|
|
Ngục Trung
Thư Đời cách mạng của
Phan Bội Châu
Nguyên tác bằng Hán văn của Phan Bội Châu Bản dịch của Đào Trinh Nhất
Lời tựa
Năm 1913, Phan Sào Nam tiên sinh đang ở bên
Tàu, bỗng bị Đô đốc Quảng Đông là
Long Tế Quang vừa ham lợi, vừa sợ oai,
bắt tiên sinh hạ ngục và toan giải giao
cho chính phủ thuộc địa Đông Dương.
Nếu không có những bạn cách mạng Trung
Hoa nhất là Hồ Hán Dân cứu khỏi, th́ tiên
sinh đă bị bắt về nước hơn
12 năm kia rồi. Lúc ở trong ngục
Quảng Châu, tiên sinh thái nhiên viết ra tập sách
tuyệt mạng, tựa là Ngục Trung Thư,
tự thuật về việc ḿnh bôn tẩu
quốc sự mấy mươi năm, lời
lẽ rất là thành thật, bi tráng. Đến văn
chương hay th́ khỏi phải nói. Anh em VN
đồng chí ở Tàu năm 1914, từng đem
xuất bản 1 lần. Năm 1938 lại mới
in 1 lần nữa. Ai cũng phải nh́n
nhận tập văn có giá trị, cả về
lịch sử và văn chương. Chúng tôi
dịch ra đây để cống hiến đồng
bào xem cho biết tiên sinh hoạt động cách
mạng ở hải ngoại gian nan nguy hiểm ra
sao. Độc giả đọc sẽ thấy
bậc người tài học và khảng khái như
tiên sinh, 20 năm về trước bôn tẩu
quốc sự, có thanh danh trọng vọng
biết bao, thế mà vẫn cứ giữ đức
tự trọng tự khiêm, đến đỗi
tự cho ḿnh là ngu, là dở, ấy chính là
chỗ tŕ thủ cao thượng của nhà chí sĩ
cựu học, và tiên sinh là người khiến
cho chúng ta đáng kính, không lấy sự thành
bại luận anh hùng, cũng chính v́ chỗ tŕ
thủ đó vậy.
Chẳng bù với nhiều người tự xưng
là chí sĩ mưu quốc bây giờ, mỗi
việc ǵ cũng háo thắng háo danh, chưa ra ǵ
đă tự cao tự đại, chúng tôi tưởng
họ cần phải học đạo tŕ
thủ c̣n lâu lắm. Sau khi bị bắt về nước,
giam lỏng ở Huế gần 15 năm, cho
tới ngày chết, t́nh cảnh rất tiêu điều,
túng bấn, nhưng vẫn "lạc đạo
an bần", giữ tṛn tiết tháo, từ
chối nhất thiết danh lợi của đối
phương cám dỗ. Chỉ v́ muốn treo cao
tấm gương sáng đó mà chúng tôi công
bố bản dịch Ngục Trung Thư này ra, không
có hậu vọng nào khác hơn.
Đào Trinh Nhất
Tiểu sử Đào Trinh Nhất: Đào Trinh
Nhất sinh năm 1899 tại Thái B́nh. Ông là con
của Đào Nguyên Phổ và Lương Thị Ḥa
(cháu nội Lương Văn Can) và là cựu
học sinh trường Quốc Tử Giám,
Huế.
1921-1925 : Viết báo Hữu Thanh, Thực Nghiệp
Dân Báo và France-Indochine ở Hà Nội .
14/11/1925 : Tới Saigon, làm thư kư tại Chez Phan
Chu Trinh, số 5 Catinat (đường Tự Do).
22/3/1926 : qua Pháp.
15/4/1926 : Tới Paris liên lạc với Nguyễn
Thế Truyền và Nguyễn Như Phong. Viết báo
Việt Nam Hồn.
5/1927 : Trở về VN.
1930-1931 : Chủ bút báo Đuốc Nhà Nam (Flambeau
d'Annam) của Bùi Quang Chiêu.
2/1936 : Xuất bản tờ Mai, tấn công Đại
Hội Đông Dương.
25/7/1939 : Bị trục xuất về Bắc.
1944-1945 : Cộng tác với báo Nước Nam
của Lương Ngọc Hiền tại Hà
Nội..... ...............................................
1. V́ sao Long Tế Quang bắt tôi hạ ngục ?
:
Con chim sắp chết, tiếng kêu đau thương;
người ta sắp chết, lời nói ngay
thẳng. Những lời tôi nói ra đây có ngay
thẳng hay chăng, tôi đâu có biết. Nhưng
chỉ biết là lời nói của một người
sắp chết th́ có.
Mùa đông năm Quư Sửu (1913) tôi đang
ở đậu Dương Thành (tức Quảng
Châu, tỉnh Quảng Đông), th́ quan Toàn quyền
Pháp (Albert Sarraut) ở Đông Dương sang chơi
Quảng Châu, đem vụ án đầu đảng
cách mạng nước Nam ra, xin chính phủ
Quảng Đông bắt tôi giao về chính phủ Pháp
xử.
Đô đốc Quảng Đông lúc bấy giờ là
Long Tế Quang chịu theo lời xin ấy, trước
ngày cuối năm 8 bữa, bắt tôi giam cầm
trong ngục, và báo cho tôi biết rằng sớm
muộn sẽ giải tôi giao trả cho người
Pháp.
Tôi biết sớm chiều ǵ đây, đầu
tôi cũng ĺa khỏi cổ, nhưng tôi vẫn
lấy làm vui vẻ. Than ôi ! Bao nhiêu năm bôn
tẩu, mưu tính trăm việc mà không nên
một việc ǵ, nghĩ ḿnh tội nặng
lỗi nhiều, có vui ǵ sống nữa mà ham.
Song trước khi chết, không lẽ không
thốt ra một vài tiếng kêu đau thương
sau chót. Ai biết ḷng ta chăng ? Ai bảo ta có
tội chăng ? C̣n một giây phút trước
khi ta phải chôn ḿnh dưới đất, ta cũng
muốn cạn lời ta nói. Chiếc bóng bơ
vơ trời biển, ngọn đèn leo lét gió mưa,
ta thấm giọt lệ c̣n lưu lại mấy
chục năm nay, gom góp lịch sử 1 đời
ta, ḥa với máu mà viết ra tập sách này.
Hỡi ba ngàn muôn đồng bào chí ái chí thân,
dầu ai biết ḷng ta chăng ? Dầu ai
buộc tội ta chăng ? Khi đọc tập sách
này, sẽ thấy giọt máu hầu khô, vẫn
c̣n đầm đ́a ở trên mặt tờ
giấy vậy.
2. Ra đời giữa lúc
mất Nam Kỳ đă sáu năm ! :
Triều vua Tự Đức thứ 15, Nhâm
Tuất (Tây lịch 1862), binh Pháp chiếm lĩnh
đất Nam Kỳ của ta. Nam Kỳ là kho tàng
thiên nhiên của nước ta; cửa biển vào
Saigon thật là cuống họng ta, nay đă vào
tay người Pháp rồi, ta chưa mất
hết cả nước, chỉ là chuyện
thời gian sớm muộn đó thôi. Chén vàng
đă ụp, nhà lớn sắp tiêu, thương
thay cho ta, lại nhè giữa lúc ấy mà sinh ra
đời. Thiệt ta sinh ra đời
giữa năm Đinh Măo niên hiệu Tự Đức
thứ 20, nghĩa là lúc Nam Kỳ đă mất sáu
năm rồi. Đầu xanh nào đă biết ǵ,
con thơ chưa ĺa bọc mẹ, thế mà
tấn kịch biển khóc non gào, sửa soạn
đem mi mà liệng vào giữa tấm màn
thảm đạm ấỵy. Lồng lộng
trời xanh, kẻ ấy là ai đó tá ?
Lúc đầu thế kỷ 18, ngọn sóng
mới của Âu học vọt lên cao muôn trượng;
những tiếng dội phú cường, hầu
như vang động tràn lan cả hoàn
cầu. Phải chi ta sớm được
đầu thai ở giữa khoảng đó, có
lẽ ta không đến đỗi mù mù mịt
mịt như ta ngày hôm nay. Nhưng tiếc thay, ta
chẳng may sinh ra ở nước Nam ta.
Nước ta từ xưa phụ thuộc vào nước
Tàu, địa lư, lịch sử, gốc tích,
trải mấy ngàn năm nay, như hai nước
anh em đă lâu đời lắm vậy.
Bởi đó, nước ta chỉ biết tôn sùng
Hán học như thần thánh, mà Hán học xem
trọng, chỉ có khoa cử văn từ.
Tôi từ nhỏ tới lớn, vốn có tư
chất thông minh, công phu đèn sách dùi mài cũng
không bê trễ, nhưng kể đến sự
kết quả, chẳng qua chỉ là sự
học khoa cử mà thôi. V́ lúc bấy
giờ, lối học khoa cử của nhà Thanh,
đang sôi nổi như gió cuốn mây bay, người
nước ḿnh bắt bóng theo chân, chỉ sợ
không giống như người Tàu. Bà con ta
muốn cưỡi mây lướt gió, không
thể nào không mượn con đường khoa
cử, dầu ai có muốn chẳng theo thời
đi nữa, cũng không có đường
học nào mà đi. Than ôi ! Chổi cùn trong nhà,
tự ḿnh xem là của quư, sự ưa thích lâu
đời đă thành thói quen thành ra rốt
cuộc tôi cũng bị thời trang trói
buộc, đến đỗi tiêu hao ngày tháng
về nghiệp khoa cử gần hết nửa
đời người. Đó là ả vết nhơ
rất lớn trong đời tôi.
3. Cùng anh em đồng chí
ra đội Sĩ tử Cần Vương:
Năm tôi 17 tuổi, tức là năm Tự
Đức 36, Quư Mùi, quân Pháp chiếm lấy Hà
Nội và các tỉnh Bắc Kỳ. Đến năm
tôi 19 tuổi, nhằm năm Ất Dậu, Hàm
Nghi nguyên niên, quân Pháp chiếm kinh thành Huế,
vua Hàm Nghi phải chạy : cung điện bày ra
cảnh hoang lương, nhởn nhơ bầy nai,
đầy dăng ổ quạ, tấn kịch
vong quốc mở ra từ tháng Bảy Hàm Nghi năm
đầu trở đi vậy. Ôi ! Trời
nghiêng đất ngă, lúc này kẻ làm trai đội
trời đạp đất, ai nỡ ḍm non sông
bằng con mắt gỗ đá, trơ trơ cho
đành !
Tôi được trời phù hộ cho, máu nóng
không vừa, ngay từ hồi c̣n là thằng
trẻ con đọc sách của cha để
lại, mỗi khi đọc tới chuyện người
xưa hăng hái thành nhân tựu nghĩa (hy sinh v́
chính nghĩa), tôi thường nhỏ nước
mắt ṛng ṛng, thấm ướt cả sách.
Những chuyện Trương công Văn Định
chết theo Nam Kỳ và Nguyễn công Tri Phương
tuẫn thành Hà Nội, tôi hay đàm đạo
nhắc nhở tới luôn, mà mỗi lần
nhắc tới, khiến tôi vung tay vỗ ngực,
tự thẹn cho ḿnh thua sút hai ông đó. V́ tính
chất trời sinh cho tôi như thế, không
thể nào làm bộ khác hơn được.
Sau lúc kinh thành thất thủ, vua Hàm Nghi ngự
giá ra đóng tại sơn pḥng tỉnh Hà Tĩnh,
các bậc quan nhân đang ở nhà, như
Nguyễn Xuân Ôn, Đinh Văn Chất, đua nhau
dựng cờ cần vương, phong trào lan tràn
khắp các phủ huyện đều có. Ngó
lại tôi c̣n là 1 tên học tṛ nhỏ tuổi,
nào có thế lực ǵ dám cùng các cụ cùng
nổi lên làm việc lớn. Ḿnh như con chim
con, lông cánh chưa đủ, nanh vuốt c̣n non,
tự nghĩ mà buồn. Lại nhớ đến
chuyện anh hùng của Đổng Thiên Vương
ngày xưa 3 tuổi cỡi ngựa đánh
giặc, tôi nghĩ tôi thật là một thằng
trai hèn quá.
Suy đi tính lại, không biết làm cách ǵ,
chỉ c̣n có cách kêu gào bọn đồng
học, tổ chức ra một đội quân
học tṛ giúp vua, gọi là "Sĩ tư
cần vương đội". Tôi với
bạn thiết Trần Văn Lương là người
phát khởi, cùng tôn ông cử nhân Đinh Xuân Sung lên
làm đội trưởng, tôi th́ làm đội
phó. Đội này chỉ có lối vài trăm người.
Công việc sắp đặt hơi yên, duy có
binh lương khí giới chưa có cách t́m đâu
cho rạ Vừa gặp lúc người Pháp đem
đại binh tới hạ thành Nghệ An,
rồi thừa thắng tiến binh đánh
giẹp các phủ huyện. Đội quân của chúng
tôi tổ chức, cả lương hướng
súng đạn đều không có, thành ra chỉ
trong giây lát, như bày muông chim vỡ lở
tứ tán. Tôi phải trà trộn trong đám
nạn dân mà chạy thoát thân. Tới nay nhớ
lại việc tôi đă làm đó, không khác ǵ
trẻ con làm nhà bằng giấy để chơi,
không bỏ cho bậc người kiến thức
chê cười. Tuy vậy, tôi cũng cứ chép
ngay ra đây, v́ tấm ḷng mưu toan cứu
quốc, thật là phôi thai từ việc ấy mà
ra. Nghĩ ḿnh bày tṛ tuy giả, nhưng mà ḷng
vốn thẳng ngay, cho nên tôi không dám dấu
diếm chỗ dở của tôi. Lúc bấy
giờ, cửa nhà tôi bị tiêu hủy v́
họa binh đao, thân phụ tôi giữa cơn
hoạn nạn, lại mang bịnh nặng. Tôi không
c̣n mẹ, cũng không có anh em nào, thành ra không dám
bỏ cha ḿnh mà ngó tới việc ǵ khác. Tôi
đành nương náu ở nhà dạy học tṛ,
để chuyên lo săn sóc bịnh cha, cả
thảy 9 năm.
4. Muốn hăm tỉnh thành
Nghệ An:
Những trong 9 năm ấy tôi vẫn lo nghĩ
trau dồi lông cánh để một mai bay
nhảy vẫy vùng, chứ không hề xao lăng. Tôi
thường cùng anh em đồng chí là bọn ông
Vương Thúc Quư (người cha khởi nghĩa,
đem hương binh chống với Bảo
Hộ, sau bị tử nạn) và Hà Văn Mỹ
(là một viên kiện tướng bộ hạ
của cụ Phan Đ́nh Phùng, sau bị quân Bảo
Hộ bắt được tự tử mà
chết), chúng tôi âm mưu vớ nhau, mỗi năm
tới ngày lễ kỷ niệm cộng ḥa (14/7),
anh em mật hội đồ đảng ở
tỉnh thành Nghệ An, toan bề hăm thành. Song quân
lính Bảo Hộ đông đảo, việc pḥng
bị kiên cố lắm, chúng tôi không thể thành
sự. Có điều là nhân mấy dịp đó
mà anh em giang hồ hiệp khách được làm
quen kết bạn với nhau, cũng tức là
đầu giây mối nhợ cho cuộc hoạt
động của tôi sau này vậy.
Đến năm tôi ngoài 30 tuổi, đảng
Cần Vương khắp trong nước nối
nhau vỡ lở tan tành, chỉ c̣n sót lại
một ḿnh cụ Phan Đ́nh Phùng ở La Sơn,
cố sức cầm cự được lâu. Nhưng
tới năm Giáp Ngọ, niên hiệu Thành Thái
thứ 6, cụ mất. Từ đó trở đi
non sông hiu quạnh, việc gánh vác không c̣n ai.
Trải 10 năm, tôi ôm ḷng phẫn, nuôi chí to,
vẫn rắp ranh ở giữa khoảng núi
Hồng sông Lam, dựng lên một cây cờ độc
lập. Tới đây tôi không thể nào nín mà
không làm được.
