Báo cáo này tŕnh bày về việc h́nh thành nền
văn hóa đại chúng tại Nhật Bản trong thập niên 1920. Đây là một thời
kỳ với nhiều biến động lịch sử và những biến động lịch sử đó đặc
biệt là sự kiện trận động đất Tokyo năm 1923 với những hệ quả kinh
tế, xă hội, chính trị của nó đă có tác động mạnh mẽ đến quá tŕnh sự
h́nh thành nền văn hóa đại chúng. Hơn nữa, một trong những hệ quả
trực tiếp của nó là sự ra đời của đài phát thanh cũng đă góp phần
truyền bá văn hóa đại chúng tại các đô thị đến nhiều vùng nông thôn
ở Nhật Bản.
Nền văn hóa đại chúng này phải chăng chính là
những cơ sở ban đầu cho việc định h́nh nền văn hóa đại chúng ở Nhật
Bản giai đoạn sau chiến tranh thế giới lần thứ hai và là nguồn gốc
của pop culture của Nhật Bản, một trong những yếu tố làm nền văn hóa
đại chúng chung tại Đông á.
“Văn hóa đại chúng” (mass culture), có thể được
hiểu là nền văn hóa của một xă hội đại chúng – xă hội được h́nh
thành trên những điều kiện: sự gia tăng về số lượng của người lao
động; sự phát triển của một quá tŕnh sản xuất, tiêu thụ lớn theo cơ
chế thị trường; sự mở rộng không giới hạn không gian nhờ những tiến
bộ về giao thông, thông tin; quá tŕnh đô thị hóa và tập trung dân
cư tại các đô thị và đời sống chính trị dân chủ. Nền văn hóa này có
đối tượng thụ hưởng là đại đa số dân chúng - những người có tŕnh độ
giáo dục ở mức độ tương đối. Và những giá trị văn hóa được phổ cập,
truyền bá thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như báo chí,
truyền thanh và ngày nay là truyền h́nh, internet.
Từ cách hiểu trên, ở Nhật Bản, nh́n chung các
nhà nghiên cứu nhận định rằng, xă hội đại chúng được định h́nh vào
giai đoạn kinh tế tăng trưởng cao (1953-1973) thời hậu chiến. Tuy
nhiên, những động thái ban đầu của quá tŕnh h́nh thành xă hội đại
chúng nói chung và văn hóa đại chúng nói riêng đă bắt đầu từ giai
đoạn trước chiến tranh thế giới lần thứ hai, đặc biệt là trong giai
đoạn giữa hai cuộc đại chiến thế giới. Chính với lư do đó, trong
khuôn khổ bài báo cáo này, tôi muốn thử khắc họa những vận động h́nh
thành nền văn hóa đại chúng ở Nhật Bản trong thập niên 1920, từ cuối
thời kỳ Taisho đến đầu thời kỳ Showa.
Như chúng ta đă biết, sau chiến tranh thế giới
lần thứ Nhất (1914-1918), Nhật Bản đă trở thành một trong những
cường quốc trên thế giới, là thành viên thường trực của Hội Quốc
Liên. C̣n trong nước, năm 1925, cuộc bầu cử phổ thông đầu tiên đă
được tổ chức, thể chế chính trị chính đảng được xác lập. Đây chính
là kết quả của phong trào dân chủ Taisho yêu cầu tự do, dân chủ. Tuy
nhiên, không dừng lại ở mức độ đó, phong trào này c̣n lan rộng trên
nhiều phương diện khác như yêu cầu tiến hành dân chủ hóa nhiều mặt
của xă hội và xóa bỏ sự phân biệt đối xử nam nữ trong hoạt động
chính trị như bầu cử, ứng cử...
