|
|
Chương X SỰ NGHIỆP VĂN HỌC QUỐC-NGỮ
VÀ VĂN-TỰ. - Quốc-ngữ Nhựt-bổn
với quốc-ngữ các nước khác có dính
dấp quan-hệ ra thế nào, thuở xưa không
có ai nghiên-cứu. Mãi đến đời
Minh-trị, văn-hóa phương Tây truyền
sang, bấy giờ Nhựt mới bắt đầu
giảng-cứu gốc-tích quốc-ngữ. Năm
Minh-trị thứ 19, trường Đế-quốc
Đại-học đặt ra khoa-học bác ngôn
博言学科,
để tiện giảng-cứu. Lúc
đó, đã từng có mấy nhà ngữ-học
ngoại-quốc xét gốc định loài
của quốc-ngữ Nhựt-bổn. Mỗi người
chủ-trương một khác. Người
nầy nói tiếng Nhựt giống tiếng Mãn-châu.
Người kia nói có bà con với tiếng Hàn
(Cao-ly). Người khác nữa bảo rằng
tiếng Nhựt với tiếng Mông-cổ có
chỗ thân-tộc quan-hệ. Gần đây,
lại có người phát-minh ra tiếng Nhựt
có hệ-thống với loài tiếng “Ấn-độ
Nhựt-nhĩ-man” (Indo-Aryen), nghĩa là có bà con
với tiếng Đức. Có lẽ vì đó mà
Hitler nói giống người Nhựt có pha máu
giống người Đức chăng ? Kỳ
thiệt, công việc giảng-cứu nầy đến
giờ cũng chưa quyết-định
được tiếng Nhựt thuộc vào
hệ-thống nào. Mỗi thuyết cho là gốc
nầy gốc kia chỉ là đoán chừng. Chỉ
biết rằng dân-tộc Đại-hòa (大和 -
Yamato) dựng nước
ở Nhựt-bổn, vốn có một thứ
tiếng riêng. Về sau văn-hóa bên đại
lục tràn qua, người Nhựt đón rước
Hán-văn Nho-học, tự nhiên có mượn
nhiều tiếng Hán, tiếng Hàn pha trộn vô
quốc-ngữ. Phật-giáo cũng đem
nhiều tiếng Phạn tới cho Nhựt mượn
nữa. Các
nước Âu-châu thông-thương với
Nhựt-bổn sớm hơn hết, là người
Bồ-đào-nha. Kế tới người
Y-pha-nho, người Hòa-lan, người Anh, người
Pháp, người Đức v.v… Nhựt-bổn cũng
mượn tiếng của mấy nước
nầy hóa làm tiếng mình vô số, nhứt là
những danh-từ về y-học, khoa-học. Còn
văn-tự, có ít nhiều người Nhựt
do tánh tự-ái, nói rằng trước khi chưa
có chữ Hán truyền sang, Nhựt-bổn đã
có Thần-đại văn-tự (神代文字 - Jindai
Moji),
nghĩa là ở đời Thần cũng có
chữ riêng rồi. Nhưng, Đằng-cương Thắng-nhị
(藤岡勝二 – Fujioka Katsuji)
là nhà chuyên-môn nghiên-cứu nổi-tiếng
về quốc-ngữ văn-tự Nhựt-bổn
bác hẳn cái thuyết trên đây, cho rằng
những người chủ-trương thuyết
ấy tưởng dân Nhựt-bổn
cổ-thời không có một thứ văn-tự
riêng là sự đáng lấy làm xấu hổ,
cho nên họ dò đoán cầm chừng mà bày
vẽ Thần-đại-văn-tự đó thôi.
Nếu quả xưa kia đã có văn-tự
đó chăng nữa, chẳng qua chỉ riêng
trong một khu-vực nào, chớ dân chúng không dùng,
mà nó cũng không đủ tư-cách là một
thứ văn-tự. Nhựt-bổn
có văn-tự, chính là thoát-thai ở chữ Hán
mà ra. Ấy là : Bình-giả-tự
(平假字 – Hiragana), mượn ở lối chữ viết tháu
của Tàu mà đặt ra cho được
giản-tiện, kẻo để nguyên cả Hán-văn
cho dân học thì phiền-phức khó-khăn quá.
Tương truyền người đặt ra
lối chữ nầy, một vị Thầy tu
đạo Phật, là Hoằng-Pháp
đại-sư (弘法大師
- Koubou Daishi, 774-835). Phiến-giả-tự
(片假字 - Katakana) chỉ mượn một mảnh chữ Hán
mà đặt ra, mà đọc theo âm
quốc-ngữ Nhựt. Đại-khái cũng như
nhà nho ta xưa mượn gốc chữ Hán mà
đặt ra chữ Nôm để đọc theo
âm của tiếng mình vậy. Có người nói
kiểu chữ nầy là bản-đồ 50 âm,
do Cát-bị Đại-thần
(吉備大臣
Kibi no Makibi, 693-775) sáng-tạo. Hai
lối chữ mượn nầy dựng lên
một nền văn-tự riêng của Nhựt, dùng
pha trộn với chữ Hán để viết văn
làm sách phổ-thông. Duy có đám thượng-lưu
học-thức mới chuyên dùng chữ Hán mà thôi.
Nhưng họ viết chữ Hán theo như văn-pháp
riêng của họ, chớ không chịu theo văn-pháp
Tàu. Sự mượn chữ đặt chữ riêng
viết văn theo phép riêng như thế,
chứng tỏ ra người Nhựt thuở xưa
đi học của người, vẫn giữ tánh-cách
độc-lập của mình là dường nào. Đến
lúc Âu-hóa sang Đông, thời-thế cấp-bách,
trước hồi Minh-trị duy-tân, đã có người
dâng thơ lên Mạc-phủ xin bãi hẳn chữ
Hán, để dùng chữ Bình-giả
Phiến-giả của mình thôi. Kế
đó, bước vào thời-kỳ Minh-trị
duy-tân có nhiều thuyết kế nhau nổi lên.