Tôi sinh trưởng trong làng xóm dă man, thuở
giờ chỉ quen lặn lội trong rừng
từ chương khoa cử, nói đến tài
học như người Âu châu, thật không có
mảy may nào. Song tôi có bẩm chất cang cường,
biết nghĩa liêm sỉ, không chịu theo đuôi
làm tớ người ta. Vừa gặp trong nước
hồi nay cựu đảng đă im hơi
bặt dấu, tân đảng th́ chưa nẩy
nhánh đâm chồi; tôi kết giao họp đảng
bao nhiêu lâu, thành ra ở trong xă hội hơi có
tiếng tăm hơn trước, thiết nghĩ
lúc này chính ḿnh không tự ra tay làm việc,
liệu c̣n chờ ai. Kết quả tôi được
như ngày nay, thiệt bởi môt tấc ḷng suy
nghĩ đó là nguyên nhân vậy.
Tuy thế, tôi dại dột th́ thôi. Nghĩ
xem thế lực người Pháp lớn lao
thế kia, tài sức tôi nhỏ nhoi thế này, tôi
ỷ vào quốc dân, mà quốc dân ở vào tŕnh
độ c̣n thấp thỏi ra sao, tôi dựa vào
thời thế nhằm lúc khó khăn ra sao, không nói
cũng rơ. Vậy mà tôi chẳng ḍm trước
ngó sau, chỉ cậy ḿnh có bầu máu nóng trơ
trơ, toan ra tay làm việc vá trời lấp
biển, chẳng phải là tôi điên khùng
lắm sao ? Dù sao mặc ḷng, tôi cứ việc hăng
hái đi tới, không ḍm ngó trước sau ǵ
hết. Trong trời đất có ai ngu dại hơn
tôi nữa không ?
5. Tôn ông Cường Để
làm minh chủ :
Số là ban đầu tôi định chiêu
nạp bọn anh hùng lục lâm và những người
trong đảng Cần Vương c̣n sót lại
để dựng cờ khởi nghĩa ở
khoảng Nghệ Tĩnh. Bởi vậy có một
lúc nhiều khách rượu làng chơi, cùng tôi
giao du lui tới thân mật lắm.
Bộ hạ cũ của Phan tướng công
(Phan Đ́nh Phùng) là Quỳnh Quảng và môn hạ
của Bạch Xỉ (một người đồng
thời với cụ Phan Đ́nh Phùng, lấy
hiệu Bạch Xỉ, tự xưng hoàng đế,
tụ tập ở trên núi Đại Hàm) là bọn
Kiễm và Cọng hay ra vào nhà tôi luôn.
Nhà tôi là nhà làm nghề dạy học, nhưng mà
học tṛ chỉ ở nhà ngoài, c̣n nhà trong th́
chứa đầy khách hào kiệt sơn lâm. Các
ông đồ nho trong xóm gặp lúc đi ngang
chợt ngó thấy t́nh trạng như thế,
đều lắc đầu lè lưỡi, đến
đỗi lần sau các ông không dám day mặt ngó
vào nhà tôi nữạa. Việc chúng tôi mưu tính
lần hồi chính chắn, gần tới ngày
hẹn nhau phải lên rồi.
Song ông bạn thân là Đặng Thái Thân nói
với tôi:
"Xem kỹ lại thời thế chưa có
chỗ nào ḿnh đáng thừa cơ làm việc
lớn. Bọn ta vội vă làm càn, chắc là không
xong việc ǵ được đâu Nhưng
ta cũng phải làm sao để chỉ tỏ
cho người Pháp biết rằng quốc dân ta
chẳng phải toàn là những hạng người
quá hèn, vậy th́ ta cứ mạo hiểm làm
một phen cũng được, có điều là
mong ước sao cho chúng ta cất tiếng lên trước
rồi phải có người nối lời sau
mới được.
"Nhưng nếu ta chỉ khởi sự trong
khoảng Nghệ Tĩnh mà thôi, tôi e như
chuyện cái thai đứa nhỏ khó đẻ,
ở trong bụng mẹ lọt ra chưa kịp
khóc oa oa mấy tiếng th́ đă chết non
mất rồi. Tôi trộm suy nghĩ mà lo
ngại dùm cho tiên sinh chỗ đó.
"Theo ư tôi, trước hết ta nên vô Nam ra
Bắc, cầu anh em hào kiệt ở hai nơi cùng
làm việc với tạ Đất Bắc Kỳ
vốn nhiều nghĩa sĩ, từ Quảng Nam
trở vô Nam Trung cũng không thiếu ǵ hạng
người khảng khái cả. Ta lấy nghĩa
đề huề (nâng đỡ) với họ
rồi tất cả anh em ba nơi đồng
thời khởi nghĩa, để chia bớt
sức mạnh của bên địch, mà vây cánh
đồ đảng chúng ta đông, như
vậy họa chăng mới làm nên công
việc".
Đặng quân vốn người hăng hái, gan
dạ, nhân phẩm lại cao, trải 10 năm
vừa là thầy vừa là bạn tôi. Ngay ra
lời ông ta nói rất nhằm, tôi mới
tỉnh ngộ, liền bàn định trước
hết hăy vô Nam Trung, rồi sau sẽ ra ngoài
Bắc, liên kết với các phe đảng anh em
toàn quốc, để sắp đặt khởi
nghĩa sau. Lúc bấy giờ bạn đồng
niên với tôi, ông Đặng văn Bá cũng tán
thành chí tôi đă định, bèn cùng tôi đi vô
trong Nam.
Tôi vô Nam chuyến này, nghe nói trong đảng
cần vương 2 tỉnh Quảng Nam, Quảng
Ngăi, có viên kiện tướng là Nguyễn Thành,
sau khi bị bắt nhờ có Nguyễn Thân
cứu dùm, may mà được tha, giờ ông
đang ở trong núi làm ăn. Song chí khí hồi
xưa vẫn c̣n nồng nàn, chưa phải là
tro tàn lửa nguội, chẳng qua như chim
cắt đang đợi có gió thu đó thôi. Mùa
xuân, tháng Hai năm Quư Măo, tôi với hai họ Đặng
cùng vô Quảng Nam. Lúc đi ngang Huế, gặp
ông Lê Vơ từ B́nh Định trở về tới
đó.
Lê quân vốn con nhà làm tướng. Bốn
người anh đều chết v́ nạn nước.
Ông nhỏ tuổi nhất trong nhà, thành ra may
mắn chưa chết. Khi gặp tôi ở kinh thành,
Lê quân tỏ bày chí khí như phơi gan trải
mật. Chúng tôi hôm sớm quấn quưt với
nhau, trở nên thân thiết. Rồi cùng chúng tôi
đi vô Quảng Nam, t́m đến ra mắt
cụ Nguyễn Thành. Ông cụ này, hồi
khởi nghĩa binh mới có 18 tuổi, đă xông
pha hùng hổ, nhiều lần đánh bên địch
phải thua; họ khen cụ biết cách cầm
quân. Cụ chính là người trội nhất
của nghĩa đảng vậỵ.
Chúng tôi đến, cụ mới làm quen mà đă
coi như bạn thân lâu ngày. Anh em cùng
ngồi quây quần uống rượu nói
chuyện. Cụ Nguyễn Thành bàn bạc công
việc thiên hạ một cách hùng hồn và
rất rành mạch đúng lẽ.
Tôi đem chí muốn ra phân trần. Cụ
vỗ tay, nói:
"Hay dữ ! Thuở nay, ai muốn mưu toan
đại sự, trước hết phải
cần ba điều này : một là thu phục ḷng
người, hai là góp số tiền lớn, ba là
sắp đặt mua sắm quân khí cho đủ.
Hễ ḷng người đă chịu tin phục
th́ số tiền lớn có thể góp được.
Có tiền th́ vấn đề quân giới, không
khó giải quyết đâu.
"Nhưng phải hiểu dân trí và tập quán
của dân nước nhà, không thể nào bắt
chước làm theo châu Âu đươc. Bọn
ta muốn có cách kêu gọi nhân tâm cho dễ,
nếu muốn mượn tiếng pḥ vua giúp chúa
th́ những nhà sang họ lớn kia, ai chịu
phụ họa theo ḿnh. Vậy th́ ta dầu có
bụng cứu nước mặc ḷng, chẳng
qua chỉ chết thân ḿnh cho tṛn được
một tiếng vậy thôi, ngoài ra không ăn thua
lợi ích ǵ cho việc lớn.
"Vua Hàm Nghi trốn tránh ở chốn nào,
đă lâu không nghe tin tức ra sao. C̣n vua Thành
Thái hiện tại th́ ở trong tay người
Pháp kiềm chế, anh em ta không làm cách ǵ ra vào
thân cận bên ḿnh ngài đặng. Sẵn có ḍng
dơi của đức Đông cung Cảnh là đích
tự Cao hoàng, hiện nay đang c̣n. Chúng ta
khởi nghĩa, nên trước hết tôn ngài lên
làm cung chủ; có thế th́ danh nghĩa mới
thuận, hiệu lệnh được nguyên,
mỗi khi ta cất tiếng kêu gào, thuận theo
chiều gió, tất nhiên có tiếng vang bóng sâu
xa lắm vậy. Các ông tính sao?".
Tôi và hai ông Đặng, Lê, ban đầu
thật chúng tôi chưa hề suy tính tới
việc tôn người ḍng dơi nhà vua. Tới
đây nghe Nguyễn quân, chúng tôi cho là phải
lẽ lắm.
Than ôi ! Trí dân chưa mở, thói cũ chưa
chừa, chủ nghĩa gia tộc và chủ nghĩa
quốc gia, ở giữa mới bắt đầu
tiếp xúc như vậy, ḿnh muốn nó đánh
đổ bao nhiêu thói quen cổ thời mà quét
đi cho sạch, nào có phải là chuyện dễ
dàng. Tuy vậy, nghe mấy lời Nguyễn quân
vừa mới bày tỏ, tôi không chịu
khuất phục cũng chẳng được nào
!
6. Ra thăm Hoàng Hoa Thám
rồi vô Nam Kỳ :
Tháng 3 năm Quư Măo (1903), tôi t́m tới yết
kiến Kỳ ngoại hầu Cường Để
ở Huế, tỏ bày việc lớn.
Kỳ ngoại hầu hớn hở nói: Lâu
nay tôi vẫn nuôi cái chí lớn đó. Ngặt v́
từ lúc Hồ Quư Châu và Nguyễn Thu Nam là 2
bạn đồng chí của tôi qua đời
đi rồi, tôi để ư t́m kiếm măi nhưng
chưa gặp được ai có thể nói câu
chuyện ấy với ḿnh. Nay các ông không từ
xông pha muôn dặm, v́ chỗ tinh khí với nhau mà
t́m đến tôi, tôi xin vui ḷng hy sinh tất
cả mọi sự, để cùng các ông nằm
gai nếm mật, nếu có thể báo đáp
quốc ân trong muôn một, dầu tôi có thể
tan thây mất xác cũng vui.
Rồi Kỳ ngoại hầu cùng tôi và hai ông
Lê, Đặng đi vô Quảng Nam hội họp
các đồng chí ở nhà ông Nguyễn Thành trên
núi. Chúng tôi bí mật bàn tính các việc, cùng tôn
Kỳ ngoại hầu lên là hội chủ, và
giao công việc của đảng từ 2
tỉnh Nam Nghĩa trơ về Nam cho Nguyễn Thành
gánh vác, c̣n hai tỉnh B́nh Trị trở ra
Bắc th́ tôi đảm nhiệm.
Liền tháng Sáu năm đó, tôi trở về
Nghệ, rồi thẳng đường ra Bắc
Kỳ dạo chơi hơn 10 tỉnh, lên sắp
đặt việc đảng và t́m bạn đồng
chí.
Rồi tôi lặn lội lên miệt Yên Thế,
tới đồn Phồn Xương để
yết kiến Hoàng tướng quân Hoa Thám.
Hoàng tướng quân vốn là tay cứng trong
đảng cần vương Bắc Kỳ.
Từ lúc ông Nguyễn Bích tử trận, ông
Nguyễn Thiện Thuật chạy sang Tàu th́
đảng cần vương Bắc Kỳ tan ră.
Duy có Hoàng tướng quân 1 ḿnh chiếm giữ
miền núi tỉnh Bắc Giang, chống cự
với Bảo Hộ đă ngoài 10 năm.
Người Pháp chia cắt miệt rừng cho tướng
quân cai quản để cùng tướng quân
giảng ḥa. Người trong nước ta từ
đàn bà con trẻ, chẳng ai mà không nghe
tiếng tăm Hoàng Hoa Thám lừng lẫy.
Từ hồi nào đến giờ, tôi mới
được bước chân vô trong đồn
trại này là lần thứ nhất.
Tôi nhớ hôm đó là mùng 8 tháng 8 năm Quư Măo.
Cùng đi với tôi 1 chuyến là 2 ông Nguyễn
Cừ và Cao điền Nguyễn Điển. Hai ông
này ở chờ ngoài đồn, chỉ có ḿnh tôi
vô trong.
Rủi nhằm lúc Hoàng tướng quân đang
mắc bịnh nặng, không thể cùng tôi
hội đàm được. Nhưng tướng
quân sai người con trưởng là Cả
Trọng và 2 viên ái tướng là Cả Dinh và
Cả Huỳnh tiếp đăi tôi vui vẻ
tử tế.
Tôi ăn ở trong đồn 11 ngày, rồi
thổ lộ hết tâm sự ḿnh rồi mới
ra đi.
Đảng (Duy Tân Hội hay Duy Tân Cách Mạng Đảng)
ở Bắc Kỳ từ đó mới tổ
chức lại.
Tháng 10, tôi trở vô Kinh, báo cáo việc đảng
cho hội chủ hay. Hội chủ nói với
tôi :
Nam trung vốn là khu đất của tiên
triều gây dựng mở mang, xưa đức
Cao hoàng nhờ đó mà khôi phục rỡ ràng
nghiệp cũ. Ḷng người nhớ cũ
rất nhiều. Tiên sinh nên vào 1 chuyến,
chắc có ảnh hưởng không phải
nhỏ đâu.
Thế rồi trung tuần tháng 12 năm Quư Măo, tôi
lên đường vô Nam.
Cuối tháng chạp, tàu đến Saigon.
Qua tháng giêng năm Giáp Th́n, tôi đi Châu Đốc,
Hà Tiên, t́m thăm các hào kiệt ở Thất Sơn.
Lại đi dạo khắp các tỉnh Cần Thơ,
Vĩnh Long, Sa Đéc. Nhân dịp thăm viếng
cả những chỗ dấu xưa vết cũ
của 2 cụ Nguyễn Huân, Trương Công Định,
trong ư mong mỏi may ra ḿnh có gặp gỡ
được sự ǵ hay chăng ?
Nhưng tôi đi chuyến này, gặp được
sự hay rất ít. Thật tôi không ngờ...
7. Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư :
Tháng Ba năm Giáp Th́n (1904), ở Nam Kỳ
trở về, tôi lại ngụ ở Huế.
Thỉnh thoảng lo tính một chuyện như cách
vẽ rắn thêm chân. Đó cũng là 1 việc quan
hệ về lịch sử tôi nên nói. Nguyên
lúc vua Đồng Khánh được lên ngôi
rồi, hai nước Pháp, Việt sửa thêm vào
tờ điều ước cũ. Bây giờ
cắt đất từ Thanh Hóa trở vào, B́nh
Thuận trở ra gọi là Annam, thuộc về
Pháp quốc bảo hộ. Then chốt của chính
phủ Bảo Hộ ở trong tay ông Trú Kinh Khâm
sứ nắm giữ. Những thực quyền
về việc binh việc tài, đều về
tay người Pháp chủ tŕ, c̣n quan lại th́
người nước ḿnh.
Người Pháp chỉ xem xét sai khiến mà thôi.
Tôi suy nghĩ nếu như công việc ḿnh tính làm
đây mà được bọn người trong
quan trường giúp ngầm, tất là dễ dàng
nên việc. Song tôi suy đi tính lại bọn làm
quan là hạng trí năo tầm thường, e ḿnh
khó ḷng mưu toan với họ, mà rủi mưu
toan với họ không xong, th́ có tai họa
xảy đến cho ḿnh ngay. Tuy vậy
mặc ḷng, chúng ta là người đă quyết
hiến thân cứu quốc th́ đầu cổ ḿnh,
tính mạng ḿnh, đều có thể hy sinh không
sá kể ǵ, vậy th́ con đường họa
phước lợi hại, ta cứ dấn ḿnh vào
mà di, há nên chần chờ trốn tránh nữa
sao?