Hơn nữa, từ sau cuộc chiến tranh Nhật - Nga,
đặc biệt là trong thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ Nhất, nền
kinh tế Nhật Bản đă phát triển mạnh mẽ do các nước công nghiệp chủ
yếu trên thế giới tạm ngưng sản xuất, tập trung tham chiến. Cùng với
sự phát triển kinh tế, quá tŕnh đô thị hóa và đại chúng hóa cũng đă
diễn ra. Từ năm 1903 đến năm 1925, dân số Nhật Bản đă tăng thêm 13
triệu người nhưng dân số ở khu vực nông thôn hầu như không tăng mà
ngược lại, số người lao động tại các công xưởng ở các thành thị tăng
thêm 3,5 lần . Quá tŕnh tập trung dân cư tại các thành thị đă diễn
ra và tầng lớp thị dân với tư cách là tầng lớp dân chúng mới đă h́nh
thành. Nếu năm 1903, số đô thị có dân số trên 5 vạn người là 25 với
số dân là 5.550.000 người (chiếm 11,9% dân số) th́ đến năm 1925, con
số này lần lượt là 71 đô thị với số dân là 12.130.000 người (chiếm
20,3% dân số). Nền kinh tế phát triển cũng đă góp phần tăng thu
nhập của người dân dẫn đến sự dư thừa trong cuộc sống sinh hoạt và
sự h́nh thành những nhu cầu về văn hóa của tầng lớp thị dân này. Có
thể nói, đó chính là cơ sở để nền văn hóa đại chúng ra đời.
Mặt khác, vào đầu thời kỳ Taisho, tỉ lệ người
biết chữ ở Nhật đă đạt tới mức 99%, cơ hội học tập ở các bậc học cao
hơn như đại học cũng được mở rộng. Việc nâng cao mức chuẩn về tri
thức/tŕnh độ giáo dục và sự thừa thăi về kinh tế của người dân đă
trở thành nguyên nhân quan trọng dẫn tới sự phát triển nền văn hóa
đại chúng. Chính v́ vậy, thập niên 1920, từ cuối thời kỳ Taisho
(1912-1926) đến đầu thời kỳ Showa (1926-1989), được nhiều nhà nghiên
cứu Nhật Bản nhận định là thời kỳ h́nh thành nền văn hóa đại chúng
tại Nhật Bản.
Trong quá tŕnh h́nh thành này có một sự kiện
lớn tác động mạnh mẽ đến sự h́nh thành và phát triển của nền văn hóa
đại chúng. Đó chính là trận động đất Tokyo, hay c̣n gọi là trận động
đất Kanto (Kanto daishinsai) xảy ra lúc 11 giờ 58 phút ngày 01 tháng
09 năm 1923 với cường độ 7,9 độ rích te tại khu vực thủ đô Tokyo.
Trận động đất này đă phá hủy phần lớn các nhà dân ở Tokyo. Số người
chết và mất tích lên tới 143.000 người, bị thương là 104.000 người,
số nhà bị phá hủy hoàn toàn là 128.000 hộ, bị phá hủy một nửa là
126.000 hộ, bị cháy là 447.000 hộ. Tổng số người chịu ảnh hưởng của
trận động đất lên tới 3.400.000 người
[3] .
Trận động đất Tokyo đă phá hủy toàn bộ vùng thủ
đô Tokyo, làm nảy sinh nhiều vấn đề xă hội nên ở khía cạnh nào đó,
đây cũng có thể được coi là một sự kiện xă hội lớn. Bên cạnh đó, sự
tàn phá của thiên nhiên cũng khiến con người cảm thấy một sức mạnh
siêu nhiên vượt quá tầm kiểm soát của con người, do đó nó cũng có
thể được coi là một sự kiện tâm lư xă hội. Sau khi trận động đất
Tokyo xảy ra, trong dân chúng đă xuất hiện lời đồn đại về một cuộc
bạo động của người Triều Tiên và cuộc cách mạng của những người theo
chủ nghĩa xă hội. Một người lính chứng kiến sự kiện này đă viết lại
trong nhật kư của ḿnh rằng:
“Ngày mồng 3 tháng 9. Trời mưa.
