cảm ơn. Nhà sư lấy làm ngạc nhiên, nhưng cũng không có cách nào từ
chối bèn đi theo, tới chỗ gốc cây lớn ở chùa Higa shi sanmude, chàng
trai bảo nhà sư trèo lên cây. Nhà sư lo lắng, sợ ngă, nhưng chẳng có
cách nào từ chối bèn nghe lời chàng trai, trèo lên chỗ cây cao nhất.
Khi đến nơi, nhà sư thấy có một cung điện. Nh́n ra phía đông là cảnh
ngày Tết, hoa đào nở khắp nơi, chim ca ríu rít. Phía bên kia, dựng
b́nh phong, bày toàn món ăn ngon. Nh́n về phía Đông nam, nhà sư thấy
có rất nhiều người mặc trang phục đi săn. Ở núi Futaoka bọn trẻ du
chơi, nam nữ cùng nhau múa hát. Những cô gái mặc váy áo màu tía,
phía dưới rủ xuống những vạt vải màu hoa hồng, trông thật nhă nhặn.
Phía Nam là các xe chở lễ vật tới lễ hội Moka đang trên đường trở về
đi qua giữa cánh đồng hoa tím, phong cảnh thật diễm lệ. Lại thấy nhà
nhà đặt cây xương bồ, túi hoa cỏ thơm tránh tà khí vào lễ hội mồng
Năm tháng Năm... (Truyện 33 quyển 19).
Điểm qua sơ lược như thế cho thấy motip "cây"
là biểu tượng không gian thiêng của rất nhiều cộng đồng cư dân trên
thế giới. Việc xuất hiện với tần số cao các truyện có liên quan đến
motip "cây" ở các tác phẩm giai đoạn đầu của văn học các nước trong
khu vực văn hóa Hán, chứng tỏ sự sự gần gụi về ư nghĩa của các biểu
tượng văn hóa thế giới và sự tương đồng trong nấc thang tư duy của
nhân loại.
*
* *
Từ Linh dị kư và Kim tích có thể nhận ra những
nét riêng và nét chung với truyện kể dân gian Trung Quốc và thuyết
thoại Hán văn của Việt Nam. Những nét chung thường dễ nhận ra bởi
như nhiều nhà nghiên cứu folklore nhận xét, trong văn học dân gian,
đặc biệt trong truyện cổ thần kỳ, tính chung nhân loại làm cho người
đọc, nhà nghiên cứu dễ nhận ra và t́m thấy hơn tính riêng - tính dân
tộc (20). Văn hóa Nhật Bản xét về cơ tầng chiều sâu và bề rộng cũng
chịu ảnh hưởng của văn hóa Đông Nam Á. Nếu xét ở quá tŕnh tiếp biến
th́ văn hóa Nhật Bản cũng không tách rời quan hệ giao lưu quốc tế và
không nằm ngoài những quy luật nội tại của sự sáng tạo dân gian nói
chung.
Tuy nhiên cũng cần thấy rằng, cái làm nên nét
riêng độc đáo của mỗi nước, mỗi dân tộc, lại phụ thuộc vào một thứ
"gen di truyền" của cộng đồng, cộng thêm vào đó là đặc điểm địa lư,
tâm lư văn hóa, đời sống xă hội, ngôn ngữ dân tộc, truyền thống dân
cư... những cái đó đă tạo ra bản sắc riêng của mỗi dân tộc, làm nên
những tiêu chí quan trọng để phân biệt cộng đồng này với cộng đồng
khác (21). Nó góp phần giải thích v́ sao có những tác phẩm bị thờ ơ
ở nước mẹ đẻ lại được nồng nhiệt đón nhận ở nước ngoài (21). V́ lẽ
đó nghiên cứu văn học so sánh sẽ giúp t́m ra những mảng màu khác
biệt, làm cho bức tranh chung trở nên hấp dẫn và lôi cuốn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Nihon muka shibana shi jiden (Từ điển truyện
cổ tích Nhật Bản). Yanada Ko ji
稻
田
浩
二 ,
Ooshima Tatehiko 大
島
建
彥 ,
Kawabata Toyohiko 川
端
豊
彥 ,
Fukuda Akira 福
田
晃 ,
Mihara Yukihisa 三
原
幸
久 biên
soạn. Nhà xuất bản Kobunto. 1984.