Tôi bèn quyết kế t́m cách vận động
các quan. Lúc ấy, tôi có tiếng hay chữ
vang dậy chốn kinh đô, phần nhiêu cụ
lớn trong triều muốn được tôi ra
vào làm môn hạ các cụ.
Tôi liền viết ra 1 cuốn sách, nhan đề
là "Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư"
( "Ryukyús Bitter Tears "; "Letters Written in Tears
and Bloods"). Trong đó tôi tả rơ những cái
thảm trạng thành tan nước mất,
những nỗi nhơ nhuốc đổi chúa làm
tôi.
Lại nói đến dân trí phải gấp
mở mang, dân khí (sức mạnh của nhân dân)
nên gấp bồi dưỡng để làm
nền tảng cho việc cứu quốc, v.v...
Cuốn sách này gồm có mấy muôn lời nói.
Tôi ôm sách tới ra mắt các cụ lớn, như
cụ Đông các Nguyễn Thảng, Công bộ Đào
Tiến, Lễ bộ Hồ Lễ, Lại bộ
Nguyễn Thuật, v.v...Các cụ đều khen
lời nói cứng, văn tiết hay, và ngầm
cho ư kiến tôi bày tỏ là đúng, nhưng
thủy chung các cụ chẳng dám nói rơ ư ḿnh ra
sao.
Lanh quanh hết mấy tháng trường như
thế, rồi sau tôi biết rơ bọn cụ
lớn kia không cậy nhờ ǵ được mà
trông. Ruột gan của họ, chỉ biết có
sự phú quư của thân họ, nhà họ.
Trước việc th́ họ chỉ ngồi ngó
thành bại, sau việc th́ họ lựa sóng theo
chiều. Nay ta mạo hiểm giải bày tâm
sự với họ nhưng thật không chỗ nào
trông cậy họ được. Tôi luống
thẹn ḿnh kém phần trí sáng, chẳng có tài làm
cho tượng đá biết gật đầu,
rồi càng nghĩ càng ăn năn trước
kia ḿnh tơ tưởng lợi dụng quan trường
thật là bá láp. Nhưng việc này không
phải là không có kết quả.
Sau khi "Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư"
ra đời rồi, các chí sĩ lẩn
quất trong kinh đô, đều rơ biết
ruột gan tôi ra thế nào. Ví dụ như
ông Phan Châu Trinh và ông Trần Quư Cáp- về sau
bị tù, chết chém-lúc này làm quen thân mật
với tôi, ấy chính là nhờ cuốn "Lưu
Cầu Huyết Lệ Tân Thư" giới
thiệu vậy.
8. Làm sao mua được
khí giới?
Lúc bấy giờ, những nghĩa dân
hiệp sĩ khắp trong nước đă liên
lạc nhất khí với nhau rồi. Từ
Bắc vô Huế, khắp các tỉnh thành châu
quận trọng yếu, chúng tôi đều
ngấm ngầm sắp đặt vây cánh phe đảng
đâu đó hẳn hoi, chỉ c̣n chờ đợi
thời cơ là khởi sự.
Vấn đề kiếm t́m những khoảng
tiền lớn để làm việc, cũng có
anh em gánh vác trách nhiệm quyên góp.
Phải chi ḿnh ở vào những đời Đinh Lư
Lê Trịnh thuở xưa, th́ chỉ vung cánh tay mà
kêu lên một tiếng, tức thời sóng
dậy sấm vang chỉ là việc thành trong
khoảng giây lát mà thôi.
Nhưng đời nay th́ khác hẳn. Từ lúc
đời có súng đạn phát minh ra, bao nhiêu khí
giới gọi là gươm giáo đao thương
đă hóa ra đồ bỏ. Cái thứ để
chặt cây làm mác kia, đời xưa người
ta vác đi đánh Tần đuổi Sở
được, chứ đời nay có dùng nó làm
nên tṛ vè ǵ!
Phải biết vơ khí của người Pháp
tinh nhuệ hơn của người ḿnh muôn ngàn
lần. C̣n khẩu súng nào ở trong tay người
ḿnh, th́ ngày đêm có tướng tá Pháp ǵn
giữ coi chừng hoài. Trong hàng quân ngũ,
từ chức cai đội trở lên cũng không
có người ḿnh được làm. Nếu
muốn dỗ họ trở súng cộng sự
với ḿnh, lúc b́nh thường không phải là
chuyện dễ; trừ khi nào có phát sinh đại
chiến, họa chăng sự mưu tính mới
được thực hiện.
Các ông sách sĩ (người chuyên nghĩ mưu
tính kế) trong đảng chúng tôi lúc ấy,
gặp phải một vấn đề to lớn
khó khăn mà không sao giải quyết được,
ấy chính là quân giới.
Trong nước ta có sở chế tạo quân
giới nào, đều có binh lính Pháp chiếm
giữ, canh gác cẩn mật, nếu bà con ḿnh
đi qua hơi liếc mắt nh́n mấy nơi
đó cũng bị tội nặng lập
tức. Như vậy th́ chúng tôi có nhúng tay vô
chỗ nào mà lấy khí giới được
đâu!
Muốn mua khí giới ở ngoại quốc chở
vào cho ḿnh lại cũng không được. Là
v́ bao nhiêu cửa biển trong nước, cửa
nào cũng có nhà chuyên trách của Bảo Hộ
cắt đặt, khám xét ḍ la hết sức nghiêm
ngặt. Dầu cho ḿnh mua ở ngoài được,
nhưng với một số quân giới rất
nhiều, ḿnh có phép tiên, chước quỷ ǵ mà
vận tải nó lọt vô xứ này cho nổi ?
Anh em chúng tôi lo quanh tính quẩn, mất nhiều
ngày giờ mà chỉ có vấn đề quân
giới, mỗi khi nghĩ đến, ai nấy
bức rức lo âu, cám cảnh ḿnh thiếu
mất 1 món thứ nhất cần dùng, rồi
nhớ lại chuyện Châu lang đời xưa
nếu không có ngọn gió đông th́ lấy ǵ mà
đánh trận Xích Bích.
*
Cách không bao lâu, bỗng dưng có những
tiếng súng nổ ở Lữ Thuận, Liêu Đông,
lướt theo sóng gió vang dội tới đây làm
rung động chói chát lỗ tai anh em chúng tôi.
Trận Nga - Nhật chiến tranh (1904) mà Nhật
đại thắng thật có chỗ hay cho chúng tôi
rất lớn. Trong óc chúng tôi đến đây
có một thế giới mới lạ mở
rạ Nước Nam ta trước khi chưa có
Pháp quốc bảo hộ, chỉ biết thế
gian này có nước Tàu mà thôi. Tới lúc có
Pháp quốc bảo hộ ta rồi th́ ta lại
chỉ biết có Pháp quốc. Thế giới
đổi dời, phong trào mới lạ, thật
bà con ta chưa hề mộng tưởng tới
đó. Chúng tôi bôn tẩu quốc sự bao lâu,
nghĩ có mất xác rụng đầu cũng
chẳng sợ, nhưng bất quá là bị cái
thiên lương v́ nước lo toan nó bắt
buộc ḿnh phải vậy đó thôi, chứ
đến quy mô xây dựng độc lập ra
sao, th́ lúc ấy chúng tôi vẫn c̣n mơ màng như
người đi giữa đám sương sa
mịt mù vậy.
Từ hồi bỏ nước đi ra ngoài,
đầu óc mắt tai ḿnh mới là bắt
đầu biến đổi. Nhưng không
thể nào không bảo được rằng
đó là nhờ trận Nhật - Nga đánh nhau
đă làm vang bóng cho tâm năo chúng tôi. Than ôi !
Đến giữa thế kỷ 19, gió Mỹ mưa
Âu đă làm ồn ào vũ trụ, vậy mà ngó
lại nước ḿnh vẫn c̣n đang ở
trong cơn mơ mộng ngủ say. Lúc bấy
giờ dân ta c̣n mù mịt chuyện đời đă
đành, không trách ǵ được. Nhưng ngay
đến hạng người trồi đầu
khét tiếng như tôi mà cũng như ếch
nằm đáy giếng, khiến ở trong hang, có
hiểu biết chuyện đời là ǵ đâu
Nghĩ trong thế giới có thứ người
đáng buồn cười mà cũng đáng thương
xót, không c̣n ai hơn bà con nước ḿnh.
Là bởi nước ḿnh thuở trước
chỉ đóng cửa ngồi nhà, trăm điều
kiến văn ǵ, quanh quẩn trong ṿng chữ nghĩa
thi cử Hán học mà thôi; vậy cứ bảo
ngay quốc dân ḿnh là bọn tai điếc
mắt đui, cũng không phải là nói quá đáng
chút nào. Kịp đến khi có người
Pháp sang xâm lược, dân ta cũng vẫn c̣n
mắt đui tai điếc. Nếu không có
tiếng súng nổ đùng đùng ở Lữ
Thuận (Liêu Đông) đánh thức, th́ có lẽ
ta cũng chưa biết ngoài nước Pháp ra c̣n
thế giới nào khác nữa.
Sau lúc Nhật - Nga khai chiến, khoảng
giữa hai năm Giáp Th́n (1904) Ất Tỵ (1905),
cuộc cạnh tranh phấn đấu giữa người
Âu người Á, da trắng da vàng, làm cho chúng tôi
phải giật ḿnh tỉnh ngủ. Chí hướng
chúng tôi càng thêm nồng nàn hăng hái. Song
chỉ khổ một nỗi là bị vấn
đề quân giới ngăn trở khó khăn,
cho nên tới đây chúng tôi phải gắp t́m cách
nào giải quyết cho xong.
*
Hạ tuần tháng 10 năm Giáp Th́n (1904), các tay
lănh tụ trong đảng mở cuộc đại
hội ở tỉnh Quảng Nam, lấy sơn
trang Nam Thạnh làm nơi khai hội. Nhận
thấy chỗ này gần kinh đô Huế,
tất ông Hội chủ chúng tôi có thể lén
tới nhóm hội được.
Lúc đó ông Tăng Bạt Hổ mới ở
Hải Pḥng vô, trong đảng thêm ra một tay
kiện tướng, ai nấy vui vẻ hăng hái
lạ thường.
Các lănh tụ đều nói vấn đề quân
giới nếu không có nước ngoài giúp ḿnh
th́ không xong. Lấy chỗ quan hệ về
lịch sử, địa dư, ṇi giống mà nói,
có thể giúp ta được không ai khác hơn
là Trung Quốc. Nhưng từ trận thua ở
Lạng Sơn hồi năm Giáp Thân trở đi,
Trung Quốc kư điều ước Bắc Kinh,
đă phải đem cái chủ quyền phiên
thuộc nước Nam mà nhường đứt
cho Pháp rồi. Đến việc Hàm Nghi xuất
bôn, trong khoảng mấy năm Dậu, Tuất,
thiếu ǵ các cụ nhà ta chạy sang Trung
Quốc cầu viện, nhưng đều bặt
mất tin tức. Gương trước mới
đó không xa, nước Tàu chẳng giúp ǵ cho
ta được đâu mà mong, vô ích.
Chúng tôi bàn định với nhau, chỉ có
cầu viện Nhật Bản. Lúc ấy Nhật
Bản mới phát lên hùng cường mà họ cũng
là một dân tộc da vàng ở châu Á như ta,
lại vừa mới đánh thắng Nga xong, không
chừng họ có ư muốn làm bá chủ cả
châu Á, vậy th́ họ giúp ta để tước
bớt khí lực của châu Âu đi, cũng có
điều lợi cho họ vậy. Nếu ta
sang kêu ca thống thiết với họ, tưởng
ǵ chớ món quân giới, hoặc cho ta mượn,
hoặc giúp ta mua, không khó khiết chi!
Ai nấy bàn bạc nhất định như
vậy rồi, bèn tính cử một người
làm toàn quyền đại biểu đem bức
thư của ông Hội chủ qua Nhật lo
việc khí giới.
Hồi đó, công việc trong đảng đang
cần người có tài làm sứ, nên chi toàn
hội cùng cử tôi làm chức đại
biểu đi Nhật. 9. Tôi trốn sang Tàu,
gặp cụ Nguyễn Thiên Thuật và Lưu Vĩnh
Phúc ở Quảng Châu:
Nay tôi vâng mạng của đảng sai
khiến, xuất dương là lần đầu
tiên. Tôi đi đây, vốn lấy tư cách
là đại biểu của đảng cách
mạng một nước mà đi, cũng
tức là đại biểu cho toàn quốc dân
một nước mà đi. Nếu như tôi
là một người tài cao trí giỏi, học
rộng biết nhiều về mặt ngôn
ngữ, văn tự, chính trị, học
thuật ngoại quốc cũng thông thuộc
nằm ḷng, như kẻ nhớ biết mỗi món
đồ quư trong nhà họ kia, thế th́ ḿnh có
mang cái hổ vong quốc mặc dầu, nhưng
được điều không thẹn ḿnh là
giống người giỏi dang trên đời.
Được vậy, chẳng phải đủ làm
vẻ vang cho dân nước ta ở xứ người
sao!
Tiếc thay ! Người thứ nhất được
đi ra ngoài cùng thế giới hội diện,
lại là người ngu dốt quê mùa như tôi:
Tài đă không có tài, học cũng không nhằm
học. Trừ ra 3 câu chữ Hán, chứa đầy
bụng cũng như là không. Tấm thân đă là
con người mất nước tính mạng
vốn không đủ ǵ trọng khinh, nhưng tài
học cũng không đủ ǵ phẩm lượng,
thật ḿnh làm trụy lạc mất cả giá
trị quốc dân ḿnh tới đâu mà nói cho
xiết. Như vậy th́ trời đất mênh
mông có chỗ nào dung được ḿnh ? Đêm
khuya nh́n bóng hổ (thẹn) thầm, đến
đổi lệ tuôn như máu. Tới nay tôi
nhớ lại việc cũ, chỉ xin quốc dân
ta lượng xét cho tôi là may!
Nghĩ xem ḿnh đă sinh nhằm non sông c̣n
ấu trĩ, ṇi giống c̣n u mê, chưa
được mở mang, cho nên vừa ở trong
bọc mẹ lọt ra, không ai chỉ vẽ d́u
dắt để mở trí cho ḿnh, lại gặp
phải cái cảnh giam hăm xiềng khóa đêm ngày,
người ta chỉ sợ mắt ḿnh được
thấy, tai ḿnh được nghe, như thế
bảo sao ḿnh không ngu muội cho được!
Dầu vậy mặc ḷng, ban đầu tôi
mới phụng mạng của đảng cử
đi ra ngoài, thật tôi chưa biết có nông
nổi khổ nhục thế này đâu. Con
chim bị nhốt trong lồng lâu ngày, ngó
thấy trời rộng mây xanh, thèm thuồng
hết sức. Th́nh ĺnh bây giờ có dịp thoát
ḿnh ra khỏi lồng được, th́ trong óc
hớn hở, chỉ biết cái vui được
cỡi mây lướt gió, phóng khoáng tự do,
chứ đâu có vội nghĩ tới sau khi ra
khỏi lồng rồi th́ gặp phải t́nh
trạng ra làm sao. V́ đó mà tôi mạnh
bạo vâng mạng của đảng ra đi.
Hạ tuần tháng chạp năm Giáp Th́n (1904), tôi
tới Kinh (Huế) yết kiến Hội chủ
(Kỳ ngoại hầu Cường Để),
dặn ḍ công việc sau khi tôi đi rồi.
Lại đi thăm viếng hết thảy
những người trọng yếu trong đảng,
bàn bạc mọi việc quan hệ. Sắp đặt
đâu đó xong cả rồi, liền từ
Quảng Nam lên đường khởi hành. Cùng
đi với tôi có hai người, là ông Tăng
Bạt Hổ và ông Đặng Tử Kính. Tăng quân
lúc trước từng làm mặc khách (văn nhân),
giúp bàn việc quân cho Lưu Vĩnh Phúc, có
dịp đi du lịch khắp hai tỉnh
Quảng và Đài Loan hơi thông tiếng nói
Quảng Đông. Tháng 4 năm đó (4/1904), Tăng
quân mới ở hải ngoại về, nay
lại cùng tôi lo lắng việc đảng, và
đảng lựa chọn cùng xuất dương
với tôi, thật là xứng đáng.