Lúc 01 giờ sáng, có lệnh tập hợp. V́ có những
người Triều Tiên không rơ lai lịch ở Tokyo nhân cơ hội này (nhân
trận động đất) đang liên tiếp thực hiện nhiều hành động xấu bất
thường (bỏ thuốc độc vào giếng, ném bom vào những nơi hỏa hoạn,
cưỡng hiếp...), nên để trấn áp chúng, chúng tôi đă mang theo 38 khẩu
súng ngắn, súng trường đă nạp đạn sẵn sàng, lên ngựa phi nhanh đến
Oshima thuộc Tokyo. Từ phía Komatsugawa, rất nhiều người dân địa
phương đang giao chiến, mọi người dùng kiếm, tre vót nhọn, mắt ngầu
đỏ, t́m giết người Triều Tiên, quang cảnh hết sức hỗn loạn....Khi
nghĩ rằng ai đó là người Triều th́ họ không nói năng ǵ cả, không
cần căn cứ nào, lập tức giết ngay. Rồi họ ném xác xuống sông”. [4]
Ngoài quân đội, các đội tự vệ được thành lập ở
các vùng, tiến hành kiểm tra những người nghi vấn. Trong các đội tự
vệ có quân nhân địa phương, lực lượng pḥng cháy chữa cháy... Bản
thân chính phủ, cảnh sát và quân đội cũng khuyến khích hoạt động
này. Cuộc thảm sát người Triều Tiên kéo dài suốt đến ngày 07 tháng
09. Theo nghiên cứu của Eguchi Keiichi, tổng số người Triều Tiên bị
giết trong những ngày sau trận động đất vào khoảng 6000 người, c̣n
số người Trung Quốc là 200 người [5] . Tuy nhiên, con số chính xác là
không rơ ràng. Chính phủ Nhật Bản không muốn truy cứu chân tướng sự
kiện này. Có lẽ con số bị giết c̣n cao hơn gấp nhiều lần. Số người
Nhật bị giết do nhầm lẫn chắc cũng không ít, vào khoảng 59 người
[6] .
Những người này đều được tính vào số những người bị mất tích trong
trận động đất.
Đối tượng bị hại không chỉ là những người Triều
Tiên và Trung Quốc. Những nhà hoạt động xă hội chủ nghĩa và liên
đoàn lao động cũng bị giết hại. Dựa trên những thông tin cho rằng
các nhóm hoạt động xă hội chủ nghĩa sẽ lợi dụng trận động đất này để
làm cách mạng, cảnh sát, quân đội đă bắt giữ những người này và giết
hại họ. Tại Kamedo, sở cảnh sát vùng Kamedo đă bắt 8 nhà hoạt động
của Liên đoàn lao động đang tham gia hoạt động cứu giúp những người
bị hại và thắt cổ giết chết họ. Đội trưởng đội hiến binh vùng
Kojimachi là đại úy Amakasu Masahiko đă lệnh cho hiến binh bắt Osugi
Sakae (1885-1923), một nhà hoạt động xă hội chủ nghĩa, cùng vợ là
Ito Nogi, nhà hoạt động giải phóng phụ nữ, và cháu của họ là
Tachibana Soichi 6 tuổi, giết chết và ném xuống giếng.
Sự kiện này đă có tác động mạnh mẽ đến dân
chúng Tokyo khi đó, đồng thời nó cũng cho thấy rơ nỗi lo sợ về những
thiệt hại xă hội nảy sinh từ việc thiếu thông tin hay thông tin
không đầy đủ. Đó chính là một nguyên nhân thúc đẩy nhanh sự xuất
hiện của đài phát thanh ở Nhật Bản sau đó.
Trận động đất Tokyo hầu như đă phá hủy toàn bộ
khu vực Tokyo. Do đó, sau trận động đất, chính phủ đă đưa ra kế
hoạch hiện đại hóa, tái thiết Tokyo. ở trung tâm Tokyo, các con
đường trung tâm được quy hoạch, xây dựng với quy mô lớn để pḥng
ngừa hoả hoạn lan rộng. Nhiều công viên cũng được xây dựng để làm
nơi lánh nạn của người dân. Chỉ trong một thời gian ngắn, bằng những
kỹ thuật hiện đại, Tokyo đă được khôi phục với một tốc độ nhanh
chóng đáng kinh ngạc, không gian đô thị thay đổi và một thành phố
với những giá trị văn minh mới đă ra đời. Sự phát triển của khu
Marunouchi với trung tâm là các khu văn pḥng cùng với tuyến tàu
điện Chuo chạy cắt ngang Tokyo và tuyến Yamanote chạy ṿng quanh
Tokyo đă tạo nên một mạng lưới giao thông gắn kết khu vực trung tâm
xung quanh ga Tokyo với các khu vực ngoại vi.