Năm Minh-trị 16, có “Giả
danh hội 片假会 -
Kataganakai”
lập ra cũng xướng-khởi ý-kiến
chuyên dùng chữ mượn, tức là chữ Bình-giả
và Phiến-giả. Qua năm sau lại có “La-mã
tư-hội -馬字会
- Romajikai” chủ-trương dùng
chữ La-tinh như các nước Âu Mỹ.
Cả hai hội đều xướng bỏ
chữ Hán. Có một phái Âu-hóa cấp-tấn,
muốn dùng hẳn Anh-văn làm quốc-văn. Nhưng,
Hán-văn đối với người Nhựt
tiếng Nhựt có lịch-sử lâu đời,
có quan-hệ thâm thiết, không thế nào bỏ
hẳn đi được. Muốn cho việc
học của dân được giản-tiện,
mau lẹ, nhà-nước bèn lựa lọc
chữ Hán lấy một số cần dùng còn
lại vài ba ngàn chữ thôi. Sự trí-thức
về chữ Hán văn Hán của sĩ-dân
Nhựt suy đi từ đó. Trong
đời Minh-trị, quan-bào và công-văn đều
viết bằng chữ Hán xen vô chữ
Phiến-giả cho dân dễ hiểu, ấy là
giữ thói quen từ đời trước. Có
một hồi tân-văn tạp-chí cũng dùng
trộn cả chữ Phiến-giả vô, nhưng
được ít lâu rồi thôi, chỉ dùng
chữ Bình-giả xen lộn chữ Hán như ta
thấy ở báo chí Nhựt ngày nay, chữ
Phiến-giả chỉ dùng để dịch các
danh-từ của Âu Mỹ, cho được
đọc theo như âm tiếng Âu Mỹ vậy. Chữ Bình-giả xưa kia viết ra lộn xộn bất nhứt, ai muốn viết sao thì viết, cũng như nhà nho nước Nam ta viết chữ Nôm vậy. Nhưng đến năm Minh-trị 83, Văn-bộ (tức là bộ Giáo-dục) định ra thể-lệ hẳn-hòi, mẹo-luật rành-rẽ. Trước
khi muốn xét về văn-học và sách báo
của Nhựt-bổn lúc mới duy-tân, chúng ta nên
biết qua quốc-ngữ văn-tự nước
Nhựt như thế. * VĂN-HỌC
ĐỜI MINH-TRỊ. - Đời xưa,
Nhựt-bổn đã có một nền văn-học
phát-đạt và có đặc-sắc lắm ;
họ tự-phụ rằng không thua gì Âu-châu.
Tiểu-thuyết, thi-ca, hí-kịch, đoản-thiên,
sử-ký, phong-dao v.v… môn loại nào cũng có
những áng văn hay truyền tụng. Nhứt là
đời Đức-xuyên làm tướng-quân, luôn
mấy trăm năm, thái-bình vô sự, người
ta chỉ có việc chăm lo trau dồi văn-học,
thành ra văn hay sản-sanh rất nhiều. Văn-học
Nhựt-bổn đến đời Đức-xuyên
là đời toàn-thạnh. Người
Nhựt bắt đầu nếm mùi văn-học
Âu-châu, là những truyện ngụ-ngôn của
Esope, dịch ra tiếng Nhựt từ
thế-kỷ 16, chắc là do tay dịch thuật
của một ông giáo-sĩ nào đó. Đến
phần dưới của thế-kỷ 18, thêm có
bổn dịch “Voyages de Gulliver”.
Lúc nầy có những người Hòa-lan, Bồ-đào-nha
và Y-pha-nho sang Nhựt mua bán, trong đám nhà nho
Nhựt, nhiều người nghiên-cứu Hán-văn
tinh-thông rồi, lại có hứng-thú nghiên-cứu
văn-tự ngoại-quốc nữa, nhứt là
học chữ Hòa-lan để xem xét y-khoa và
sự tình Âu-châu. Tuy là Mạc-phủ có lịnh
nghiêm-cấm và có nhiều người vì học
chữ ngoại-bang mà bị chết chém,
những hạng sĩ-phu óc lớn nghĩ xa
vẫn cứ mạo-hiểm mà học. Nhờ
vậy mà Nhựt-bổn đã sớm có
những người hiểu biết qua loa về
vật-lý-học và bác-vật-học của Thái-tây,
chớ không riêng văn-học mà thôi. Sự
học tiếng Hòa-lan đến cuối đời
Đức-xuyên đã thạnh-hành, lần
hồi người ta học tới Anh-văn, Pháp-văn,
Đức-văn nữa. Mạc-phủ lại
đặt ra một sở chuyên dịch sách-vở
của Tây dương, gọi là “Phiên-thư
thủ-điều-xứ,
番書取調處 ”.
Sở nầy về sau biến thành ra trường
Đông-kinh Đại-học lấy Anh-văn làm
gốc để giảng-dạy các khoa. Thế
là trước khi chưa khai-quốc duy-tân, nước
Nhựt đã biết chú ý đến ngôn-ngữ
văn-học phương-Tây rồi. Họ không
phải quá ư cố-chấp như mình đây,
đến đời Tự-đức mà sĩ-phu
ta không biết văn-học nào khác hơn văn-học
Trung-quốc. Tới
lúc mở cuộc duy-tân rồi, các nhà
học-vấn tiên-giác từng học qua một
thứ ngôn-ngữ văn-tự châu-Âu, bây
giờ ganh-đua nhau làm sách, dịch sách,
truyền-bá tứ-tung, để cho quốc-dân
mau biết những phong-tục, tập-quán,
lễ-nghĩa, chánh-trị, học-vấn của
Thái-tây. Người có công nầy lớn
nhứt là Phước-trạch
Dụ-cát, (福澤 諭吉
- Fukuzawa Yukichi)
vừa lập trường, vừa dịch sách,
vừa làm báo để rèn tập nhơn-tài cho
cuộc duy-tân và thức-tỉnh quốc-dân
về việc sanh-tồn, việc quyền
lợi. Trước mắt người Nhựt
buổi đầu duy-tân, Phước-trạch là ông thánh sống, có
sự-nghiệp giáo-dục to lớn quan-hệ như
thế nào, một chương trên kia nói về
“Dân-gian giáo-dục” tôi đã nói rõ rồi,
khỏi cần nhắc lại ở đây
nữa. Kế
Phước-trạch
(福澤 - Fukuzawa) là Tân-đảo-Tương
(新島襄-
Nijima Jou),
Trung-thôn Chánh-trực
(中村正直 - Nakamura
Masanao),
Trung-giang Đốc-giới
(中江?介-
Nakae ??)