Mồng 2 tháng giêng năm Ất Tỵ (1905) chúng tôi
ra Hải Pḥng để xuất dương.
Lúc xuống tàu, tôi khẩu chiếm (ứng
khẩu) bài thơ từ giả anh em :
Sinh vi nam tử yếu hy kỳ
Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di
Ư bách niên trung tu hữu ngă
Khởi thiên tải hạ cảnh vô thùy
Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế
Hiền thánh liêu nhiên tụng việc si
Nguyện trục trường phong Đông hải
khư
Thiên trùng bạch lăng nhất tề phị
Bài dịch :
Khác thường bay nhảy mới là trai,
Chẳng chịu vần xoay mặc ư trời !
Trong cuộc trăm năm đành có tớ,
Rồi sau muôn thuở há không ai ?
Non sông đă mất, ḿnh khôn sống,
Hiền thánh đâu c̣n, học cũng hoài.
Đông hải xông pha nương cánh gió.
Ngh́n làn sóng bạc múa ngoài khơi.
Từ đây trở đi, chúng tôi để
chân vào con đường nguy hiểm rồi.
Chính phủ Pháp không cho người VN ḿnh có
quyền tự do lai văng (qua lại). Phàm ai
muốn ra xứ ngoài du lịch hay là buôn bán,
nếu không được Bảo Hộ cho phép
đi, th́ tất bị buộc tội ngầm thông
với nước ngoài, mưu chuyện làm
loạn. Có điều là ai được
Bảo Hộ cho phép đi, tức phải là người
có tư cách đủ tin cậy hay là khéo
chiều ḷng mới được; tôi vốn không
có đủ những tư cách ấy, thành ra tôi
phải đi trốn. Tăng quân đi trốn
nhiều lần rồi, đường sá rất
quen thuộc thông thạo; ông chỉ vẽ cho tôi
cái kế thay h́nh đổi dạng để qua
cửa quan ải cho lọt. Từ Hải Pḥng ra
Móng Cáy, tôi giả làm chú khách đi buôn, cạo
đầu kết bím, đáp một chiếc tàu
buôn mà đi.
Lúc tàu đến bến, chúng tôi đợi
đêm khuya mới dám mướn một chiếc
thuyền đánh cá nho nhỏ, lén qua Trúc Sơn,
Trường Sơn là bờ cơi huyện Phong Thành
nước Tàu. Chuyến đi này tuy là nguy
hiểm, nhưng mà vui thú lạ thường. Ra
khỏi bờ cơi rồi, các món giấy tờ
quan hệ và tiền bạc của chúng tôi đều
c̣n nguyên lành. Ôi người ta nghiêm cấm ḿnh
chừng nào, kết quả bà con ḿnh càng thêm
giỏi cái ngón phá cũi xổ lồng chừng
nấy, không riêng ǵ một ḿnh tôi, theo chân
nối gót chúng tôi ra hải ngoại, c̣n
thiếu chi người!
Ở lại Trúc Sơn một tuần lễ
mới đáp ghe buồm Khâm Châu mà đi Bắc
Hải.
Lúc bấy giờ đă bước qua sơ
tuần (thời gian từ mùng 1 đến mùng
10) tháng 2, c̣n có ngọn gió đông bắc
thổi khá, thành ra ghe đi chỉ có bảy ngày
tới Hiệp Phố. Chúng tôi đổi sang tàu
buôn Hồng mao mà đến Hương Cảng.
Tàu đến bến, chúng tôi lên bờ, ở
loanh quanh hết hơn một tuần lễ. Trong
óc tôi lúc này thấy sự vui sướng không
biết sao mà nói.
10. Chúng tôi đổi
sang tàu buôn Hồng mao mà đến Hương
Cảng.
Tàu đến bến, chúng tôi lên bờ, ở
loanh quanh hết hơn 1 tuần lễ. Trong óc tôi
lúc này thấy sự vui sướng không biết
sao mà nói.
V́ tôi mới bỏ nước trốn đi,
người Pháp chưa hề nghe biết. Lúc ra
khỏi bờ cơi áp chế (dùng sức mạnh
để khuất phục), ḿnh thấy hoàn
cảnh ḿnh đều là không khí tự do,
mặc ư ḿnh đi lại thông thả, trái
lại, thân ḿnh về trước không khác ǵ
một con ngựa hay, bị nhốt trong
chuồng, lại bị người ta may kín
cả mắt lại tối đen, nay bỗng
chốc được cắt chỉ mở
mắt ra mà chạy nhởn nhơ dong ruổi
ở giữa khoảng đồng rộng mênh mông,
sung sướng thảnh thơi biết
mấy. Nhưng nghĩ ḿnh th́ vậy, nhớ
tới cái cảnh đồng bào đang bị bó
buộc, th́ ruột ḿnh muốn đứt ra
từng khúc.
Tại Hương Cảng thấy học tṛ
đi học vui vẻ đông đảo,
cảnh buôn bán tấp nập đêm ngày; dọc
đường không hề thấy ai bị lính
bắt đứng lại xét hỏi giấy thân;
không có ai đi đêm không đèn mà bị bính
thộp ngực dẫn về bót; không có thứ
lính tuần hung bạo ngang tàng, bắt bớ người
vô tội ở giữa đường, không có
cảnh tượng người bản xứ
bị người Âu Tây bắt nạt mà
phải nép ḿnh 1 bên đường. Ôi ! Hương
Cảng cũng là đất dưới quyền
ngoại nhân cai trị, nhưng Hương
Cảng có vẻ mùa xuân tười cười,
không phải như ở xứ ḿnh.
Lúc này tôi nghe nói quan Hiệp đốc Đại
thần Nguyễn Thiên Thuật trước kia
v́ quốc nạn mà chạy sang Quảng Đông,
giờ đang ngụ trong nhà thờ họ Lưu
ở Sa Hà. Nguyễn công là người ngang hàng
với bậc thân phụ tôi, lại là 1 tay
cần vương ngày trước, nay tôi sang
tới đây, chẳng lẽ không nói cho cụ
biết. Tôi bèn đi Quảng Đông, t́m tới
viếng cụ. Thấy tôi, cụ hết sức
vi mừng, rồi dắt tôi đến yết
kiến Uyên Đ́nh Lưu Vĩnh Phúc.
Lưu bây giờ đă già, nhưng cùng tôi nói
lại chuyện cũ ở Bắc Kỳ,
thỉnh thoảng Lưu c̣n vỗ bàn hét lớn,
khiến cho tôi tưởng thấy cái hùng phong như
hồi đánh nhau với quân Tây ở Cầu
Giấy gần Hà Nội vậy. Lúc tôi đến
tỉnh thành Quảng Đông, chính là lúc Sầm
Xuân Huyên đang làm Tổng đốc Lưỡng
Quảng.
Tôi gởi cho Sầm một bức thư, nói
rơ t́nh h́nh tỉnh Quảng và nước Nam
ở giáp ranh nhau như thể là môi với răng;
hễ môi hở th́ răng lạnh. Lại
nhắc đến t́nh nghĩa 2 nước lâu
đời kẻ chúa người phiên thân
thiết với nhau; nay tôi cầu xin họ
Sầm giúp cho nước Nam bất cứ về
mặt nào cũng được. Nhưng tôi
gởi thư mấy ngày, chẳng thấy họ
Sầm trả lời ǵ hết. Chắc lăo
sợ người Âu Tây như cọp, ấy là
thói quen của đám quan lại nhà Thanh, ḿnh không
lạ ǵ.
Trở về Hương Cảng, đợi
kỳ tàu qua Nhật. Song v́ hồi này cuộc ḥa
giữa Nga với Nhật bàn định chưa
xong, thành ra ở Hương Cảng không có tàu
Nhật, tôi phải đáp tàu Chiêu Thương
đi lên Thượng Hải. Lúc đó đă
sau ngày rằm tháng 3.
Tới Thượng Hải, mới thấy
cuộc lữ hành có lắm nông nổi khó khăn
đẻ ra lần hồi. Việc khó khăn
thứ nhất là ngôn ngữ. Cả tiếng Anh
lẫn tiếng Tàu, tôi chưa từng học
tập bao giờ.
Cũng may cho ḿnh giao tiếp đều là người
Tàu. Nếu biết chữ Tàu th́ có thể dùng
ngọn bút thay thế cho tấc lưỡi. Nhưng
cũng bất tiện đáo để.
Than ôi! Sinh ra giữa thời đại là thế
kỷ XIX, XX này, ai không có học thuật
giỏi dang th́ không thể nào cùng thế giới
cạnh tranh sống c̣n cho được. Ngôn
ngữ văn tự chính là kẻ dẫn
đường đi tới học thuật. Người
ngu dốt quê mùa như tôi, mà khỏi bị
đào thải, là may mắn biết bao. Tuy
vậy, lúc đó tôi đă 40 tuổi, bị công
việc của đảng ràng buộc nơi ḿnh,
ḿnh phải v́ đảng mà ra sức lo
chạy, đến đỗi cơm không biết
ngon, chiếu không biết ấm, bây giờ
dầu cho ḿnh có muốn ôm sách đi học như
hồi thi cử trước kia, cũng không có ngày
giờ nào mà đi học được
nữạa. Than ôi ! Sa đà ngày tháng, chớp
mắt ra không, mài miệt công danh, hối ḿnh
đă lỡ, tôi khuyên tất cả thanh niên nước
nhà, muôn vàn xin chớ bước lầm vào con
đường của tôi.
Thượng tuần tháng 4, tôi đáp tàu
Nhật ở bến Thượng Hải, trung
tuần th́ đến Hoành Tân (Yokohama), tôi
tạm ở lại đó hơn một tuần
lễ.
Lúc đầu tôi
xuất dương không biết một tiếng
Nhật nào, lại cũng không ai giới
thiệu, thành ra lúc đi đường cần
dùng chuyện chi, đều cậy chú lính gác
đường; chú chỉ vẽ cho ḿnh một cách
rất tử tế.
Thật vậy, ḷng tôi rất cảm phục
chính sách cảnh sát của Nhật Bản
sắp đặt hẳn hoi, trọn vẹn; ngó
lại chế độ cảnh sát ở xứ ḿnh
mà buồn. Lúc đó nhà văn học Trung Hoa
là Lương nhiệm công Khải Siêu (Lương
Khải Siêu; Liang Ch'i-Ch'ao) đang ở Hoành Tân
làm chủ tờ "Tân Dân Tùng Báo". Nghe nói
họ Dương ở Nhật lâu ngày hơi rơ
công việc nước Nhật, tôi bèn quyết
định trước hết tới ra mắt
họ Lương để cầu họ Lương
giới thiệu với người Nhật.
Tuy là tôi với Lương chưa hề
gặp mặt quen nhau lần nào, nhưng tôi nghĩ
Lương là bậc người mới, chắc
có con mắt tư tưởng không như bọn
tầm thường.. Tôi liền viết một
bức thư xong ra mắt. Trong thư có câu như
vầy : "Ra đời khóc một tiếng,
đă là lương tri, sách vở đọc 10 năm,
trở nên thông gia" (Lạc địa nhất
thinh khóc, tức dĩ tương tri, đọc
thơ thập niên nhỡn, loại thành thông gia).
Tôi lấy mấy câu đó làm gốc để
cầu ra mắt họ Lương.
Tiếp được thư, Lương mời
tôi vào lập tức. Chúng tôi lấy bút mực
nói chuyện. Lương hỏi tôi qua đây có
ư ǵ, lại hỏi t́nh h́nh người Pháp cai
trị nước Việt ra sao. Tôi lấy làm
tiếc lúc ấy chỉ kể đại khái, v́
câu chuyện quá dài không thể một lúc bút
thừa đàm mà nói cho Lương biết
hết được. Rồi đó tôi viết
ra cuốn "Việt Nam Vong Quốc Sử",
đưa trọn bản thảo cho Lương
đem ra in. Bước đầu tôi xuất dương
mới viết sách là lần thứ nhất.
Sau khi họ Lương gặp tôi rồi,
lấy cặp mắt xanh (biết nhận xét
bậc hiền tài) đăi tôi rất tử
tế. Nhân đó Lương nói cho tôi nghe
việc chúng tôi mưu tính cậy nhờ người
Nhật giúp cho khí giới để khởi binh
đánh đổ chính phủ Pháp. Lương nói
: Nhiệt tâm của các ông như thế, sức
tôi có được tới đâu tôi giúp
liền tới đó, không hề chạy
chối. Nhưng nghĩ lại sự giúp sức
cho đảng cách mạng đánh đổ chính
phủ, thuở nay các nước không có lệ
đó bao giờ. Nếu có chăng nữa,
chỉ là lúc nào hai nước có chuyện xích mích
tới đánh nhau mà thôi. Nay hai nước Pháp -
Nhật chưa tới cơ hội xích mích đánh
nhau, có khi nào chính phủ Nhật chịu giúp khí
giới cho các ông.
"Nghĩ tới cách khác, duy có mấy chính
đảng của dân họ đem sức riêng giúp
ngầm các ông, họa chăng có thể. Trong
mấy dân đảng ở nước Nhật
hiện thời, chỉ có đảng Tiến
Bộ nhiều thế lực mà Bá tước Đại
Ôi (Count Shigenobu Okuma) và Khuyễn Dưỡng
Nghị (Ki Tsuyoshi Inukai) chính là hai người
đầu đảng. Nếu các ông muốn làm
quen hai người đó th́ tôi giới thiệu
giùm.
*
Rồi họ Lương cùng tôi đi Đông Kinh
(Tokyo) yết kiến Khuyển Dưỡng
Nghị. Sau Khuyển Dưỡng Nghị dẫn tôi
ra mắt Bá tước Đại Ôi. Về sau đảng
chúng tôi cùng dân đảng nước Nhật có
quan hệ với nhau, đầu giây mối
nhợ từ lúc này mà ra vậy.
Mấy ngày sau Khuyển Dưỡng Nghị
lại giới thiệu tôi với các yếu nhân
trong dân đảng.
Lúc này Phúc Đảo An Chánh đang làm Tham mưu trưởng,
Căn Tàn Nhất làm đầu hội "Đông
Á Đồng Văn", cả hai đều hoan nghênh
tôi.
Tôi liền nhân dịp tỏ bày ư muốn
của đảng tôi cầu viện.
Họ nói :
Phàm là nước đồng châu đồng
đảng đồng chủng với Nhật
Bản th́ quốc dân Nhật Bản đều
vui ḷng giúp đỡ pḥ tŕ cho nhau luôn. Nhưng mà
việc này có quan hệ đến quốc
tế, phải làm sao được chính phủ
ngầm chịu giúp cho th́ mới có thể làm.
Rủi việc đánh Nga vừa mói xong, chính
phủ nước tôi chưa rảnh mà ngó ngàng
đến việc nào khác được. Các ông
rá đợi ít lúc, dân đảng chúng tôi xin
hết ḷng với các ông, thế nào cũng có ngày
đạt tới mục đích, đừng lo.
Họ lại hỏi tôn chỉ của đảng
chúng tôi là quân chủ hay dân chủ.
Tôi đáp :
Mục đích của đảng
chúng tôi bây giờ cốt thiết hơn hết
là làm cách nào bắt buộc người Pháp
trả quyền độc lập
cho chúng
tôi đă, c̣n như quân chủ hay dân chủ
lại là một vấn đề khác, giờ chưa
nghĩ đến. Song cứ theo lịch sử nước
tôi xưa nay và dân trí hiện tại, th́ quân
chủ phải hơn. Bởi vậy đảng
chúng tôi đă tôn một vị hoàng thân là ông
Kỳ ngoại hầu lên làm Hội chủ,
thế là chúng tôi sắp đặt quân chủ
nay mai đó.
Người Nhật vốn trọng đức Thiên
hoàng, tức là tán trợ chính thể quân
chủ, cho nên họ cho lời tôi nói là
phải. Họ lại nói với tôi :
Nay các ông rước được
vị Hoàng thân của quư quốc sang đây, th́
giao t́nh của chúng ta càng thêm tốt đẹp.
Các ông nghĩ có phải không ?