C̣n ở vùng ngoại vi, chính phủ đă có kế hoạch
xây dựng các khu dân cư với những nhà tập thể kiểu mới theo phong
cách kiến trúc kết hợp giữa châu Âu và Nhật Bản dọc theo các tuyến
tàu điện. Chính v́ vậy, nhiều người đă chuyển ra sinh sống ở ngoại
vi Tokyo. Tokyo gần như được chia làm hai khu vực tương đối tách
biệt, khu vực công sở trung tâm và khu vực dân cư ở ngoại vi.
Một cuộc sống văn hóa mới đă ra đời và nuôi
dưỡng nhu cầu của tầng lớp thị dân mới, tầng lớp trung lưu, những
người làm công ăn lương, có tŕnh độ học thức cao.
Văn hóa của tầng lớp thị dân, trung tâm của nền
văn hóa đại chúng khác với đời sống sinh hoạt của người dân Nhật Bản
trong giai đoạn trước đó. Tại nhiều ga, các khu bách hóa tổng hợp
với quy mô lớn có thể đón tiếp một số lượng lớn khách hàng đă được
xây dựng, trước tiên là ở khu vực ga Umeda thuộc Osaka. Người dân
thành thị vào ngày chủ nhật thường đến khu bách hóa này dạo chơi,
mua sắm. Tại cửa hàng bách hóa này có trưng bày các ma nơ canh mặc
những bộ trang phục phương Tây và mọi người học tập bắt chước mặc
những bộ trang phục này. Chính những bóng dáng các bộ trang phục
phương Tây của các nam thanh nữ tú hiện đại (modern girl, modern
boy) đă thể hiện phong cách, hơi thở của thời đại mới và trở thành
biểu tượng của văn hóa thành thị. Xung quanh các cửa hàng bách hóa
là hàng loạt các quán ăn với những món ăn theo kiểu phương Tây như
cơm cà ri (curry rice), khoai tây chiên tẩm bột (croquette), cơm
thịt lợn tẩm bột rán (katsudon) và việc ăn những món ăn này được coi
là lối sống hiện đại.
Tiêu biểu cho nền văn hóa mới thời kỳ này là
khu Ginza, trung tâm của nền văn hóa tiêu thụ. Việc dạo chơi mua sắm
ở khu Ginza đă trở thành một lối sống và là phương thức để hấp thụ
những biến động mạnh mẽ của văn hóa đô thị. Ginza trở thành nơi phát
tín hiệu truyền bá văn hóa đô thị. Câu nói quảng cáo của cửa hàng
bách hóa Mitsukoshi “hôm nay là nhà hát kịch đế quốc, mai là
Mitsukoshi” đă thể hiện sâu sắc không khí khi đó và gây ấn tượng
mạnh mẽ với nhiều người.
Một yếu tố văn hóa đại chúng quan trọng của
thời kỳ này là điện ảnh. Mặc dù mới chỉ là những bộ phim câm nhưng
cho đến thời điểm tivi xuất hiện, nó luôn chiếm vị trí số một trong
các loại h́nh giải trí. Những bộ phim như “Cô bé Matsui mắt ngọc”
với các diễn viên Onoe Matsunosuke, hay phim kiếm hiệp với Bando
Tsumasaburo đă thu hút được sự hâm mộ của nhiều người. Các diễn viên
phương Tây như Chaplin, Harold Lloyd, Buster Keaton cũng được hâm mộ
qua các bộ phim hài. Năm Showa thứ 4 (1929), những bộ phim có tiếng
đầu tiên đă được chiếu tại các rạp phim Musashino ở Shinjuku và rạp
Denkikan ở Asakusa. Hai năm sau đó, bộ phim có tiếng đầu tiên của
Nhật Bản “Quư bà và tiểu thư” của đạo diễn Gosho Heinosuke
(1902-1981) và hăng Shochiku đă được tŕnh chiếu, đánh dấu sự chấm
dứt của thời đại phim câm.