v.v… đều là bực anh-tài có công-nghiệp
gieo mầm ngoại-quốc văn-học ở nước
Nhựt. Sau
lúc nhà vua đã bỏ chế-độ
phong-kiến và cho tứ-dân bình-đẳng,
bấy giờ người ta xôn-xao bàn-bạc
về những chuyện dân-quyền tự-do ;
đã bàn bạc vè những chuyện dân-quyền
tự-do, lẽ tất nhiên người ta hâm-mộ
sùng-bái những người như Montesquieu,
Jean-Jacques Rousseau của nuớc Pháp. Bởi
vậy, lúc Trung-giang
Đốc-giới ở Pháp-quốc về,
dịch sách “Dân-ước, Contrat
Social” của Rousseau và xướng lên thuyết
dân-quyền tự-do, làm cho nhơn-tâm rung-động
nồng-nàn. Rồi đó phong-trào dân-quyền càng
ngày càng thạnh. Năm Minh-trị 14, nhà vua
phải hạ chiếu kỳ hẹn với dân 10
năm nữa thi mở ra Quốc-dân
hội-nghị thành ra dân càng đua nhau cầu
học trí-thức thế-giới và tư-tưởng
dân-chúng càng ngày càng mới mẻ thêm. Ấy
là tình-thế vào khoảng năm Minh-trị 15, 16
trở về trước, mặc dầu tiêm
nhiễm ngoại-quốc tư-tưởng và phiên
dịch sách vở Thái-tây đã nhiều, nhưng
văn-học mới vẫn chưa thiệt
dấy lên. Duy có một hiện-tượng, là có
tân-văn tạp-chí nhơn được phong-trào
mới mà đẻ ra thôi. Là bởi nhơn-tâm
Nhựt-bổn hồi nầy đều dốc lòng
gắng sức vào việc cải-tạo
quốc-gia, cho nên sự cầu học trí-thức
Thái-tây, chỉ cốt những việc gì là
việc thiết-thực, chớ không ai rảnh
rang để thưởng ngoạn văn-học
Thái-tây cho được. Huống chi trong
khoảng 15 năm mới khởi cuộc duy-tân
nầy, số người biết ngôn-ngữ văn-tự
Thái-tây còn ít lắm ; dầu cho người
biết cũng là chưa đủ tinh-thông để
thưởng-ngoạn cái thú-vị của văn-học
Thái-tây nữa kia. Thời-kỳ
tân-văn-học mở ra thật từ năm
Minh-trị 15, 16 trở đi. Khởi
thủy là ba vị giáo-sư đại-học, Ngoại-sơn
(外山 - Sotoyama), Thi-điền-bộ
(矢田部良吉 - Yatabe Ryokichi) và Tĩnh-thượng
(井上馨 - Inoue Kaoru) in ra
lối thơ mới, gọi là “Tân-thể-thi,
新?詩 ”. Văn-học
phương Tây vang dội tới văn-học
Nhựt-bổn mở mối ra từ đó. Nguyên
là lối thi tả-tình
của Nhựt thuở trước, thông-dụng
nhứt là điệu ca bằng quốc-âm và có
tô-điểm vô những tiếng ờ đời
Trung-cổ, người ta mới cho là hay. Ba
vị giáo-sư trên đây cho lối quốc-ca
vắn quá không đủ tả hết tình-tứ
ra được ; lại còn chêm tiếng
trung-cổ vào cũng không hiệp thời
nữa. Rồi đó ba ông xúm nhau lại bắt
chước điệu thi của Tây mà đặt
ra ca, gọi là thi theo thể mới. Lại
dịch nhiều thi-ca hay của Tây-phương
cho quốc-dân ngoạn-thưởng. Về sau có
nhiều tay dịch thi-ca Tây-phương còn hay hơn
nhiều, song kể người thợ đầu
hết, chính là ba ông, vả lại người
Nhựt được rảnh rang nếm mùi văn-học
Tây-phương, và biết là cân dùng, thật
bắt đầu tự đó. Lân
hồi không mấy năm, những tay có tài phiên-dịch
đem sách của các danh-sĩ Âu-châu ra dịch
tứ-tung, nhiều nhứt là tiểu-thuyết và
bi kịch. Cervantès, Shakespeare, Fénelon (truyện Télémaque),
Daniel de Foe
(Robinson Crusoe), Goethe,
Dickens, và Alesxandre Dumas (truyện Trois Mousquetaires, người
Nhựt khoái lắm), Victor Hugo, Maupassant, Zola, Loti,
Tolstoi Jules Verne, văn-chương
tiểu-thuyết của các ông nầy đều
dịch hết ra tiếng Nhựt và người
Nhựt ngoạn-thưởng hoan-nghinh đáo
để. Triết-học thì họ dịch
từ Platon cho đến Rousseau, Kant, Schopenhager,
Auguste Comte, Stuart Mill và nhứt là Herbert Spencer. Lúc
đang nói chuyện đây, văn đàn mới
ở nước Nhựt, có hai phái đứng
đối nhau đánh trống phất cờ tân-văn-học
: Một
là phái thanh-niên văn-khoa học-sanh ở trường
đại-học Tảo-đạo-điền ;
giáo sư văn-khoa của trường nầy là
Bình-nội Tiêu-dao (坪内??