2. Lê Quư Đôn: Đại Việt thông sử. Nxb.KHXH.Ha,
1978, tr.102;
3. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại
chí. Nxb.Sử học, H.1961, tr.41.
4. Nguyễn Văn Ngọc: Truyện cổ nước Nam, Vĩnh
Hưng Long thư quán, H.1932-1934, KHXH, H, 1990, 392 tr.
5. Nguyễn Đổng Chi: Việt Nam văn học cổ sử. Hàn
Thuyên xuất bản cục, Ha, 1942, 440 tr.
6. Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tan, Mai Cao Chương:
Văn học Việt Nam (nửa đầu thế kỷ thứ X đến thế kỷ XVIII). Nxb. Giáo
dục, Ha, 1997, tr.117.
7. Tổng tập tiểu thuyết Hán văn Việt Nam. Trần
Nghĩa chủ biên. Nxb. Thế giới, Hà Nội, 1997.
8. Phạm Văn Thắm: Nghiên cứu văn bản và đánh
giá thể loại truyền kỳ viết bằng chữ Hán ở Việt Nam thời trung đại".
Luận án Phó tiến sĩ, 1990.
9. Nguyễn Đăng Na: Văn xuôi tự sự Việt Nam thời
trung đại. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội.
10. Phạm Văn Hoài: Sơ bộ đối chiếu những mục
truyện tương đồng giữa "Nam thiên trận dị tập và "Công dư tiệp kư"
tiền biên. Luận án Thạc sĩ, chuyên ngành Hán Nôm, Hà Nội,1998.
11. Trần Thị An: Đặc trưng thể loại và việc văn
bản hoa truyền thuyết dân gian Việt Nam. Luân án Tiến sĩ ngữ văn. Hà
Nội, 2000.
12. Việt Nam Hán văn tiểu thuyết tùng san. Đài
Loan Học Sinh cục ấn hành 1987.
13. Kawamoto Kunie
川
本
邦
衛 :
Denkimanroku sanpanko (Khảo về các bản in của Truyền kỳ mạn lục ).
Đại học Keio, 1988.
14. Nguyễn Huệ Chi: Khảo luận văn bản. Thơ văn
Lư-Trần. Tập I. Nxb. KHXH, Hà Nội, 1997.
15. Từ điển Văn học. Nhiều tác giả, Nxb. KHXH,
Hà Nội, 1984, tr.57-58.
16. Trần Nghĩa: Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán
Việt Nam. Sđd, tr.17.
17. Kono Kimiko
河
野
貴
美
子 :
Nihon reiki to Chugoku no den sho (Nhật Bản linh dị kư và truyện kể
dân gian Trung Quốc). Nxb. Benjyosha, 1987.
18. Komine Kazuaki
小
峰
和
明 :
Inseiki bungakuron (Bàn luận về văn học thời kỳ In sei)
19. Komine Kazuaki
小
峰
和
明 :
Konjakumonogatarishu wo manabu hito no tameni (Dành cho người mới
học tác phẩm Kon jakumonogata ri shu). Nxb. Sekai shiso. 2003.
20. Tăng Kim Ngân: Cổ tích thần kư người Việt -
Đặc điểm cấu tạo cốt truyện. Nxb.KHXH., 1994.
21. Trần Nghĩa: Lược đồ quan hệ tiểu thuyết Hán
Nôm Việt Nam và tiểu thuyết cổ các nước trong khu vực. Tạp chí Hán
Nôm, 2002, số 2 (35), 1988, tr.3-13.
* Nguồn : Đại học Khoa học Xă hội và Nhân
văn. Bài phát biều trong buổi hội thảo : Văn hóa
phương đông : Truyền thống và Hội nhập được tổ chức vào ngày 13 tháng 1 năm 2007
|
|
|