Ngoài điện ảnh, nghệ thuật với tư cách là văn
hóa đại chúng cũng có những phát triển lớn. Về văn học, đây là thời
đại nhiều tiểu thuyết gia lớn đă xuất hiện. Ví dụ như Mushanokoji
Saneatsu (1883-1976), Shiga Naoya (1883-1971), Arishima Takeo
(1878-1923) thuộc phái Shirakaba (Bạch Hoa); Shimazaki Toson
(1872-1943), Natsume Soseki (1867-1916) thuộc phái chủ nghĩa tự
nhiên; Kawabata Yasunari (1899-1972) thuộc phái tân cảm giác. Văn
học vô sản cũng phát triển với Kobayashi Takiji (1903-1933),
Tokunaga Sunao (1899-1958), về thơ có Takamura Kotaro (1883-1956),
về tanka có Saito Shigeyoshi, về thơ haiku có Takahama Kyoshi
(1874-1959). Có thể nói đây là thời kỳ xuất hiện nhiều nhân vật kiệt
xuất nhất trong lịch sử văn học Nhật Bản.
Trong thời kỳ Taisho, mọi người say sưa hát các
bản dân ca Nga, bài hát tiếng Anh, các vở opera với máy hát, đĩa
hát. Năm Showa thứ 3 (1928), hăng Victor đă phát hành đĩa hát “Habu
no minato, Cảng trung tâm” của danh ca opera được hâm mộ khi đó là
Fujihara Yoshie và hăng Columbia đă phát hành đĩa hát “Mon Paris”.
Đây là những đĩa hát có tiếng đầu tiên của Nhật Bản. Năm Showa thứ 4
(1929), đĩa nhạc “Cachiusa” do ca sĩ Matsui Sumako (1886-1919) hát
bằng tiếng Nhật đă bán được hai vạn đĩa. Nhờ sự ra đời của ngành
công nghiệp sản xuất đĩa hát Nhật Bản, nhiều bài dân ca Nhật Bản đă
được ghi âm và trở nên phổ biến trong dân chúng. C̣n trong giai đoạn
trước đó, các bài hát được lưu hành chủ yếu là các bài hát mang
phong cách châu Âu và được lưu hành chủ yếu tại các quán cafe bằng
máy hát.
Đóng vai tṛ quan trọng với tư cách là cầu nối
truyền bá văn hóa đại chúng ra phạm vi toàn quốc là các phương tiện
thông tin đại chúng. Quá tŕnh đại chúng hóa các tờ báo, tạp chí đă
tiến triển thêm một bước bởi lẽ nhu cầu của tầng lớp thị dân khi đó
là văn hóa đọc và văn hóa thông tin. Năm Taisho thứ 13 (1924), các
tờ báo ở Osaka như tờ Asahi, Mainichi đă vượt qua con số 1 triệu bản
một ngày. C̣n về tạp chí, các tờ tạp chí tổng hợp xuất hiện. Năm
1919, tờ “Kaizo” được xuất bản, cùng với tờ “Chuokoron” xuất bản từ
thời kỳ Minh Trị ủng hộ phong trào đấu tranh dân chủ, góp phần nâng
cao sự quan tâm của độc giả đến các vấn đề xă hội. Các tờ tạp chí
dành cho phụ nữ, thiếu niên và giải trí cũng lần lượt xuất hiện.
Trong đó, đáng chú ư nhất là tờ “King”. Ngay từ khi mới xuất bản,
nhờ những biện pháp quảng cáo mạnh mẽ, đa dạng như quảng cáo trên
báo, treo băng rôn... với những khẩu hiệu như: “Hay nhất Nhật Bản”,
“Bán chạy nhất Nhật Bản”, “V́ vị trí nhất Nhật Bản”..., ngay số đầu
tiên đă tiêu thụ được 740.000 bản và đến số đầu tiên của năm kế
tiếp, con số này đă đạt tới 1,5 triệu bản. Đây là số lượng phát hành
gây kinh ngạc giới xuất bản thời kỳ đó.