Tôi nghĩ việc cầu viện, có thành hay không
chưa biết. Nhưng tôi đă trốn ra nước
ngoài như vậy, nếu tiếng tăm bay ra,
rủi ro muôn một mà Hội chủ có hề ǵ,
chắc là ảnh hưởng tới việc
đảng lớn lắm. Bây giờ tôi bèn
quyết kế trở về để mời
Hội chủ xuất dương.
11. Rước Kỳ
ngoại hầu xuất dương
Ban đầu tôi xuất dương chỉ
cố chú ư vào vấn đề quân giới.
Trong khoảng mấy tháng cơm hàng ngủ
trọ ở Đông Kinh, tôi được nhân
dịp biết rơ câu chuyện Nhật Nga đánh
nhau và thấy được cái hiện trạng
của nước Nhật về chính trị, giáo
dục, ngoại giao, thực nghiệp.
Thấy người ta rồi, ḿnh hết
sức hổ (thẹn) thầm cho ḿnh lúc trước
kia chỉ ngồi co ro trong nước, hèn nào
chẳng kiến văn (kinh nghiệm, học
thức; những điều mắt thấy tai
nghe) mù mờ, tư tưởng bế tắc, không
biết ǵ cả. Hết thảy anh em đồng
chí với tôi cũng đều như tôi cả;
tôi nghĩ lấy làm tiếc sao không dời
được tất cả bà con ḿnh qua ở
Anh Hoa Tam Đảo (tức Nhật Bản) để
cho khối óc và tầm con mắt thay đổi
mới lạ hẳn đi!
Sau khi quyết định rước Hội
chủ xuất dương, tôi tính phải về
nước một chuyến mới được.
Thượng tuần tháng 7 năm Ất Tỵ
(1905), tôi với ông Đặng Tử Kính đáp tàu
ở Hoành Tân (Yokohama; một cảng lớn trên
đảo Honshu) về nước.
Tôi qua Nhật Bản chuyến này, đối
với việc đảng sai khiến phó thác, mà
tôi bỏ dở dang giữa đường như
vầy, thật không khỏi tự lấy làm
hổ thẹn. Nhưng có hai việc, có thể
gỡ tội cho ḿnh. Một là mưu pḥ
được Hội chủ xuất dương,
th́ càng thêm vững ḷng khuynh hướng của
anh em trong nước, mà lại khỏi lo có
sự ǵ nguy hiểm xảy tới. Hai là
đem những sự tai nghe mắt thấy
mới lạ, cùng là việc ḿnh mưu toan, để
bộc bạch với anh em đồng bào,
chắc hẳn có phần bổ ích cho cuộc
cải lương tấn phát mai sau.. Vịn vào
hai lẽ đó, tôi mạnh bạo trở về.
Tháng 8, về tới Hải Pḥng, ở nhà
một người bạn trong đảng. Sự
vui mừng không tả cho hết.
Là v́ lúc tôi đến Bắc Hải, đánh
liều đáp xuống một chiếc tàu tây,
nhờ cậy được một người
đồng bào đốt than trong tàu che chở giùm.
Tới lúc người tây xuống tàu khám xét th́
anh ta giấu tôi ở khoang tàu dưới chót,
chung quanh chất đầy than đá, tôi nằm
lọt vô giữa im ĺm không dám hó hé. Nhờ
vậy mà người tây không hay, tôi mới lén
về trong nước đặng. Đó cũng là
một việc mạo hiểm mà thành công.
*
Lên bến Hải Pḥng rồi, tôi đáp xe
lửa đi về Nghệ An.
Trên xe lửa, t́nh cờ gặp lăo Tuần
phủ X...tỉnh Thái B́nh vốn là tay bợm hót
giỏi trong đám quan trường. Lăo viết
mấy chữ trên miếng giấy nhỏ
đưa cho tôi xem, như vầy :
"Ông trốn đi chưa đầy tuần
lễ, mật thám đă bủa khắp nơi.
Vậy ông sớm liệu đào tẩu cho mau, không
th́ nguy đấy".
Tôi hơi lo.
Nhưng cái mục đích ḿnh trở về nước
nhà chưa đạt được, th́ chưa có
thể nào đào tẩu, ta cứ việc ở
nhà đă, ra sao th́ ra. Tôi bèn trốn trở
về Hà Tĩnh, ước hẹn những anh em
kín đáo tới hội họp tại nhà Đặng
quân (Đặng Tử Kính). C̣n Tử Kính th́ đem
giấy tờ trọng yếu vô Huế trước
để yết kiến hội chủ, rồi
đi thẳng vô Quảng Nam, nói việc ḿnh
định mưu tính vậy vậy cho đồng
chí 2 tỉnh Nam Nghĩa hay. Tôi ở quanh
quẩn trong Nghệ Tĩnh, ngày ngày cùng các đảng
hữu (anh em đảng viên) bàn định
việc làm. Kế đó có thư của đồng
chí ở Kinh (Huế) và Quảng gởi tới thôi
thúc nên gấp đi ra ngoài. V́ đất
Nghệ Tĩnh là đất người Tây để
ư ḍm nom coi chừng hơn hết, cho nên các đồng
chí không muốn tôi ở lần lựa trong
chỗ nguy hiểm đó lâu. Vừa may gặp ông
Trần Đông Phong đem lại 15 nén bạc và 200
đồng tặng tôi làm lộ phí, và giục tôi
khởi tŕnh.
Thế là tôi lại từ giă non nước
Hồng Lam, lên đường bôn ba.
*
Lúc ra đi, tôi lưu Tử Kính ở lại
Huế, dặn ḍ ông Đặng Thái Lân lo
việc hộ vệ Hội chủ xuất dương
cho thật vẹn toàn; lại viết thư
nhắc nhở cho anh em phải liệu định
sẵn sàng món tiền mua sắm và chuyên chở
khí giới để sắp đặt khởi
sự mai sau. Thượng tuần (sơ tuần;
khoảng thời gian từ mùng 1 tới mùng 10
trong tháng) tháng 9, tôi với Nguyễn quân Thức
Canh (Nguyễn Thức Canh) từ bến đ̣
Chế Giang ra đi. Cuối tháng ấy chúng tôi
đến Hải Pḥng, gặp được 1 người
làm bồi dưới chiếc tàu tây, tên là Lư
Tuệ, tính giùm cho tôi cái kế thoát hiểm.
Lư Tuệ là người có gan dạ, mưu mô,
thâm hiểu nghĩa lớn. Về sau, ông ta
ngầm giúp công việc kia khác cho đảng chúng
tôi được nhiều lắm. Lúc này t́m cách
đưa tôi xuất dương, ấy là bước
đường thứ nhất của ông ta
dấn ḿnh vào quốc sự vậy. Thật
là 1 người hăm hở làm việc nghĩa,
gặp nạn coi chết như không. Tôi không
ngờ giữa lúc ḿnh gió bụi xông pha lại
gặp được người như thế.
Nghe nói bây giờ này ở trong tù sau khi bị
Tổng đốc Lưỡng Quảng [Quảng
Đông + Quảng Tây] bắt vào ngày 24/12/1913) ông ta
đă bị đày, c̣n sống hay chết
rồi không rơ.
*
Tháng 10 năm ấy (1905), tôi đến Hoành Tân,
vô ở nhà trọ cũ, thấy môt vị thanh
niên học sinh ta là Lương Quân Lập Nham (Lương
Lập Nham) đă tới đó trước
rồi. Tôi xem ra người có khí phách hăng hái,
đầu tóc đang để bờm sờm; ḍ
hỏi mới biết ông ta bỏ nhà vượt
biển trốn sang Nhật có một ḿnh, lúc lên
bờ trong túi chỉ vỏn vẹn có ba đồng
xu. Thật vậy, tôi vừa vui mừng vừa chưng
hửng. V́ bạn tuổi nhỏ ở nước
nhà, một thân một bóng mà dám liều mạng
xông pha sóng gió muôn trùng, tới một nước
thuở nay chưa nghe thấy bao giờ, Lương
Quân chính là người thứ nhất
vậy. Té ra Lương Quân vốn là người
chứa sẵn kỳ khí, chỉ nghe nói tôi qua
Đông Kinh, thành ra mạnh bạo bỏ nhà bỏ nước
ra đi.
Bạn thiếu niên anh tuấn của ta sau này, có
mấy người được như Lương
Quân?
Kế đó, tôi bôn tẩu giữa khoảng Đông
Kinh - Hoành Tân, thường thường cùng
những người tai mắt trong dân đảng
nước Nhật nối liền thinh khí (khí
đương hăng), nhờ họ chỉ
vẽ về điều hay việc phải cho ḿnh
rất nhiều. Nhân đấy tôi nghĩ lại
dân trí nước ḿnh c̣n quá thấp thỏi, mà
nhân tài cũng thiếu thốn không có. Chừng
ấy tôi tự ăn năn việc ḿnh lo toan lúc
trước là nông nổi, chỉ bo bo về
vấn đề quân giới, nào có phải đó
là cái kế tuyệt hay để mưu tính công
cuộc độc lập cho nước ḿnh
được đâu! Một bữa nọ, tôi
đến nhà Lương Khải Siêu, trong lúc bút
đàm, có đem ư kiến ấy ra nói, Lương
bảo tôi như vầy :
"Cái kế hoạch độc lập của quư
quốc có ba đề mục lớn. Một
là thực lực riêng ở trong nước các
ông. Hai là nhờ hai tỉnh Quảng nước
tôi cứu viện. Ba là nhờ sức
cứu viện của Nhật. "Hai tỉnh
Quảng giúp chỉ là giúp giùm khí giới. Mà
Nhật có giúp cũng chỉ giúp về mặt
ngoại giao. C̣n th́ nhất thiết đều
trông cậy ở thực lực của quư
quốc mà thôi".
12. Hô hào thanh niên sang
Nhật cầu học
Lương Khải Siêu nói tiếp:
"Thực lực hệ trọng hơn hết,
không ǵ cho bằng nhân tài. Vậy th́ tôi tính
kế cho quư quốc bây giờ, trước
hết ta hăy gắng công ra sức vun trồng nhân
tài. Hễ nhân tài có đủ, th́ chỉ đợi
thời cơ đưa đến là ta làm
việc lớn được dễ dàng".
Tôi rất phục lời họ Lương nói
phải lắm.
Trở về nhà trọ rồi tôi thao thức suy
nghĩ cả đêm, không sao nhắm mắt
ngủ được.
Ḍm quanh thế giới như rồng bay hổ thét,
như điện chớp mây tuôn, nhân tài có ngàn
thứ muôn thứ, không có vẻ nào mà không
mới lạ. Ngay đến 1 xó Đông Dương
này, nước nhà ḿnh so sánh đă đủ
thua kém, người ta muôn phần, ḿnh chẳng có
một, c̣n nói Âu Mỹ làm ǵ ?
Bởi vậy, nuôi dựng nhân tài là
việc cần kíp của ḿnh, không đợi
phải nói nữa. Song muốn nuôi dựng nhân
tài ta phải làm sao bây giờ, v́ cái thực
quyền giáo dục nằm cả trong tay chính
phủ Pháp bảo hộ? Dầu vậy mặc ḷng,
anh em chúng tôi c̣n đây, không lẽ nào bó tay
chịu chết sao đành. Giờ chỉ có cách
là kêu gào bọn thiếu niên trong nước
tỉnh dậy, liều ḿnh trốn ra nước
ngoài học tập, như thế th́ ta được
tự do mở mang trí khôn, mà nước nhà
mới chóng có nhân tài đẻ ra được
nhiều. Tôi bèn đặt ra bài văn cổ
động bà con trong nước giúp tiền cho
thanh niên qua Nhật cầu học. Bài này chỉ
viết có lơ thơ mấy ngàn chữ, nhưng
thật là một bài văn sinh b́nh (lúc sống
ở trên đời) tôi lấy làm đắc ư
thứ nhất.
Là v́ công việc tôi sắp đặt lo toan
từ trước đến giờ, đều
chuyên chú vào hiện tượng trước
mắt, đến sự mưu đồ sự
nghiệp lâu dài bền vững cho nước nhà,
thời chỉ có bài văn này mà thôi.Nếu như có hiệu quả, người nước
ta du học ngày thêm đông, nhân tài ngày thêm
nhiều, dân trí ngày thêm cao, th́ không ǵ nước
Nam không có cơ sống lại.
Nhưng thủ đoạn người ta áp
bức nặng nề dữ tợn, khiến cho làn
sóng du học chưa được năm sáu năm,
đă làm cái đích cho muôn ngàn mũi tên
nhắm vào đó mà bắn, sự ấy trước
kia tôi có dè đâu.Than ôi ! Tài hèn sức
mỏng, trăm việc làm đều không
được như ḷng ḿnh muốn, thành ra
đá hết rồi mà biển hận vẫn chưa
lấp đầy, oan hồn Tinh Vệ (Tinh Vệ
là một loài chim sống ở bờ biển
giống chim quạ, chân đỏ, mỏ
trắng, thường ngậm gỗ và đá
ở núi Tây Sơn để lấp biển Đông.
Tương truyền con gái Viêm Đế, v́
chết đuối nên ḷng mang mối căm
hờn, hóa thành chim Tinh Vệ ngậm gỗ đá
để lấp biển. Nghĩa bóng: việc ǵ
khiến ta tức giận quá sức), đâm ngày
chỉ lênh đênh ch́m nổi với ba đào (sóng;
những cảnh ch́m nổi vất vả, gian
nan), đau đớn thay!
Bài văn "Khuyên Thanh Niên Du Học"
viết xong rồi, thuê in ra mấy ngàn tập,
giao cho Tăng quân Bạt Hổ (Tăng Bạt
Hổ) đem về nước phát hành. Mùa đông
tháng Chạp năm Ất Tỵ (1905), Tăng quân
về nước, cốt lo cổ động anh
em qua bên Nhật học. Vừa khi đó ông
Nguyễn Hải Thần (tức Nguyễn Cẩm
Giang, 1878-1959; chết ở Quảng Châu) ở nước
nhà trốn qua tới Nhật, gặp tôi ở Hoành
Tân được đọc bài văn của tôi,
ông lấy làm mừng lắm, t́nh nguyện gánh vác
khoản tiền tổn phí cổ động du
học sinh.
Không bao lâu, tiếng vang dội của bài văn
tôi làm rung động xôn xao cả nước.
Tháng Giêng năm Bính Ngọ (1906), tôi đến
nhà ông Khuyển Dưỡng Nghị để bàn
tính về việc đưa học sinh sang
học, sắp đặt cho anh em cả trường
học, chỗ ở sẵn sàng.
Lúc đó, ông Phước Đăo đang làm hiệu trưởng
Chấn Vơ Học Hiệu tại Dông Kinh, tôi
liền xin cho Trần Hữu Công (tức
Nguyễn Thức Canh), Lương Lập Nham và
Nguyễn Điển 3 người vô học trường
ấy. C̣n 1 người nữa là Lương
Nghị Khanh th́ vô học Đồng Văn Thư
Viện. Nước ta 4,000 năm nay chưa hề
có người nào du học ngoại quốc, có
chăng tự là 4 người này trước
hết.
Ôi ! Lịch sử quốc dân ta như thế ai
bảo là thằng bé con lụ khụ trăm
tuổi cũng phải.
Tháng 2 năm đó, bọn ông Tử Kính (Đặng
Tử Kính) đă pḥ tá Hội chủ Kỳ
ngoại hầu đến Hương Cảng,
viết thư sang Nhật gọi tôi qua.
Lúc bấy giờ, bốn người thiếu niên
vừa mới được vô học trường
Nhật, lại được nghe tin Hội
chủ xuất dương (đi ra ngoại
quốc) yên ổn, thật mấy năm nay chi có
chuyện này tôi thấy vui mừng khoan khoái
hết sức. Tôi nóng nẩy muốn biết t́nh
h́nh trong nước gần đây ra sao, lại
sẵn có dịp đi nghênh tiếp Hội
chủ, nên chi hạ tuần (từ ngày 21 đến
30 mỗi tháng) tôi đáp tàu qua ở Nhật sang
Hương Cảng. Tới đây, vừa gặp
Phan quân Châu Trinh (Phan Châu Trinh) mới từ nước
nhà qua. Phan quân đi chuyến này, cốt muốn
xem xét t́nh trạng văn minh của Nhật. Sau
khi gặp mặt tôi rồi, ông cùng với tôi và
Hội chủ cùng xuống Tàu sang Nhật.