- Tsuboi ??), một nhà lãnh-tụ
trên đàn văn-học mới, rất tinh-thông
Anh-văn, thường đem văn-học nước
Anh dịch-thuật giới-thiệu cho
học-giới Nhựt-bổn. Thọ-nghiệp
với ông lúc bấy giờ, có nhiều thanh-niên
học-sanh còn đang ngồi trên ghế học
đường mà đã viết
tiểu-thuyết và soạn kịch, tài hoa
nổi tiếng. Hai
là hội “Nghiễn-hữu-xã,
硯有社 - Gen-Yu
Shya" tụ họp những người
kiện tướng của tân-văn-học, người
dịch sách nước nọ, người
dịch sách nước kia, gần có đủ
mặt : nhà phê-bình có, nhà sáng-tác có, nhà văn-học-sử
có, một thời hoạt-động vang dậy
trên đàn học mới. Ngoài
ra có hai lằn sóng, tuy chống-chõi nhau, mà đều
có ích cho cuộc tấn-hóa của
Nhựt-bổn mới kỳ. Một
là lằn sóng sùng-bái Tây-phương. Một
là lằn sóng tỏ rạng quốc-túy. Năm
Minh-trị 20, Đức-phú
Tô-phong (徳富蘇峰-
Tokutomi Sohou)
mở ra tạp-chí đặt tên là “Quốc-dân
chi-hữu, 国民之友-
??”
đem các vấn đề văn-học, tôn-giáo,
phong-tục ra bàn bạc một cách rộng rãi
ngang tàng, nhiều bài viết văn lập
luận rất kỳ, cốt đem văn-học
Tây-phương vô nước Nhựt, và chú ý
về văn-nghệ mới lạ. Trong báo ấy
đầy dẫy bài vở hoặc sáng tác,
hoặc phê-bình, hoặc dịch-thuật, bài nào
cũng có vẻ làm rung-động tai mắt người
trong nước giữa lúc muốn đạp
đổ văn-học cũ, dựng lên văn-học
mới. Đức-phú
Tô-phong là tín-đồ
đạo Gia-tô, cho nên ông ta nghị-luận
về các vấn-đề tôn-giáo, chánh-trị,
dân-quyền nhứt nhứt đều có
chủ-nghĩa khuyên-bảo người ta sùng-bái
Tây-phương. Những
người chống-cự chủ-nghĩa ấy
bèn mở ra tạp-chí đặt tên là
“Nhựt-bổn-nhơn 日本人 -
Nipponjin”,
lấy chủ-nghĩa phát-dương
quốc-hồn quốc-túy làm gốc. Họ nói văn-minh
Tây-phương cũng còn có nhiều chỗ
thiếu-sót, chớ phải hoàn-toàn tốt đẹp
gì sao ; chẳng qua chỉ có võ-lực là hơn,
vì lẽ thời thế sanh tồn, mình bắt chước
người ta thì bắt chước, nhưng không
thể nào lãng quên hay là bỏ hẳn những cái
tinh-túy của văn-minh Đông-phương mình
đi được. Trong
mấy năm Minh-trị từ 20 đến 23, 24,
hai lằn sóng trên đây đều có ảnh-hưởng
rất hay cho tư-tưởng Nhựt-bổn.
Một mặt nầy có chủ-nghĩa Âu-hóa
rần-rộ thạnh hành, một mặt kia có
tinh-thần quốc-túy nổi lên chống
lại. Té ra những người từ
Minh-trị buổi đầu tới đây, chuyên-chú
xem xét văn-vật phương-Tây, chừng rõ
biết được hết sự-tình của
người ta rồi, trở lại giựt mình
vì chỗ việc gì mình cũng nhắm mắt
theo càn là bậy. Vì sự thiệt chính mình cũng
có nhiều cái hay. Đó
là chỗ tự-tỉnh của quốc-dân
Nhựt-bổn, nhờ sự tự tìm biết cái
hay của người đánh thức dùm sự
biết cái hay của mình. Hai
lằn sóng nầy điều-hòa lại với
nhau, khiến cho người Nhựt tấn-hóa
một cách có lương-tri sáng suốt, và công-nghiệp
duy-tân đến đó mới thiệt là chín
chắn. Trên
kia nói hai lằn sóng đều có ích cho cuộc
tấn-hóa của Nhựt-bổn là vậy đó.
Còn một việc hiển-nhiên khác nữa. Buổi
đầu duy-tân, người trong nước
ham-mê vồ-vập văn-minh Tây-phương quá
đỗi, tới nước quên mất không
nhớ lại rằng Đông-phương có
một nền mỹ-thuật có vẻ tốt
đẹp riêng, đáng quý đáng giữ. Thành
ra bao nhiêu những bức tranh vẽ khéo,
những đồ chạm trổ quý-báu công-phu,
chính là vật báu của Nhựt mà người
Nhựt đem bán rẻ cho người Âu Mỹ
đem đi gần hết, chẳng biết
tiếc là gì. Đến những miễu thần
chùa Phật đồ quý vật xưa, có
quan-hệ về lịch-sử lâu đời, người
ta cũng để cỏ mọc rêu phong, trôi sông
bỏ xó, không thèm sửa sang gìn-giữ. Tới
chừng có chủ-nghĩa phát-dương
quốc-túy nổi lên phừng phừng, bấy
giờ người ta mới sực tỉnh,
biết rằng văn-vật phương Tây có
những cái đáng theo thì theo, nhưng mà văn-vật
phương Đông mình cũng có những cái hay
phải nên giữ-gìn quý-trọng mới
được. Rồi đó, nhiều môn
nghệ-thuật riêng, mỹ-tục riêng, ví
dụ như múa kiếm, đánh vật, trồng
hoa, múa nhạc, uống nước trà v.v… hai mươi
năm tấm lòng quá chuộng văn-minh Tây-phương
cho khinh thường xem rẻ đi, bấy
giờ nó lại lần hồi khôi-phục cho
tới ngày nay.