Trong sự biến đổi mạnh mẽ như vậy, sự xuất hiện
của một phương tiện thông tin đại chúng có ảnh hưởng lớn nhất là đài
phát thanh. Ngày 22 tháng 03 năm 1925, đài phát thanh Tokyo đă bắt
đầu phát sóng trên tần số 800 Khz, công suất 220 wats, mở đầu cho
thời kỳ phát triển mạnh mẽ của làn sóng phát thanh ở Nhật Bản. Vào
thời điểm đó, số máy thu tín hiệu phát thanh ở Nhật Bản mới chỉ có
3500 chiếc, số người tiếp nhận sóng phát thanh là 258.500 người, tỉ
lệ phổ cập là 2,1% [7]. Sau đó, các đài phát thanh Osaka, đài phát
thanh Nagoya cũng bắt đầu phát sóng và thời kỳ này được gọi là thời
đại của ba đài phát thanh.
Năm Showa thứ 2 (1927), các buổi phát trực tiếp
bên ngoài pḥng thu cũng tăng lên. Tháng 2 năm đó, lễ tang Thiên
Hoàng Taisho đă được phát thanh trực tiếp (buổi phát thanh trực tiếp
đầu tiên bên ngoài đài ở Tokyo). Tháng 8 cùng năm, buổi phát thanh
trực tiếp chương tŕnh thể thao trận chung kết giải bóng chày các
trường phổ thông trung học toàn quốc đă được thực hiện. Tuy nhiên,
trên thực tế, sau khi đài phát thanh bắt đầu hoạt động, nhiều người
dân đă yêu cầu các đài phát thanh phát các chương tŕnh giải trí và
ca nhạc.
Ngày 5 tháng 11 năm 1928, mạng lưới phát thanh
toàn quốc từ Hokkaido đến Kyushu đă được thiết lập, việc phát thanh
trực tiếp trên toàn quốc đă có thể thực hiện được. Và ngày hôm sau,
mồng 6 tháng 11, lễ đăng cơ của Thiên Hoàng Showa đă được truyền
trực tiếp trên sóng phát thanh toàn quốc. Với sự kiện này, Đài phát
thanh đă có vai tṛ quan trọng trong việc cung cấp thông tin một
cách kịp thời đến toàn bộ dân chúng vào đúng thời điểm bắt đầu một
thời đại mới, thời đại Showa. Ngày 30 tháng 09 năm 1928, số máy thu
sóng phát thanh toàn Nhật Bản là 50 ngh́n chiếc. Đến năm 1937, 10
năm sau ngày phát sóng đầu tiên, số người nghe đài phát thanh ở Nhật
đă lên tới 19.790.000 người, tỉ lệ phổ cập là 15,5%
[8] . Tỉ lệ phổ cập
này mặc dù không phải là lớn nhưng nó cho thấy sự gia tăng về số
lượng người nghe đài, đặc biệt là trong giai đoạn thời chiến.
Cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp
điện lực toàn quốc, các máy thu sóng phát thanh với chất lượng tốt,
giá thành thấp đă được bán trên thị trường, thúc đẩy hơn nữa sự phổ
cập sóng phát thanh toàn Nhật Bản. Chủng loại đài rất đa dạng, từ
kiểu dáng đài riêng lẻ có tai nghe đến kiểu đài có thể cả gia đ́nh
cùng nghe.
Như đă tŕnh bày ở trên, các tờ báo, tạp chí
cũng đă bước vào giai đoạn đại chúng hóa nhưng đài phát thanh đă
đóng vai tṛ đầu tàu trong việc thúc đẩy quá tŕnh đại chúng hóa văn
hóa. Báo chí đă đăng tải chương tŕnh phát thanh hàng ngày, đăng lời
các bài hát đang thịnh hành trên sóng phát thanh. Quá tŕnh điện ảnh
hóa cũng diễn ra tương tự, các tờ tạp chí đăng các bài giới thiệu
nội dung chính của bộ phim, các bài hát lưu hành trong các bộ phim,
đưa ra những chiến lược nhằm hợp tác trong việc đẩy nhanh việc lưu
hành những bộ phim này.