Chúng tôi đến Hoành Tân vào hồi hạ
tuần tháng 4.
Tôi dẫn Phan quân đi xem khắp các trường
học và các nơi danh tiếng ở thành Đông
Kinh, lại giáp mặt nhiều danh nhân nước
Nhật. Cách đây mấy tuần, ông nói
với tôi:
Xem dân trí Nhật Bản rồi đem dân trí ta
ra so sánh, thật không khác ǵ muốn đem con gà
con đọ với con chim cắt già. Giờ bác
ở đây, nên chuyên tâm ra sức vào việc văn,
thức tỉnh đồng bào cho khỏi tai điếc
mắt đui, c̣n việc mở mang d́u dắt
ở trong nước nhà th́ tôi xin lănh. Lưỡi
tôi đang c̣n, người Pháp chẳng làm ǵ tôi
được mà lọ. Tôi cho lời ông nói
rất phải. Rồi tôi viết ra tập đầu
"Hải Ngoại Huyết Thư". Nhân lúc
Phan quân về nước, tôi gởi đem
Huyết thư đó về. Đối với bà con
trong nước, tôi là môt người khua động
chuông chiều trống sớm để thức
tỉnh, thật là tập văn này nối gót
"Huyết Lệ Tân Thư" mà ra đời
vậy. Cách không bao lâu, bọn anh em trong phái
cấp khích (rất nóng nảy) ở Nghệ Tĩnh,
như mấy ông Đại Đẩu, Thần Sơn,
phần nhiều viết thư hối thúc tôi
về việc quân giới.
Chỉ một vấn đề đó,
khiến cho tôi hao tốn không biết bao nhiêu tâm
huyết mà gây ra lắm nỗi thất bại thê
thảm, thật là khổ năo cho tôi! Các ông ông
về phái cấp khích, có bầu máu nóng đáng
kính, nhưng đầu óc các cụ chỉ lo xông
pha bôn tẩu trên một con đường
bạo động mà thôi. Chính tôi lúc chưa
bỏ nước ra đi, cũng chỉ có tư
tưởng giống y như thế; chừng sau
ra ngoài được rộng kiến văn và
nhờ người ngoài giáo huấn, tôi mới
biết sự nghiệp quang phục nước nhà,
không sao có cơ sở thật bền vững th́
không làm nên.
Bởi vậy, một mặt tôi cổ vơ thanh niên
du học, một mặt muốn mở mang tư tưởng
ái quốc cho toàn quốc dân, tôi bèn viết ra
"Tân Việt Nam Kỷ Niệm Lục", "Việt
Nam Sử Khảo", và tập "Hải
Ngoại Huyết Thư" nối theo.
Mấy thứ sách này lời lẽ thống
thiết lâm ly, chỉ có chủ ư là trông mong
quốc dân ta lấy Chiêm Thành Chân Lạp làm
dấu xe nên tránh và rán theo chân nối gót
của Trưng vương, Lê hoàng, mà phát
phần hăng hái, t́m lấy sự sống
ở trong lúc chủng tộc chưa tiêu, tính
mạng chưa tuyệt này, bằng không th́
trễ mất.
13. Gặp mặt Hoàng Hoa
Thám:
Nhưng mà tôi ngu thật ! Chớ chi dân ta đều
khôn th́ ai bắt ḿnh làm trâu ngựa được,
dân ta mà đều biết yêu ṇi thương nước
th́ ai bắt ḿnh làm nô lệ được ? Nghĩ
lại ḿnh ở trong tay người ta ràng
buộc mà toan cất tiếng trả lời, nói
bàn về chuyện ái quốc bảo, có khác nào
ngồi trước mặt đạo tặc mà bàn
cách khu trừ đạo tặc đâu. Ai người
kiến thức cũng đă sớm liệu cái mưu
ấy của tôi tất phải thất bại
rồi. Tuy là lúc bấy giờ tôi ôm kế
hoạch như thế mặc ḷng, nhưng đối
với sự yêu cầu của anh em trong phe
cấp khích, không thể nào ngảnh mặt làm lơ
cho được. Bởi vậy tôi lại tính
phải trở về nước lần thứ nh́
nữa.
Lần này về nước có hai mục đích.
Một là đi qua các nơi hiểm yếu
ở biên giới hai tỉnh Việt (Quảng Đông),
Quế (Quảng Tây) để xem xét địa
h́nh và kết giao với đám hào kiệt trong vùng,
hầu sắp đặt những chỗ mượn
đường chuyên chở quân giới mai sau.
Một mặt khác lại lên Bắc Giang yết
kiến ông Hoàng Hoa Thám, muốn xin ông một
miếng đất làm khu đồn điền
cho anh em cấp khích có chỗ nương thân,
đợi ngày có thể giải quyết vấn
đề quân giới.
Than ôi! Quân giới! Quân giới ! Nó có phải là
vấn đề chốc lát xong được
đâu? Đối với vấn đề này,
thật không có giây phút nào tôi đă dời phương
châm qua chỗ thông thả tính sao cho ổn
thỏa th́ hơn.
Tháng 7 năm Bính Ngọ (1906), tôi lại từ
giả Nhật Bản về Quảng Đông, đến
Sa Hà ra mắt Mạnh Hiếu Công, vừa gặp
người con truởng của cụ Phan Đ́nh Phùng
là Phan quân Bá Ngọc , cũng vừa ở trong nước
đến nơi. Phan quân c̣n nhỏ tuổi mà người
thông minh anh tuấn. Lúc tôi c̣n ở nước
nhà đă có dịp gặp gỡ phơi trải
ruột gan với Phan quân, nay gặp nhau ở
chốn tha hương, tôi vui mừng được
gặp 1 bạn tri kỷ. Tôi ngỏ cho Phan quân
biết ư tôi muốn về nước, c̣n Phan quân
th́ ngỏ ư định sang Nhật.
Sau khi từ biệt Phan quân rồi tôi vội vàng
đi Khâm Châu, t́m kiếm 1 người trong nghĩa
đảng hồi trước, tên là Tiền Đức,
để cậy va làm người hướng
đạo. Chúng tôi đi men một dọc bờ
cơi dưới Từ Châu, qua phủ Thái B́nh,
đến Long Châu, rồi vượt qua cửa
ải Trấn Nam Quan. Trước sau cả
thảy 5 tuần lễ, bao nhiêu địa
thế hiểm trở, tôi đều xem xét
kỹ lưỡng. Tiền Đức cũng có công
trong việc này nhiều lắm.
Qua ải Trấn Nam, tới chợ Văn Uyên.
Chợ này có đồn lính một viên quan binh tây
bốn lon chỉ huỵ. Hễ ai không có thông hành
hộ chiếu của lănh sự Pháp cấp cho th́
không đi qua lọt.
Tôi mua được mộ tờ thông hành
của của chú khách buôn, mạo danh là một
Hoa thương mà đi. Lúc này trên giấy thông
hành chưa có lệ phải dán h́nh ảnh thành
ra tôi được b́nh an vô sự, lên xe
lửa ở Đồng Đăng mà đi Hà Nội.
Hồi này là thượng tuần tháng 9. Xe
lửa tới ga Gia Lâm th́ tôi xuống, đi
đường bộ lên Thái Nguyên, tới
Chợ Chu vào thăm Lương Tam Kỳ.
Nguyên là lúc tôi đi ngang qua Thái B́nh phủ đă
có dịp vào ra mắt quan Thống lănh Trần
Thế Hoa, xin ông giới thiệu tôi với lam
Tam Kỳ, bởi Lương là bộ hạ cũ
của ông.
Ông Trần lại sai một viên thuộc hạ
dẫn đường cho tôi đi đồn
điền của Lương.
Lương ở Thái Nguyên, có thế lực khá
lớn, cày ruộng nuôi trâu, gần chiếm
hết 8/10 của toàn tỉnh. Bộ hạ rất
đông, quân giới cũng hơi khá. Chính
phủ Pháp phong làm chức Chiếu phủ đại
sứ để ràng buộc họ Lương.
Lúc tôi và người của ông Trần đến
đây, Lương Tam Kỳ hoan nghênh hết
sức. Nhân dịp, tôi thuyết họ Lương
phản chính (và giúp sức chúng tôi.
Lương nói : Chừng nào đại binh các ngài
hạ Đông Kinh th́ tôi xin đem hai tỉnh Thái
Nguyên, Bắc Cạn ứng theo.
Tôi xét ư tư va cũng là người chỉ
ngồi đợi cho công việc ai làm gần
xong th́ va mới ghé vào, tự va không có khí tượng
mạo hiểm tiến thủ ǵ hết. Chưa
đến lúc sấm mưa vang dậy th́ va không
giúp ḿnh ǵ đâu. Ở nhà Lương, mấy
ngày, tôi từ biệt ra đi, do đường
núi rừng lên tỉnh Bắc Giang tới đồn
Phồn Xương, yết kiến Hoàng tướng
quân Hoa Thám.
Trước kia Hoàng đă cùng tôi liên lạc
thinh khí rồi, nhưng chỉ là những người
đem thư lui tới mà thôi. Đến giờ
mới gặp giáp mặt. Lúc này Đặng quân Thái
Thân đang có việc ở Hà Nội, được
tin tôi, liền lên Phồn Xương gặp tôi.
Rồi đó chúng tôi xin Hoàng tướng quân
cắt đất làm đồn, tính cách thu
dụng những đảng viên Nghệ Tĩnh,
Hoàng tướng quân vui ḷng ừ ngay.
Liền dẫn chúng tôi đi xem khắp xa
gần, để chúng tôi tùy ư lựa chọn
chỗ nào cũng được.
Giữa hồi này ông Đại Đẩu cũng
đang ở trên đồn. Tôi căn dặn ông
vè nói với anh em trong đảng nên tính cách làm
ruộng chờ thời.
Không bao lâu có đồn "Tú Nghệ"
lập ra. Việc tôi làm chuyến này, là 1
kết quả nho nhỏ vậy.
14. Chính phủ Lâm
thời Tân Việt Nam
Nhưng rồi người Tây th́nh ĺnh khai
chiến với tướng quân, làm cho cái thành tích
đồn điền của chúng tôi, phút
chốc hóa ra tro bụi.
Than ôi ! Xông pha nhọc nhằn trải muôn ngàn
dặm, mà chỉ gây nên một cơi mơ màn
thất bại, có ai mưu sự mà gặp nông
nỗi bất hạnh như tôi vậy chăng ?
Đó chẳng phải chứng cớ tài hèn trí
mỏng là ǵ? Ai nối gót tôi mà dấy lên sau này,
nên coi sự sai lầm của tôi mà thay đổi
bước đường đi!
Lúc sắp đặt công cuộc đồn điền
xong xă đâu đó rồi, đă là hạ
tuần tháng 10. Tôi lén xuống Hà Nội gặp
ông Ngô Đức Kế và các đảng hữu
ở Kinh (đô) ra, bàn tính các việc. Rồi
lại đi Bắc Ninh, lấy nhà ông cử
Nội Duệ làm nơi tụ họp bí mật.
Hai ông Đặng Thái Thân và Lê Vơ cùng ở
Nghệ ra Bắc cùng tôi hội đàm quốc
sự. Hồi này tiếng tăm vang dậy, lũ
sói chồn bủa khắp tứ vi, anh em đồng
chí sợ tôi rủi ro th́ nguy, cho nên đều
khuyên tôi phải gắp ĺa khỏi bờ cơi nước
nhà. Thế là tôi lại cáo biệt quốc dân mà
xuất ngoại vậỵ.
Khoảng trung tuần tháng chạp, qua cửa
ải Nam Quan, do đường Quảng Tây mà
đến Ngô Châu, để xuống ghe Ngô Châu
đi Hương Cảng. Thượng tuần tháng
2 năm Đinh Mùi (1907) tới nơi.
Bài văn khuyến học của tôi, truyền bá
rồi. Thiếu niên nước nhà trốn người
Pháp mà xuất dương, tấp nập trên
đường.
Trung Kỳ th́ có đám Nguyễn Siêu, Lâm
Quảng Trung.
Nam Kỳ th́ có đám Đặng B́nh Thành, Hoàng Hưng.
Bắc Kỳ th́ có Đặng Tử Mẫn, Đàm
Khanh, v.v...
Họ tắm gội nắng mưa, xông pha sương
gió, liều mạng đi t́m học vấn,
nối gót theo chân nhau trên đường sang
Quảng Đông và Hương Cảng. Bởi
vậy chúng tôi bèn đặt ra tại Hương
Cảng một cơ quan của đảng ta,
để có nơi tiếp rước học sinh
và thâu nhập bạc tiền cùng các giấy
tờ bí mật. Chúng tôi để ông Đặng
Tử kính trông coi. Tôi lại lập ra ở Hương
Cảng một hội gọi là Việt Nam Thương
Đoàn Công Hội để giúp đỡ
việc cho đảng. Công hội này ông Vơ
Mẫn Kiến làm người chủ tŕ. Lúc
đó những bà con ḿnh theo người Pháp qua làm
ăn tại Hương Cảng cũng động
ḷng v́ nghĩa lớn, rủ nhau vô hội
một cách hăm hở vô cùng. Chẳng phải
vậy là dấu tỏ ra nhân tâm nước ḿnh
chưa chết hẳn đó sao ?
Chỉ tiếc rằng tôi thiếu tài bao bọc,
kém sức chu toàn, thành ra mầm giống vừa
mới mọc lên th́ gió mưa đă làm cho xiêu
đổ. VN Công Hội chỉ có cái tên, rồi
chưa được mấy năm, lại nhân
bị can thiệp mà phải giải tán, đáng
thương biết bao !
Từ mùa xuân Đinh Mùi (1907) đến mùa đông
Mậu Thân (1908) là thời kỳ thanh niên ta sang
du học thịnh nhất. Trách nhiệm tôi
phải gánh vát trong thời kỳ này cũng khó
nhọc bộn bề. Nào là chọn người
vào học, nào là lo liệu giao thiệp; nào là
vận động bạc tiền; nào là liên
lạc t́nh nghĩa, đều là một tay tôi
đứng mũi chịu sào hết thảỵy.
Tôi nghiễm nhiên như một quan công sứ
của nước Nam ở nước ngoài mà
lại kiêm cả chức giám đốc kinh lư (đi
xem xét công việc) nữa. Giếng sâu tay
ngắn, việc lớn tài hèn, tôi vẫn lo
sợ công việc tôi gánh vác không kham.
Đồng thời chúng tôi lại dựng lên Tân
Việt Nam Cống Hiến, bắt chước
làm như một chính phủ lâm thời của nước
Nam ở hải ngoại. Tuy là cách thức
sắp đặt c̣n sơ sài, nhưng có ảnh
hưởng tới dân khí trong nước mau
lắm.
Không bao lâu, có những việc ám sát quan binh Tây,
và dân rủ nhau xin thuế, th́nh ĺnh nổi lên
ở Trung Kỳ, Bắc Kỳ. Người Tây bèn
đem cái toàn lực bắt cọp trói beo ra
phấn đấu với đảng chúng tôi.
Than ôi ! Người Pháp có kim tiền và vơ
lực mạnh hơn người ḿnh ngàn lần
muôn lần; họ lại khôn ngoan giảo
hoạt hơn quốc dân ta vạn bội,
vậy th́ đảng chúng tôi không phải
thất bại sao được?
Khoảng năm Thân (1908), năm Dậu (1909), chính
phủ Pháp bỏ ra nhiều tiền nuôi bọn
chồn tinh cáo già cho đi ḍ la xét bắt nghĩa
đảng. Số mật thám trong nước, sánh
lại đông gấp hai số học sinh du
học ở ngoài. Phàm là đường
lối mưu mô bí mật của đảng chúng
tôi đem tiền và thông tin ra ngoài thế nào, chính
phủ Pháp nhờ có bọn do thám mà biết ráo
kẽ tóc chân răng, t́m cách phá hoại tan nát.