Đến
văn-học cũ cũng vậy, bị người
ta phế khi mấy chục năm, tới đây
có những người trở lại biết cái
thú-vị văn-học xưa của mình, bèn tom
góp lựa lọc lấy tinh-túy cựu-văn-học
mà dung-hòa bằng tư-tưởng mới
của Tây-phương. Thành ra họ nhồi
cả văn-học Đông tây lại một
cục, để nắn ra văn-học mới.
Vẫn biết là văn-học mới đó có
nhờ Tây-phương văn-học chế hóa
cho nhiều, nhưng ở bên trong vẫn có
tinh-hoa đặc-sắc riêng của mình một
phần. Thế
thì về văn-học cũng như về quân-bị,
kinh-tế, chánh-trị, công-thương, nếu
người Nhựt Âu-hóa là chỉ muốn cho
được giữ y tánh-cách đặc-biệt
của mình. Đây, tôi muốn mượn câu
của giáo-sư Félicien Chatlaye làm câu kết
đoạn nầy : “ “Ai tưởng về
mặt văn-chương, người Nhựt
muốn biến thành Âu-hóa, thật là tư-tưởng
lầm lắm đó”. * NHỰT-BÁO
TẠP-CHÍ. - Nếu ai muốn bỏ hết các
việc cải-cách khác của Nhựt-bổn, mà
chỉ xem nội một khoản báo-chí thôi, cũng
đủ thấy bước đường duy-tân
người Nhựt dung ruổi mau lẹ đến
thế nào. Từ lúc mới khởi duy-tân
trở đi, chưa đầy hai chục năm,
báo-chí của họ đã có cơ
sắp-sửa ngang vai chen gót với
sự-nghiệp ấy của Âu Mỹ rồi.
Chẳng bù với báo-chí xứ mình đẻ ra
có lẽ trên ba mươi năm mà vẫn còn là
thằng trẻ nít : một tờ báo chạy
nhứt ở tỉnh-thành lớn xứ mình chưa
bằng tờ báo nhỏ ở một xó châu-quận
người ta. Trong
lúc bắt đầu khai-quốc, nghĩa là lúc
chánh-quyền còn về tay Mạc-phủ, bị
đề-đốc Bá-lý tới ra oai buộc
phải mở cửa thông-thương, đám chí-sĩ
Nhựt-bổn đã dựng lên ít nhiều cơ
quan ngôn-luận để thúc-giục nhà nước
phải mau duy-tân cải cách. Những báo nầy
còn in chữ khắc bằng cây và chỉ ra
mỗi tháng hay mỗi tuần một số, cách-thức
biên-tập sắp-đặt tờ báo còn lôi-thôi
lắm. Lúc
nầy cả thảy gồm chục hiệu báo-chí
chớ không phải ít, nhưng báo nào cũng
khốn-khổ về đồng tiền eo
hẹp, thành ra không mấy tờ đứng
vững. Ông Henri Dumolard, tác-giả
cuốn “Le Japon politique, économique et social” (Paris,
Colin 1903) thuật lại một chuyện nghe
tức cười chết : “Có báo
xuất-bản hai năm rồi vì hết tiền
vốn mà phải đóng cửa, là vì trước
sau chỉ vỏn vẹn có hai vị độc-giả
mà thôi”. Bước
qua thời-đại Minh-trị duy-tân, còn sót
lại năm ba tờ tuần-báo nguyệt-san,
trong đó chỉ có báo “Giang-hồ tân-văn 江湖新聞 -
Koko shinbun”
ra vẻ đặc sắc hơn hết. Nhưng
vì mỗi số báo ra, bài nào cũng xâm-xoi công-kích
hai cường-phiên Tát-ma và Trường-châu làm
cho chánh-phủ tức mình sanh ghét, rồi cấm
xuất-bản, lại bỏ tù viên chủ-bút báo
ấy. Trước giờ chánh-phủ chưa nghĩ
đến sự kềm-chế các báo, nay mới
thấy sự đó là cần, bèn ra lịnh
buộc tờ báo nào cũng phải xin phép nhà-nước
cho ra mới được, bài vở nếu
thả giọng bạo-động quá thì
chủ-nghiệm chủ-bút ở tù. Mãi
tới năm Minh-trị thứ 4 (1871),
Nhựt-bổn mới có tờ báo hằng ngày
thứ nhứt xuất-bản, là “Đông-kinh
Hoành-tân mỗi nhựt tân-văn 東京横浜新聞
- Tokyo Yokohama shinbun”, bắt đầu
dùng chữ chì của người Nhựt tự
đúc lấy (thử coi sớm chưa !) và in
bằng máy in đặt mua ở Âu-châu. Từ
việc biên-tập, việc in, việc bán,
sắp-đặt đã khá chỉnh-bị. Báo
nầy chẳng những làm ông tổ
nhựt-báo mà thôi, lại làm khuôn-mẫu cho
những báo hằng ngày khác kế theo nữa. Qua
năm sau, 5 tờ báo hằng ngày lớn nối gót
nhau ra đời : Đông-kinh
nhựt nhựt tân-văn
東京日日新聞 Bưu-tiện
báo tri tân-văn
郵便報知新聞 Triều-giã
tân-văn
朝野新聞 Độc-mãi
tân-văn
読売新聞 Thự
tân-văn 曙新聞 Mỗi
tờ bày tỏ một chánh-kiến, hoặc
muốn tấn-hóa lần hồi, hoặc đòi
duy-tân cấp-bách, mà tờ nào cũng có một
vài tay danh-nhơn chí-sĩ chấp bút, đua nhau
bút-chiến tung-hoành, có ảnh-hưởng đến
thời-cuộc một cách sâu xa, lừng
tiếng là “Ngũ-đại
tân-văn 五大新聞
- Godaishinbun”,
chánh-phủ cũng phải kiêng nể. Từ
năm Minh-trị thứ 4 đến thứ 8, trước
sau 5 năm, mà nhựt-báo, tuần-báo, tạp-chí
dựng lên đến hơn 100 nhà. Sự
tấn-bộ của báo-giới Nhựt phát-khởi
đã mau mà rồi ngày càng tấn-tới mau
lẹ dị thường. Trong sự
tấn-bộ đó, nhiều chỗ bày tỏ ra
công-phu nhơn-lực mới quý. Thử xem
một chuyện phát báo cũng biết. Các báo
ban đầu đều in ra buổi trưa ;
việc phát-hành đã có xe hơi xe đạp gì
đâu, người ta chia nhau thủng thẳng
đưa tay đến tận mỗi nhà độc-giả.