Giới kinh doanh đĩa hát ban đầu bị đài phát
thanh áp đảo nên có nhiều phản ứng tiêu cực với đài phát thanh. Tuy
nhiên, dần dần giới kinh doanh đĩa hát cũng chuyển sang chiều hướng
tích cực hơn bởi lẽ họ nhận thấy rằng phản ứng của người nghe những
bài hát trên sóng phát thanh có tác động mạnh đến việc bán các đĩa
hát. Sự hợp tác này bắt đầu đi vào quỹ đạo từ năm 1929, 1929, các
bài hát Hành khúc Tokyo, Hành khúc Dotonbori được hát từ các quán
bar ở Ginza, các quán cafe đến nông thôn và được phát trên sóng phát
thanh toàn quốc. Các cuộc nói chuyện, rakugo, naniwabushi (lăng hoa
tiết) [9] cũng là các chương tŕnh giải trí đại chúng mà đài phát thanh
cung cấp. Đặc biệt, nhờ đài phát thanh, naniwabushi đă trở thành
h́nh thức giải trí được ưa chuộng nhất thời bấy giờ.
“Sự si mê” đài phát thanh của mọi người đă vượt
quá sức tưởng tượng, nhiều cuộc phát thanh thử nghiệm đă được tiến
hành. Các chương tŕnh nguyên mẫu cho các chương tŕnh phát thanh
ngày nay đă được thực hiện như tin tức hàng tuần, tin tức theo giờ,
dự báo thời tiết, dậy nấu ăn...
Sự phát triển của đài phát thanh đă đưa đến
những biến đổi xă hội quan trọng. Chương tŕnh tập thể dục theo đài
ngày nay được bắt đầu phát sóng vào tháng 1 năm Showa thứ 3 (1928)
và từ ngày 11 tháng 2 năm 1929, nó trở thành chương tŕnh phát sóng
định kỳ vào sáng sớm hàng ngày trừ ngày chủ nhật và ngày lễ. Bài hát
thể dục buổi sáng đă trở thành âm thanh báo hiệu một ngày mới. Quang
cảnh mọi người tập thể dục theo hiệu lệnh từ đài phát thanh trên
toàn Nhật Bản đă thể hiện một cách tiêu biểu thời đại biến đổi của
xă hội Nhật Bản.
Nhiều sự kiện trọng đại qua sóng phát thanh đă
được truyền đến mọi nhà như lễ duyệt binh kỷ niệm ngày sinh nhật
Thiên Hoàng (lễ này được bắt đầu từ năm Minh Trị thứ 1). Điều mà đài
phát thanh phát huy hiệu quả nhất vai tṛ của một phương tiện thông
tin đại chúng là cung cấp các kinh nghiệm chung, đồng thời cho toàn
Nhật Bản bắt đầu từ việc tập thể dục buổi sáng. Đài phát thanh cũng
có vai tṛ quan trọng trong việc tổng động viên toàn quốc.
Như vậy, có thể nói, nền văn hóa đại chúng h́nh
thành trong thời kỳ Taisho (1912-1926) là sự kết tinh có tính tất
yếu của quá tŕnh phát triển văn hóa trên cơ sở những điều kiện về
kinh tế, chính trị, giáo dục cần thiết đă được chuẩn bị trong thời
kỳ Minh Trị. Trận động đất Tokyo năm 1923 mặc dù là một thiên tai
không may, để lại hậu quả nặng nề nhưng xét ở một khía cạnh khác,
phải chăng đó cũng là một “điềm may”, tạo ra một cơ hội thuận lợi để
Nhật Bản có thể tiến hành đẩy nhanh hơn tiến tŕnh hiện đại hóa, đô
thị hóa và đại chúng hóa nền văn hóa. Sau trận động đất này, cùng
với việc tái thiết khu vực Tokyo, nền văn hóa đại chúng đă được tạo
những điều kiện cần thiết để phát triển. Hơn nữa, nhờ sóng phát
thanh, một trong những hệ quả gián tiếp của trận động đất, mà mọi
người dân Nhật Bản đă cùng nắm bắt được các công việc của quốc gia.
Quá tŕnh mọi người dân Nhật Bản cùng thụ hưởng những chương tŕnh
ca nhạc, giải trí giống nhau cũng là quá tŕnh thống nhất về tinh
thần và văn hóa. Trong thời kỳ quân phiệt sau đó, sóng phát thanh đă
khiến người dân Nhật Bản dễ dàng bị cuốn vào cái gọi là “tẩy năo đại
chúng”.