Phụ huynh thân tộc các đảng viên
phải khóc than giam cầm trong ngục tối, c̣n
bọn ác thám hưng tra (mật thám) th́ gầm
thét nghêng ngang khắp trong xứ. Người
trong đảng ta lúc bấy giờ có muốn
bỏ nước trốn ra ngoài, chỉ có cách làm
như con trùng lơa lồ thân thể mà thôi.
V́ chính sách người Pháp cốt làm tuyệt
đường vận lương của ta,
chận nghẹt lối cứu viện của ta,
ấy là thủ đoạn có một không hai
của họ. Đồng thời lại vin lấy
chỗ quan hệ của tờ Hiệp ước
Pháp - Nhật mà giao thiệp với chính phủ
Nhật, yêu cầu bắt hộ người
đầu đảng ta và giải tán học sinh
đoàn Việt Nam ở Nhật.
Học sinh đoàn ta bị hai ách là kinh tế
hết phương và ngoại giao bịt lối,
thành ra giữa đám gió thảm mây sầu, anh
em ta phải từ giă đất nước
Nhật Bản mà đi. Chẳng phải vậy
thôi, cho đến bao nhiêu sách vở truyền
đơn tôi in ra để cổ động
quốc dân, nay đều bị chính phủ
Nhật tịch biên hết. Tôi với Hội
chủ Kỳ Ngoại Hầu cũng bị chính
phủ Nhật buộc phải xuất cảnh.
Cảnh thất bại của tôi lúc này thật
đau đớn, h́nh như con người
bị lột da xé thịt không c̣n chỗ nào lành
lặn nữa vậy.
15. Muốn chở khí
giới về giúp Hoàng Hoa Thám
Ôi! Công việc cứu quốc, không có ǵ
cần kíp hơn là vun đắp nhân tài, mà vun
đắp nhân tài th́ có cách tổ chức ra
đoàn học sinh là hay hơn cả. Nhưng chúng
tôi gặp phải cảnh ngộ này, không có tài
sức nào tổ chức được học
đoàn nữa. Duy có để cho anh em
học sinh bền ḷng gắng chí, tự lo
lấy cách t́m đường cầu học mà
thôi.
Lúc bấy giờ có người chạy qua
Bắc Kinh, như bọn Chung Hạo Sanh,
Hồ Học Lăm. Có người tới Quảng
Tây như Nguyễn Tiêu Đẩu (Nguyễn Bá Trác),
Nguyễn Siên, Huỳnh Trọng Mậu. Có người
chạy sang Xiêm La (Thái Lan), như bọn Hồ Vĩnh
Long, Đặng Quốc Kiều. Cũng có người
vẫn lưu lại Nhật, giả mạo làm người
Tàu để cầu học, như đám
Trần Trọng Khắc, Hoàng Đ́nh Tuân. Chân
trời lênh đênh, ai lo thân nấy. Kể
về tinh thần, anh em ta vẫn là một nhóm ái
quốc thanh niên, nhưng về h́nh thức th́
bấy giờ họ là một lũ học sinh bơ
vơ trôi nổi.
Lúc đó tôi làm thế nào?
Đối với cảnh ngộ chẳng may
của những anh em học sinh chí thân chí ái, tôi
chỉ đành vỗ ngực kêu trời, lấy
một trận khóc để kết thúc vấn
đề ấy thôi. Nhưng mà tấm thân 7 thước
đă hứa hẹn với non sông, là thân tôi
đây, không thể lấy ǵ che lấp trách
nhiệm cho được. Đến nông nỗi này
tôi không thể nào không chạy qua con đường
bạo động. Vẫn biết bạo động
với tự sát đều là việc làm của
những kẻ kiến thức hẹp ḥi, không
biết lo xa, nhưng nếu sự thế buộc
tự sát, thà rằng xoay ra bạo động mà
chết c̣n hơn. V́ cứ bạo động may
ra c̣n trông được có chỗ thành công trong
muôn một. Huống ǵ tôi đă suy đi tính
lại, lúc này bỏ sự bạo động ra
không c̣n có việc ǵ đáng làm hơn nữa.
Muốn học cách Thân Bao Tự khất binh để
cứu Sở (Thân Bao Tự làm quan nước
Sở, đời Đông Châu, bạn chí thân của
Ngũ Tử Tự Về sau khi Tử Tư
thắng Sở, th́ Bao Tự viện binh nước
Tần, đẩy lui binh Ngô, cho Sở Chiêu Vương
về nước. Xong rồi Bao Tự từ
chức, dắt vợ con vô núi ở ẩn) nhưng
chỗ nào là Tần Đ́nh cho ḿnh đứng khóc
mà cầu viện binh ? Muốn học cách
Việt Vương Câu Tiễn nhịn nhục báo
thù Ngô (Đời chiến quốc, Việt Vương
là Câu Tiễn bị bại trận ở Cối
Kê và bị Ngô Vương là Phù Sai bắt
cả hai vợ chồng đem về nước
Ngô cho chăn ngựa.
Câu Tiễn nuôi chí phục thù và xem đất
Cối Kê là nơi mà ḿnh mang quốc thù và
bị người nhục mạ), nhưng có nơi
nào là Cối Kê để cho ḿnh nương thân
sắp đặt ? C̣n muốn lấy văn
tự để cổ động quốc dân
gọi là cho xong phận sự đời ḿnh
đối với nước non, nhưng khốn
thay văn tự cũng không c̣n lựa chỗ
đất nào để gieo rắc tuyên truyền
nó được, mới thảm ! Chẳng
những thế mà thôi, cho đến những anh
em đồng chí ở trong nước cũng
đều có cái nguy sớm muộn bị tù
tội, bị đày, bị chém nữa kia.
Than ôi ! Con thú đến lúc cùng đường
túng thế, nếu không phấn đấu may ra c̣n
có đường sống, nếu không th́
tất phải chết.
Tháng Tư mùa hạ năm Kỷ Dậu (1909), đảng
ta phải trải muôn ngàn cay đắng mới
quyên góp được một số tiền
nữa gởi ra, tôi đem trao hết cho một
hiệu buôn Nhật để cậy họ lén
mua quân giới cho ḿnh. V́ chúng tôi muốn bạo
động, thế nào cũng phải có ít
nhiều quân giới. Quân giới mua xong rồi,
do Đặng quân Tử Mẫn (Đặng Tử
Mẫn) bí mật đem qua Hương Cảng. Lúc
ấy là hạ tuần tháng 5 giữa lúc tôi cũng
đang ở đó. Vừa nghe tin nước nhà
đưa sang, nói rằng Hoàng Hoa Thám tướng
quân đang giao chiến với quân Pháp gắp
lắm. Chúng tôi thiết nghĩ việc cứu
viện họ Hoàng là một việc nghĩa
phải làm, không thể nào tŕ hoăn được.
Bởi vậy chúng tôi nghĩ cách làm sao vận
tải được khí giới về nước
cho mau.
Muốn chở quân giới vào đất Trung
Kỳ tất phải mượn đường
đi tới Băng-Cốc., kinh đô nước
Xiêm, t́m cách yết kiến nhà đương
cuộc Xiêm cầu họ giúp đỡ cho ḿnh. 2
quan đại thần lục quân và ngoại giao
Xiêm quốc lúc ấy, hơi có ư muốn giúp
đảng cách mạng ta, nhưng họ c̣n đang
bàn tính với nhau chưa được nhất
quyết.
Tôi lại nghĩ đảng cách mạng Trung Hoa
thuở nay rất thạo nghề mật chở
quân giới, cho nên tôi lật đật từ giă
Xiêm kinh (Băng-Cốc) mà đi Nam Dương,
yết kiến Chương B́nh Lân. Chính tay
họ Chương viết một bức thư,
giới thiệu tôi đi t́m kiếm một tay làm
đầu đảng cách mạng Trung Hoa để
mưu với họ giúp sức cho ḿnh. Sau khi bàn
định việc này xong rồi, tôi đă
tới một hăng tàu Trung Hoa, thương
thuyết với họ về khoản tiền
tổn phí chuyên chở. Nếu đừng có
việc trở ngăn, th́ cái ngày giờ chuyên
chở quân giới của chúng tôi đă định
xong rồi. Không ngờ đâu bụng ḿnh tính
một đằng mà rồi việc làm trái đi
một ngả. Trung tuần tháng 2 năm Canh
Tuất (1910), tôi ở Nam Dương trở
về th́ nghe tin nói Bảo Hộ ra tay công phá
đảng ta dữ lắm. Người chủ năo
của đảng ta ở trong nước là ông
Ngư Hải đă bị nạn, đến
đỗi việc đảng vỡ lở tứ
tung. Bao nhiêu quân giới c̣n giấu đút ở
Hương Cảng, v́ sự đ́nh trễ lâu
ngày, thành ra tai tiếng thấu tới nhà
đương cuộc Anh ở Hương
Cảng hay dược. Cả thảy hơn 10 ḥm
súng đạn đều bị chính phủ Anh
tịch thâu hết; ông Cảnh Lâm lại v́
tội phạm cấm mà bị hạ ngục!
Trời ơi! Tin hung báo đưa tới, không
khác ǵ con dao đâm một mũi chí mạng vào
trong cái kế bạo động của tôi.
Nhân đó có câu thơ cảm khái (v́ bực
tức mà cảm xúc trong ḷng rồi than thở)
như vầy :
Ưu thế kỷ hồ thương hải
khấp.
Kinh nhân nhất chỉ ngọc sơn đồi.
Nghĩa là :
Lo nước bao phen sa huyết lệ,
Tin quê đưa tới luống kinh tâm...
Lại c̣n 1 câu nữa :
Khả vô mănh hỏa thiêu sâu khứ,
Thiên hựu cuồng phong tông hận tai
Nghĩa là :
Đă không ngọn lửa thiêu sầu rụi,
Lại có cơn giông thổi giận thêm.
Ấy là những câu tả rơ t́nh h́nh cảnh
ngộ của chúng tôi lúc bấy giờ.
Từ tháng 3 năm Canh Tuất (1910) trở
đi, tôi bước vào thời kỳ hết
sức thê lương. Tin tức nước nhà, có khi vắng bặt
mấy tháng trời, tôi không tiếp được
mảy may nào. V́ Bảo Hộ thẳng tay làm chính
sách khám xét thư từ và tịch thâu tiền
bạc trong nước gửi ra cho chúng tôi.
Hồi này người Pháp có tính cách làm oai
để cho đảng nhân đang bôn đào
(trốn tránh v́ phạm tội) bên ngoài phải
sợ, cho nên chỉ để tiết lộ ra
ngoài những tin hung báo rằng đảng nhân
nọ kia bên trong đă bị chém giết mà thôi.
Thành ra những tin tức đau ḷng đứt
ruột, không ngày nào không quấn quưt bên ḿnh tôi.
Tôi dời về tỉnh thành Quảng Châu,
thế mà quan quyền Pháp lại bỏ tiền
mua chuộc bọn trinh thám người Tàu để
làm khó cho tôị. Đến đỗi tôi không dám
lấy bút mực làm sinh kế nữạ. Sớm
tối tôi chỉ nương dựa vào một bà
nữ sĩ nghĩa hiệp trên 70 tuổi đầu,
làm như bà Phiếu mẫu (bà lăo giặt văi,
người đă cho Hàn Tín-lúc c̣n hàn vi phải
đi câu-ăn một chén cơm. Sau khi làm Tể
tướng, Hàn Tín đă cho bà lăo ngàn lượng
vàng để tạ ơn) nuôi cơm cho tôi ăn.
Than ôi ! Bà chiếu cố tôi trong chỗ gió
bụi lênh đênh, nuôi tôi không biết bao nhiêu
bữa cơm mà nói, mà không hề nghĩ tới
sự mai sau, trông ḿnh đền đáp ǵ
hết. Thật là Châu Mẫu Việt Thành,
khiến cho tôi chết xuống đất cũng
c̣n mang ơn ngậm vành kết cỏ
vậy. Bà họ Châu,
tên là Bách Linh.
16. Trần Kỳ Mỹ và
Hồ Hán Dân giúp sức
Tháng 2 năm Tân Hợi (1911), tôi lại qua Xiêm.
Lúc bấy giờ người trong đảng ta cư
ngụ nương náu ở nước Xiêm, có
bọn các ông Tử Kính, Vĩnh Long, Ngọ Sanh và
Minh chung, rủ nhau chịu khó cày cấy ruộng
nương, chăn nuôi gà vịt, để làm
kế trữ sức lâu ngàỵ.
Các ông viết thư sang Hương Cảng kêu
tôi qua.
Tôi suy nghĩ muốn bắt chước Ngũ
Tử Tư ngày xưa cày ruộng đợi
thời, cũng là kế hay, bèn đáp tàu qua Xiêm.
Sang đây, tôi tới ở sở ruộng
Bạn-Thầm, tắm gió gội sương,
dầm mưa trải nắng, cùng mấy anh em
thiếu niên cùng chia sớt đắng cay,
hầu cho tiêu bớt nông nỗi đau thương,
ăn không ngồi rồi.
Tôi sống cái đời nông phu cực
nhọc trước sau được 8 tháng.
Nhưng trong 8 tháng đó, tôi thấy trong ḿnh vui
vẻ thơ thới lạ lùng. Lúc khát gặp
có suối nước th́ uống, lúc đói
vớ được trái cây th́ ăn, cái ngày
giờ cảm khái vô liêu (buồn bă, không có
thú vị) của tôi lúc này, chôn đứt
ở trong cảnh sống ăn sương hút gió,
kể cũng là 1 cách sống thú vị của
anh tráng sĩ đang cơn túng thế cùng
đường. Bởi vậy, tôi cho câu
chuyện đáng ghi chép là phải.
Hồi này rảnh rang nhàn thích, tôi soạn ra
được nhiều bài văn quốc ngữ.
Nào truyện Lê Thái Tổ, nào truyện Trưng
Nữ Vương. Nào là những khúc hát bài ca
cổ vơ tấm ḷng yêu nước, yêu ṇi, yêu
giống. Tôi đem những bài ấy ra dạy
cho những người ở trong sở ruộng
học thuộc ḷng, sớm tối họ thường
nghêu ngao hát làm vui. Ấy là tôi muốn gieo
hạt giống cách mạng ở giữa
khoảng nước biếc non xanh vậy.
Tháng 10 năm ấy (Tân Hợi, 1911), Phan quân Bá
Ngọc (Phan Bá Ngọc) ở Hương Cảng
sang Xiêm, đem cái tin Vơ Xương khởi nghĩa
nói cho tôi nghẹe. Tôi lấy làm động tâm (xúc
động) hết sức.
Hồi trước lúc tôi c̣n ở bên Nhật,
từng có cơ hội kết giao với bọn
lănh tụ cách mạng Tàu như Hoàng Khắc Cường,
Chương Thái Viêm. Lại cùng bọn Trương
Kế và chí sĩ (người có tiết tháo và
chí khí hơn người) các nước
Triều Tiên, Nhật Bản, Ấn Độ và Phi
Luật Tân, tổ chức ra hội "Đông Á Đồng
Minh". Chúng tôi với họ cũng là 1
hạng người đau ḷng mất nước,
mong phục nghiệp xưa, tôn chỉ vốn là
tương hợp. Nay nghe tin quân cách mạng Trung
Hoa dấy lên, khiến tôi có cái cảm giác
"tiếng đồng reo tiếng chuông
ứng".
Nhân đó Bá Ngọc khuyên tôi nên trở về nước
Tàụ. Tôi liền từ giả sở ruộng
ở Xiêm mà đi.
*
Hạ tuần tháng 11 (1911), tới Hương
Cảng, anh em đồng chí tản tác các nơi,
giờ đều quần tụ lại đây.
Lúc này tôi viết ra 1 bài chính kiến, tựa là
"Liên Á xổ ngôn", cốt bày tỏ kêu gào
2 nước Trung Hoa, Nhật Bản nên đấu
sức cùng ḷng, để sửa sang đại
cuộc châu Á. Bài này truyền ra, những người
kiến thức đều khen ngợi tán thành.
Song thời cuộc Đông Á, đến nay, xoay
đổi khác hẳn sự trông mong của ḿnh
lúc đó. Thế mới biết việc đời lư
luận đi tới sự thật không phải là
chuyện dễ dàng. Bọn ḿnh hay ngồi nói ngông
tưởng hăo, chỉ tổ làm tṛ cười
cho người ta đó thôi.