Mấy anh đưa báo còn khệnh-khạng,
chần chờ, đến mỗi nhà, ngồi
uống chén nước trà, nói chuyện tán-tỉnh
con ở ngộ-nghĩnh nhà người ta chê chán
rồi mới chịu đem báo đến nhà khác
cũng vậy, thành ra báo ra buổi trưa mà
sự phát-hành kéo mãi đến khuya mới xong.
Mỗi nhà báo phải mướn cả trăm người
đi phát tay như thế. Tội-nghiệp có nhà
báo mướn hạng người đó không
đủ, thì chính các ông trợ-bút tự đem
phát lấy ; báo để trong tay áo “kimono” rút
ra mà đưa mỗi nhà. Từ
hồi báo-giới Nhựt-bổn tạo-lập
ra đến lúc đang nói đây, tuy là đủ
môn nọ loại kia và cách sắp-đặt cũng
gọi là tấn-tới mới mẻ khá rồi,
nhưng người ta chỉ ham bàn chánh-trị,
sính múa văn-chương, chớ tờ báo chưa
có tư-bổn tranh-cạnh xen vô, chưa có tánh-chất
thương-mãi, cũng chưa có màu mè
mỹ-thuật. Có
chăng, là từ tờ “Đại-bản Triều-nhựt tân-văn
大阪朝日新聞
- Osaka Asahi shinbun,
Asahi-Osaka” ra
đời trở đi. Thiệt
vậy, lúc đầu chỉ là đám người
văn-gia chí-sĩ chung đậu tiền bạc
làm báo với nhau thôi, nhà tư-bổn chưa bước
vô cõi tân-văn. Đến năm Minh-trị 12, có
“Đại-bản
Triều-nhựt tân-văn” mở ra, làm
được vài năm rồi về tay Thôn-sơn Long-bình
( 村山龍平
- ?? )
kinh-doanh, bấy giờ báo-giới mới
bắt đầu có tánh-chất tư-bổn. Mà
từ đó báo-giới mở-mang rộng
lớn, phải nhờ có sức tư-bổn như
các công-cuộc kinh-doanh lớn lao khác vậy. Thôn-sơn
Long-bình là nhà giàu,
không phải tay biết cầm bút viết văn
nhưng mà biết cách làm một tờ báo
thế nào cho được nhiều người
ham đọc, cần đọc, phải đọc.
Ông ta xuất một số tiền thật
lớn để làm báo, chú-trọng nhứt là
thông báo tin-tức làm sao cho mau lẹ, bèn dồn
cả toàn-lực vào cơ-quan thông-tin, bày ra nào
là điện-tín trong nước ngoài nước,
nào là thông-tín-viên đặc-phái (correspondants spéciaux),
để cho việc báo tin thật là mau chóng,
dầu hao tốn bao nhiêu tiền cũng mặc. Tư-bổn
cạnh-tranh trong làng báo mở mối ra từ
đây. Mấy
tờ báo khác, thấy tiếng tăm của “Đại-bản
Triều-nhựt tân-văn” mỗi ngày bay lên
cao như diều, cũng lấy sức tư-bổn
ra để tranh-cạnh, tiền bạc họ xài
ra như nước, cầu lấy tin mau, in đẹp,
báo lớn, bài nhiều. Nhưng phần đông vì
sự tranh-cạnh quá lố, đến phải
đuối hơi trút túi mà chết. Duy có tờ
“Đại-bản
Mỗi-nhựt tân-văn
大阪毎日新聞
- Osaka Mainichi Shinbun” là
đứng lại tranh-cạnh nổi mà thôi.
Họ tranh-cạnh luôn mỗi giờ, mỗi ngày,
mỗi tháng, mỗi năm, từ lúc ấy cho
đến bây giờ, chính là hai tờ báo
hằng ngày, lớn nhứt nước Nhựt.
Sau đây có một đoạn riêng, nói về
thủ-đoạn cạnh-tranh ghê gớm của
hai nhà báo “Triều-nhựt
- Asahi”
và “Mỗi-nhựt
- Mainichi”
ra thế nào ? Giờ để nói chuyện
tuần-tự về lịch-sử báo-giới
đã. Đến
năm Minh-trị 23, nhà vua ban-bố Hiến-pháp và
mở Chúng-nghị-viện ra rồi, báo-giới
càng thêm phát-đạt và có thanh-thế về
mặt chánh-trị. Người ta nói lúc Sau
cơ-hội trên đây là cơ-hội giúp cho báo-giới
bước cao lên một bước, tới
trận Nhựt-bổn đánh nhau với nhà Thanh
nước Tàu (1894), báo-giới nhờ đó tăng
số độc-giả lên xấp đôi.