Thay lời kết
Ngày nay, tại các quốc gia ở khu vực Đông á như
Nhật Bản, Hàn Quốc đă h́nh thành văn hóa của giới trẻ (pop culture).
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, quốc tế hóa, pop culture đă phát triển
mạnh mẽ và những giá trị đặc trưng của nó đă được truyền bá đến
nhiều quốc gia khác. Trong báo cáo của ḿnh tại Hội thảo “Hướng tới
Cộng đồng Đông á - Cơ hội và thách thức”, Giáo sư Furuta Motoo đă
nhận định rằng: “trong quá tŕnh phát triển kinh tế, tầng lớp trung
gian thành thị được h́nh thành ở các đồ thị lớn tại các nước trong
khu vực Đông á. Giữa tầng lớp này, nhất là lớp trẻ, có xuất hiện
những mặt thị hiếu chung của khu vực Đông á trong lĩnh vực văn hoá
đại chúng”[10] như manga, anime và nhạc pop của Nhật Bản, phim truyền
h́nh của Hàn Quốc, điện ảnh của Hồng Kông (Trung Quốc)... Đó chính
là “nền văn hóa đại chúng chung của khu vực Đông á” .
[11] Nền văn hóa
này được phát triển trên nền tảng những giá trị văn hóa tiêu biểu
của pop culture của các nước, trong đó có pop culture của Nhật Bản
h́nh thành trên nền tảng của văn hóa đại chúng thời kỳ Taisho và đầu
Showa.
.....................
[1]
Nihonshi no kihonchishiki, Yuhikaku, 1974, tr.434
[2]
Sđd, tr 434
[3]
Shinsho nihonshi zusetsu, Hamashima shoten, 2003, tr.208
[4]
Nakamura Shintaro, Kanto daishinsai to chosenjin gyakusatsu
, Gendaishi shuppankai, 1975, tr.13-14
[5]
Eguchi Keiichi, Taikei Nihon no rekishi , Futatsu no
taisen , Shogakukan, 1985, tr.126
[6]
Eguchi Keiichi, Taikei Nihon no rekishi , Futatsu no
taisen , Shogakukan, 1985, tr.126
[7] Okuda
Haruki (hen), Nihon Kindaishi gaisetsu , Kobundo,
2003, tr.112
[8]
Okuda Haruki, Sđd, tr.112
[9] Một
loại h́nh nghệ thuật kể chuyện có bổ sung thêm các tiết tấu âm nhạc
của đàn samisen.
[10]
“Hướng tới cộng đồng Đông á - Cơ hội và thách thức ”, Kỷ yếu
Hội thảo khoa học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006, tr.94
[11]
Sđd, tr.95
.......
Tài liệu tham khảo
1. “Hướng tới cộng đồng Đông á - Cơ hội
và thách thức”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, NXB Đại học Quốc gia Hà
Nội, 2006.
2. Eguchi Keiichi, Taikei Nihon no
rekishi - Futatsu no taisen, Shogakukan, 1985
3. Okuda Haruki (hen), Nihon Kindaishi
gaisetsu, Kobundo, 2003.
4. Nakamura Shintaro, Kanto daishinsai
to chosenjin gyakusatsu, Gendaishi shuppankai, 1975.
5. Haruhara Akihiko, Nihon shinbun
tsushi, Shinsensha, 1985.
6. Iwanami Koza, Nihontsushi, Dai 18
kan, Kindai 3, Iwanami shoten, 1994
7. Rekishi Gakukenkyukai, Nihon
rekishi, Kindai 3, Tokyodaigaku shuppankai, 1985.
8. Nihonshi no kihonchishiki, Yuhikaku,
1974
9. Shinsho nihonshi zusetsu, Hamashima
shoten, 2003.
* Nguồn : Đại học Khoa học Xă hội và Nhân
văn. Bài phát biều trong buổi hội thảo : Văn hóa
phương đông : Truyền thống và Hội nhập được tổ chức vào ngày 13 tháng 1 năm 2007