Mùa xuân năm Nhâm Tư (1912), nước Trung
Hoa Dân Quốc được thành lập,
cuộc cách mạng thế là xong xôi; tôi bèn
đi Thượng Hải, t́m thăm người
bạn hào hiệp quen nhau thuở trước là Trần
quân Kỳ Mỹ (Trần Kỳ Mỹ).
Giữa lúc này, Trần Kỳ Mỹ đang là Đốc
quân Thượng Hải, giúp cho tôi 1 số
tiền lớn. Lâu nay tôi khốn khổ về
cảnh túng bấn nghèo nàn, không khác ǵ người
hết gạo nhịn ăn lâu lắm rồi, bây
giờ được Trần Kỳ Mỹ vác 1
số tiền lớn lao mà cho ḿnh, khiến ḿnh
vui mừng yên ủi, v́ lại có tiền để
hoạt động.
Vừa gặp lúc Dân Đảng ỏ Quảng
Đông cũng thành công đắc chí, Hồ
Hán Dân làm Đô đốc, cùng với
Cảnh sát cảnh trưởng Trần Cảnh
Hoa, vốn tỏ ư đồng t́nh với đảng
cách mạng nước ta, cho nên tôi nhân dịp
lại đi Quảng Châu và định ở luôn
tại đó.
Trung Hoa Dân Quốc dựng lên như có
luồng gió tiếng vang, rung động tới nước
ḿnh nhiều. Dân khí ta lại phấn chấn
đáo để. Những hạng chí khí lại
rủ nhau bỏ nước mạo hiểm
trốn ra ngoài, chân nối gót nhau tới
Quảng Châu đông lắm.
Nhóm ông Liệt Sanh ở Nam Kỳ qua;
bọn ông Hải Thần (Nguyễn Hải
Thần) ở Bắc Kỳ tới; bọn Đặng
Tử Kính và Đặng Hồng Phấn th́ ở Xiêm
sang. Cho tới mấy anh em học tốt
nghiệp ở trường Lục quân Quảng Tây
lớp nọ, nay cũng đồng thời kéo
đến Quảng Châu để hội họp
nhau. Chúng tôi có thuê 1 căn nhà ở ngoài thành
để làm cơ quan, anh em tới ở đông
quá, đến đỗi chật chỗ.
Đảng viên xă hội Tàu ở Quảng Đông
là các ông Đặng Cảnh Á và Lưu Sư
Phục, cũng ra tay giúp sức đảng cách
mạng VN mà vận động giùm với các
giới. Chính phủ Quảng Đông lúc bấy
giờ vốn đă sẵn ḷng ngó lơ cho ta, thành
ra đảng ta tấn hành, mọi việc
được thong thả tự nhiên, không
bị trở ngăn lo ngại ǵ cả. Nhờ
vậy mà đảng cách mạng ta có vẻ
phấn khởi khá lắm.
Anh em đồng chí thấy vậy, đều
khuyên nhủ thúc giục tôi nên thừa cơ
hội này mà cử đồ đại sự.
Sinh b́nh (lúc sống ở trên đời), tôi
vốn ôm chủ nghĩa cấp khích nay lại
được da số anh em đồng chí thúc
hối tán thành, cho nên tôi càng quả quyết làm,
v́ đó mới có cái màn thất bại thê
thảm lại diễn ra 1 lần thứ hai
nữa.
17. Long Tế Quang
bắt tôi hạ ngục :
Mồng 5 tháng 5 năm Nhâm Tư (1912), anh em trong
đảng sửa sang tổ chức lại, thành
ra hội "Việt Nam Quang Phục" (Việt
Nam Quang Phục Hội hay Quang Phục Hội; cương
lĩnh của đảng dựa trên Tam Dân.
Chủ Nghĩa của Tôn Dật Tiên, người
vừa thành công trong cuộc cách mạng Tân
Hợi, 1911). Các đồng chí cử tôi giữ
quyền tổng lư, Hoàng quân Trọng Mậu (Hoàng
Trọng Mậu) th́ làm bí thư.
Chúng tôi thảo ra thể lệ cách thức
đạo quân Việt Nam Quang Phục,
lại in ra phiếu quân dụng riêng cho Việt
Nam Quang Phục quân dùng với nhau. Một mặt
khác chúng tôi mượn in vô số sách vở văn
bài cổ động, như là truyện "Hà
thành Liệt sĩ" và bài văn khuyên bảo
lính tập, rồi sai người chuyển
vận về nước, rải phát tứ tung.
Tháng 2 năm Quư Sửu (1913), chúng tôi ủy
ông Nguyễn Hải Thần làm chi bộ bộ trưởng
hội Việt Nam Quang Phục ở Quế biên
(giáp giới tỉnh Quế, tức Quảng Tây),
ông Trần Văn Kiện làm chi bộ bộ trưởng
ở Xiêm biên, c̣n ngả Điền biên (Điền là
tên tắt của tỉnh Vân Nam) th́ Đổ quân
Chơn Thiết (Đổ Chơn Thiết) tự
nguyện phụ trách. Chúng tôi bàn định lúc
nào cử sự (khởi sự làm) th́ cả 3
mặt cùng tiến, cho nên sự sắp đặt
từ trước sẵn sàng, chỉ c̣n đợi
ngày giờ đến th́ làm việc.
Tuy vậy, lúc ấy đảng ta vẫn có
một vấn đề khó nổi giải
quyết, là vấn đề kinh tế.
Khó quá, kinh tế chưa được sung túc, mà
đến khí giới quân lương cũng
đều l ngại thiếu thốn nữa
mới khổ. Nhưng nếu đừng có
việc tai biến (tai họa và biến cố) ǵ
xảy ra 1 cách bất ngờ, để chúng tôi
c̣n có ngày giờ th́ vấn đề dầu khó
mặc ḷng, họa may có thể trù tính xong
được. Song chẳng may thuyền xuôi gió
ngược, tai biến xảy ra không ngờ, làm
cho toàn cuộc mưu tính của tôi hư
hỏng tiêu tan như bọt nước bóng mây.
Hán Vơ Hầu (Gia Cát Khổng Minh) than rằng
đời khó được như ư, thật
đúng lắm thay !
Mùa hạ năm Quư Sửu (1913), ở
tỉnh thành Quảng Đông có việc quân lính
nổi dậy gây biến, cốt đánh đổ
Đô đốc Trần Cảnh Hoa, làm cho Trần
phải chạỵy. Long Tế Quang kéo binh tới,
tự lănh chức Đô đốc Quảng Đông.
Thuở nay, họ Long với đảng cách
mạng VN vẫn không quen biết nhau và không quan
hệ liên lạc với nhau bao giờ. Đă
vậy mà Long lại là người thù ghét vây cánh
Hồ Hán Dân và Trần Cảnh Hoa, chỉ
muốn có dịp bài trừ cho tiệt. Thành ra
đảng ta bị vạ lây; tôi phải ôm cái
cảm khái thỏ chết chồn đau, v́
Hồ - Trần thất bại, đảng ta không
chỗ nương dựa ở Quảng Đông
nữa. Lúc đó tôi muốn bỏ đi nơi
khác cho mau, nhưng v́ có công việc của đảng
c̣n ràng buộc, bỗng chốc thu xếp không
kịp, tôi đành phải nấn ná ở
lại. Nhưng cũng lo pḥng thân, tôi lật
đật viết thư lên Nguyễn Quân Đĩnh
Nam (Nguyễn Đĩnh Nam; tức Nguyễn Thượng
Hiền), cậy ông t́m cách vận động
xin giùm tôi 1 hộ chiếu, để nữa tôi
có đi đâu mới được.
Nguyễn quân vốn là người nhiệt tâm
với nước. Sơ tuần tháng 7, ông
tiếp được thư tôi, lập tức
lấy được giấy hộ chiếu
của Bộ ngoại giao Bắc Kinh gửi
xuống cho tôi. Có tờ hộ chiếu nằm
trong tay rồi, tôi bớt lo sợ. Vả lại
các bạn đồng chí cùng ở Quảng Đông
với tôi lúc bấy giờ khá nhiều, nếu
như đồng thời giải tán, muốn
đi đâu cũng phải cần có phí
khoản mà hiện tạ tiền bạc không có,
thành ra chúng tôi đành chịu nấn ná ở
lại đây với nhau, không tính đi đâu
được. Cách không bao lâu, có tin báo rằng
quan Toàn quyền Đông Pháp sắp tới Quảng
Đông. Kế 1 tuần sau, th́ các cơ quan hành
sự của đảng ta đều bị khám
xét và được lịnh giải tán. Tôi
với yếu nhân của đảng là Mai quân
(tức Mai Lăo Bạng, 1 linh mục theo VN Phục
Quốc Hội, chết năm 1942) cùng bị
bắt hạ ngục. Nguyên trước, Hoàng quân
Trọng Mậu (Hoàng Trọng Mậu) có việc
đi Vân Nam và Phan quân Bá Ngọc (Phan Bá Ngọc)
hồi xuống tàu đi Nhật Bản, đều
căn dặn tôi nên liệu cơ mà từ giă
Quảng Đông kẻo nguy. Song tôi suy nghĩ các
bạn đồng chí đang ở Quảng Đông
với ḿnh vô số, ḿnh không đành ḷng nào lo
riêng một ḿnh. V́ đó mà tôi cứ do dự
chần chờ, mới vương lấy tai ách bây
giờ.
Ban đầu mới bị
bắt, tôi vẫn tự nghĩ rằng ḿnh không
đến nỗi nào phải chết. Đến lúc
thấy cách thức người ta áp giải ḿnh
đi dọc đường, nào xiềng tay, nào
trói chặt, dẫn vô tới gục thất,
họ lại giam trong ngục thất chung 1
chỗ với bọn tù xử tử, bấy
giờ tôi mới biết rằng Đô đốc
Long Tế Quang không đăi tôi là hạng tù chính
trị, vậy th́ ngày giờ tôi chết gần
đến nơi rồi!
Từ khi xuất dương tới giờ, tôi
được nếm mùi ở tù, lần này là
lần thứ nhất. Nhưng Mai quân hơn tôi :
lần này ông ta vào ngục là lần thứ 3
rồi. Vào ngục bữa đầu hết, tôi
với Mai quân ở chung 1 sà lim. Đêm hôm ấy, tôi
đọc miệng 1 bài thơ an ủi Mai quân như
vầy :
Phiêu bồng ngă bối các tha hương
Tân khổ thiên quân phận ngoại thường
Tính mạng kỷ hồi tần tử địa
Tu mi tam độ nhập linh dường
Kinh nhân sự nghiệp thiên đào chú
Bất thế phong vân đế* chủ trương
Giả sử tiền đồ tận di
thản
Anh hùng hào kiệt giă dung thường
Đại ư là :
Bơ vơ đất khách bác cùng tôi :
Riêng bác cay chua nếm đủ mùi.
Tính mạng bao phen gần chết hụt.
Mày râu ba lượt bị giam rồi !
Trời toan đại dụng nên rèn chí,
Chúa* giúp thành công tất có hồi
Nếu phải đường đời
bằng phẳng hết ,
An hùng hào kiệt có hơn ai.
(* V́ Mai Lăo Bạng là linh mục nên Phan Bội Châu
mới có câu này).
C̣n tôi th́ tự an ủi ḿnh bằng 1 bài thơ
nôm như sau :
Vẫn là hào kiệt vẫn phong lưu,
Chạy mỏi chân th́ hăy ở tù.
Đă khách không nhà trong bốn biển,
Lại người có tội giữa năm châu
Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế,
Mở miệng cười tan cuộc oán thù.
Thân nọ vẫn c̣n, c̣n sự nghiệp,
Bao nhiều nguy hiểm sợ ǵ đâu
Làm xong 2 bài thơ, tôi ngâm nga lớn tiếng
rồi cả cười, vang động cả 4
vách, hầu như không biết thân ḿnh đang
bị nhốt trong ngục.
*
Qua ngày thứ nh́, người ta nhốt riêng
tôi và Mai quân mỗi người ở cách
biệt nhau một nới. Thế là từ hôm
nay, tôi là thằng tù bơ vơ trơ trọi
ở chốn tha hương khách địa.
Những nỗi khổ nhục ở trong khám,
cố nhiên ḿnh chẳng nên xót xa than thở làm ǵ.
Duy có 1 điều đau đớn là ḿnh
phải cách trở anh em, tuyệt hẳn tin
tức, mà ở trong ngục chỉ có 1 ḿnh nói
tiếng VN cho ḿnh nghe thôi, luống nghĩ tự
buồn rầu cho thân phận, rồi lại
chạnh niềm nhớ tới công việc
thất bại, khiến tôi phải đau ḷng mà
khóc, nước mắt tầm tă như mưa.
Thật là từ lúc cha mẹ đẻ tôi ra
đến nay chưa hề lúc nào biết mùi
đau đớn như bây giờ. Mà từ lúc
cha mẹ đẻ ra, tôi chưa hề nếm mùi
đau đớn như vầy, đầu giây
mối nhợ là v́ cái chí tôi hoài băo từ 30 năm
trước.
Cái chí tôi hoài băo ra
thế nào?
Th́ chỉ muốn đổ máu ra mà mua sự
tự do, đánh đổi cái kiếp tôi tớ
lấy quyền tự chủ đó thôi. Ôi ! Cái
chí tôi hoài băo như thế, cứ lấy thiên
chức quốc dân ta mà nói, có ai dám bảo
rằng : không nên. Song ôm cái chí đó mà có làm
thành việc lớn chăng, th́ phải nhờ có
bắp thịt cứng ra thế nào, học
thức giỏi ra thế nào, thủ đoạn có
tài thao túng (cầm nắm và buông thả ra) ra
thế nào, thời thế có khéo xoay chuyển
thế nào mới được. Đằng này tôi
tự hỏi lấy tôi, bất quá như anh mù
cỡi ngựa đui vậy thôi. Bây giờ
kết quả thất bại như thế này, chính
v́ tôi dở mà ra, con than trách ǵ nữa!
Tuy vậy, tôi nghĩ trong thế giới chẳng
lẽ nào có 1 con nước hễ đă
xuống rồi th́ không bao giờ nó lại lên,
chẳng lẽ nào có 1 cuộc đời hễ
đă thành rồi th́ không có lúc thay đổi;
bởi vậy, cái cuộc thất bại của
tôi tạo ra ngày nay, biết đâu không phải
là cái phước cho quốc dân sau này?
Than ôi ! Ḍng dơi Hùng vương chưa chết
hết, chuyện cũ Lê hoàng c̣n mới hoài, phàm
là quốc dân ta, ai hoài băo chí muốn như ta,
tất có ngàn ta, muôn ta, ức triệu ta, nên
lấy việc thất bại trước của
một ta mà răn ḿnh, để cho được
trở nên những người năng y, không
đợi tới 9 lần đứt tay mới
hay thuốc!
Tôi lại nghĩ tôi là 1 người trong tay không
có lấy 1 miếng sắt, trên mặt đất
cũng không có lấy 1 chỗ nào đứng chân,
chẳng qua ḿnh chỉ là 1 thằng tay không chân
trắng, sức yếu tài hèn, lại đ̣i
vật lộn với hùm beo có nanh dài vuốt
nhọn. Ai biết ḷng ḿnh th́ than tiếc dùm ḿnh
mà nói:
Gan to!
Ai muốn bắt lỗi ḿnh th́ cả thể
bảo ḿnh :
Ngu quá !
Tóm lại, trong đời người thật không
có ai ngu lạ như tôi. Nếu có phải tính
mạng của tôi đến ngày hôm nay là ngày cùng
rồi, khi tôi chết, người ta cứ đặt
tên hèn cho tôi là Kỳ Ngu th́ đúng lắm, không
đổi được chữ nào khác hơn.
Nhưng nếu muôn một mà tôi không chết, th́
rồi sau thấy beo cọp há lại không
thể đánh được ư? Xin
quốc dân ta nên xem gương mà tự răn
lấy ḿnh.
Lịch ta ngày 25 tháng Chạp năm Quư Sửu
(1913).
Sào Nam tử viết tập "Ngục Trung Thư
này ở nhà ngục Quảng Châu, sau khi vào
ngục được 3 ngày.
* Nguồn : www.vnthuquan.net/diendan/
* H́nh cụ Phan : http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%ACnh:PhanBoiChau.jpg
|
|