Nhiều báo vì lẽ doanh nghiệp lợi
tiện mà lập thêm chi-nhánh riêng hai nơi : ví
dụ “Triều-nhựt” và “Mỗi-nhựt”
ở Đại-bản, lại lập ra tòa báo
“Triều-nhựt”
và “Mỗi-nhựt”
ở Đông-kinh nữa, nơi nào in riêng tờ
báo tại nơi đó. Nếu Đông-kinh là
kinh-đô chánh-trị, thì Đại-bản là
kinh-đô công-nghệ. Muốn cho sự phát-hành
mau chóng, khỏi mất công gởi đi gởi
lại lâu lắc lôi thôi, hai tờ báo lớn
mới xuất-bản hai nơi như thế. Mà
nơi nào xuất-bản cũng ghê, “Triều-nhựt”
in ra 370.000 tờ ở Đại-bản và 180.000
ở Đông-kinh, hiệp cộng 550.000 tờ. “Mỗi-nhựt”
cũng xuất-bản cả hai nơi gần
gần số ấy. Đó là nói số in hồi
duy-tân trải qua Nhựt Nga đại-chiến
cho đến Âu-châu đại-chiến mà thôi.
Chớ bây giờ hai tờ báo nầy in nhiều
mấy lần hơn và kình-địch với báo
Anh Mỹ kia. Độc-giả sẽ thấy
một đoạn nói riêng. Trong
khi tân-văn phát-đạt tấn-tới lạ
lùng như thế, thì tạp-chí cũng không
vừa gì. Khoa-học, chánh-trị, giáo-dục,
triết-học, mỹ-thuật, phụ-nữ, tôn-giáo
v.v… môn loại nào cũng có tạp-chí riêng
để kêu gào, để giảng dạy, để
dìu dắt người ta. Kể tới năm
1905, nghĩa là từ ngày Minh-trị bắt đầu
duy-tân đến đây được 38 năm,
các thứ tạp chí khắp nước Nhựt
đến số 1.500 hiệu, mà riêng ở Đông-kinh
có 380 hiệu. Độc-giả là phụ-nữ
và học-sanh nhiều nhứt,
thực-nghiệp-giới ở bực thứ. Cũng
kể tới thời-kỳ nói trên đây,
khắp nước Nhựt, số báo hằng ngày
lớn nhỏ trên 700 nhà. Thời-gian không bao lâu
mà báo-chí mở-mang phát-đạt đến
thế, thật là tột-bực vậy. THỬ
XEM SỰ CẠNH-TRANH CỦA HAI TỜ BÁO LỚN
NHẤT. - Ấy là báo “Triều-nhựt”
và “Mỗi-nhựt”
như trên kia đã nói. Cả
hai đều có lịch-sử trường-cửu
gần sáu chục năm nay, chẳng những là
báo lớn ở nước Nhựt hay là ở phương
Đông nầy thôi, lại đứng vào hàng
một số ít tờ báo lớn nhứt trong
thế-giới nữa. Tôi
muốn để một đoạn riêng nói
về lai-lịch và sự-nghiệp kinh-doanh
của hai tờ báo nầy nhứt là về “Triều-nhựt” nhiều hơn. Báo
“Triều-nhựt”
sáng-lập ở Đại-bản (Osaka) ngày 25 tháng
giêng năm 1879 (Minh-trị thứ 12). Lúc đầu
báo quán chỉ là một cái nhà bé nhỏ,
bởi là cơ-quan của văn-sĩ chung nhau,
chớ chưa có nhà tư-bổn xen vô. Đã
nói hồi Minh-trị bắt đầu duy-tân, không
có một thứ văn-hóa nghệ-thuật nào
của Tây-phương mà người Nhựt
họ không bắt chước ; bởi vậy
nghề làm báo của Tây-phương cũng phát-hiện
ở nước Nhựt một cách mạnh
bạo lớn lao như muôn vàn nghề-nghiệp
khác. Nhưng lúc bấy giờ có nhiều tờ
báo dựng lên rồi đổ ụp xuống
liền, là vì có nhiều nổi khó khăn gay
trở ; nhứt là vì mặt tài-chánh làm cho
thất-bại nhiều hơn hết ; duy chỉ
có báo “Triều-nhựt” chống-chõi và qua lọt
được cái cầu khó khăn gay trở
đó. Từ
năm 1885, báo “Triều-nhựt”
ở Đại-bản dời về chỗ báo-quán
bây giờ, song lúc ấy nhà-cửa, máy-móc và cách
sắp-đặt cũng còn lôi-thôi sơ sài,
chớ đâu phải được như ngày
nay. Mãi đến năm 1890, kiểu máy in mới
của nước Pháp chế-tạo ra, hiệu
Marioni, truyền qua Nhựt-bổn ; chừng đó
nghề làm báo ở Nhựt-bổn mới bước
vào cõi tấn-hóa mới mẻ. Hai
trận chiến tranh Trung Nhựt (1894)
và Nhựt Nga (1904-1905) cùng là vụ loạn
Quyền-phỉ ở Bắc-kinh, đều là
những cơ-hội tấn-phát lạ lùng cho báo
“Triều-nhựt”. Mấy lúc có chiến-tranh
đó, báo đều phái đi từng đoàn
phỏng viên ra tới chiến-trường để
lấy tin và chụp hình. Bọn phỏng-viên
nầy cố sức làm cái chức-vụ thông-tin,
lăn lóc vào giữa chỗ rừng gươm mưa
đạn, lắm khi tánh-mạng nguy hiểm
rất mực, mà họ cũng không kể gì,
cứ việc liều mình lấy tin cho được
mới thôi. Một nhà báo có những phỏng-viên
như thế, thật không có cách quảng-cáo nào
cho bằng và không thế nào không phát-đạt
cho được. Chính nhờ vì đó mà báo “Triều-nhựt”
càng ngày càng tấn-tới phi thường,
được quốc-dân hoan-nghinh tin cậy
lắm. Từ lúc ấy trở đi, số độc-giả
càng ngày càng tăng, báo “Triều-nhựt” càng thấy sự sắp-đặt
của mình về mặt vật-chất
nội-dung còn thiếu sót nhiều ; vả
lại, cần phải cạnh-tranh với báo “Mỗi-nhựt” (Mainichi, cũng ở Đại-bản)
dữ lắm, thành ra báo “Triều-nhựt”
hết sức mở-mang. Sự cạnh-tranh
của hai nhà báo nầy, làm cho báo giới
Nhựt-bổn leo lên một cái trình-độ
rất cao, ngang hàng với báo-giới Huê-kỳ,
chớ báo-giới Âu-châu không bì kịp đâu. Năm
1915, báo “Triều-nhựt”
cất nhà báo mới, cao 8 từng lầu,
thật là nguy-nga rộng-rãi, mà chỉ dựng có
một năm là xong. Đồng-thời
lại mở-mang các cơ-quan và khí-cụ in báo,
thông-tin, thứ nào cũng tân-thời hết
thảy. Báo
nầy lúc khởi thủy là của một
số anh em đồng chí viết văn nhà
nghề, chung nhau lập ra ; vài năm sau, nhà tư-bổn
Thôn-thượng Long-bình
(Marayama Ruyhei) xuất vốn mua lại làm chủ
một mình, ra sức mở-mang, càng ngày càng
lớn, về vật-chất và tinh-thần cũng
vậy. Cho đến năm 1919 trở đi,
mới đổi ra công-ty hữu-hạn, số
vốn đến 4 triệu viên, nhưng vẫn Thôn-thượng
làm xã-trưởng. Thôn-thượng
nổi tiếng là “vua báo” ở nước
Nhựt, cũng như Lord Nortcliff
ở Hồng-mao mười năm trước và
Hcarst ở Huê-kỳ bây
giờ vậy. Vua báo Nhựt-bổn mới qua
đời năm 1933, thọ 85 tuổi. Nhà
báo “Triều-nhựt”
ở Đại-bản và ở Đông-kinh cũng
vậy, xem hình thấy cảnh đồ sộ
lạ thường, ta có thể tưởng-tượng
rằng nhà băng Đông-Pháp ta ở Saigon
chỉ bằng phần nửa thôi. Bề
ngoài đã vậy, cách-thức sắp-đặt
làm việc bề trong nhứt nhứt theo kiểu
tối-tân, không thiếu một sự cần-dùng
gì cho nghề-nghiệp mà trong tòa báo không có.
Đại-khái từng lầu thứ nhứt là
bộ doanh-nghiệp (ta gọi là ty quản-lý) và
nhà in ; từng thứ hai là phòng việc của
ông xã-trưởng (ta gọi là chủ-nhiệm)
cùng các cơ-quan viên-chức thuộc về
phần ổng ; tòa soạn cũng ở từng
nầy, lại có một phòng hội-nghị
rất lớn. Từng thứ ba là nơi tiếp
khách, có viện đồ-thơ, có phòng âm-nhạc.
Từng thứ tư có hàng cơm và những phòng
riêng cho các trợ-bút và phỏng-viên nằm
nghỉ ; lại có nhà tắm cho họ nữa
v.v… Còn trên nóc nhà có sân rộng để cho
thầy thợ trong tòa báo lên tập thể-thao
mỗi ngày, và có chuồng nuôi 300 con chim bồ câu
dùng vào việc thông-tin hay đem bài từ Đại-bản
lên Đông-kinh cho nhà báo Triều-nhựt
chi-quán ở đây. Các máy-móc in báo và làm hình
đều đặt trong hầm nhà ở dưới
chót hết. Tòa
báo có ga-ra xe hơi riêng, lúc nào cũng có mấy
chục chiếc xe hơi sẵn sàng, để
cho các trợ-bút và phỏng-sự đi làm công
việc nghĩa-vụ. Ngoài ra, còn có sân máy bay riêng
và muời mấy cái phi-cơ, cũng dùng vào
việc thông tin-tức. Máy
in báo Triều-nhựt
toàn là kiểu máy tối-tân như ở bên
Mỹ, mỗi giờ có thể in ra 8 muôn tờ.
Hiện thời, trong nhà báo Triều-nhựt
có 17 bộ máy kiểu đó, cho nên mỗi
giờ in được 1 triệu 36 muôn tờ
trở lên. Kể
số người làm ở tòa-soạn, ở nhà
in và ty quản-lý bây giờ có đến 1.756
người, riêng phần tòa-soạn, vừa
trợ-bút, vừa phỏng-viên, kể có 400 người
rồi. Năm chục năm trước, hồi
báo Triều-nhựt
mới lập ra, võn vẹn chỉ có 20 người
làm, thế mà trải qua có nửa thế-kỷ,
báo ấy mở-mang phát-đạt cho tới có
số người làm đông đảo như
thế, thật là một sự tấn-bộ
lạ lùng lắm vậy. Những
thợ nầy làm việc trong báo Triều-nhựt, hình như mỗi người
đối với nhà báo đều có cảm-tình
gắn bó và có lòng tín-ngưỡng cao xa, đến
đỗi họ cặm cụi giúp việc
nhà báo một cách thành tâm tận lực, chớ
không mấy ai chịu bỏ đi làm nơi khác.
Theo số điều-tra tới cuối năm
rồi, thì trong nhà báo Triều-nhựt,
số người làm việc lâu bền 20 năm
trở lên, có ngoài 50 người ; còn có
nhiều người giúp việc ròng rã trên 40 năm
nữa. Báo
Triều-nhựt thường
ngày xuất-bản buổi sáng 8 trương
lớn, buổi chiều 4 trương ;
nội-dung chú-trọng về công việc
tin-tức trong xứ trước, rồi bàn
rộng tới công việc tin-tức khắp các
nước Âu Mỹ. Bởi vậy, phàm là
những nơi đô-hội kinh-thành lớn trong
thế-giới, báo Triều-nhựt
đều có đặt thông-tin riêng. Trong
số báo mỗi ngày, trừ tin-tức ra, các
vấn-đề chánh-trị, kinh-tế, giáo-dục,
mỹ-nghệ, thể-dục v.v… mỗi vấn
đề có một địa-vị riêng, châu-đáo
hoàn-toàn lắm. Cầm tờ báo coi cách in
của họ tốt đẹp kỹ-lưỡng
quá : chữ Hòa-văn (
和文) (nghĩa
là chữ Nhựt có xen chữ Tàu vô) sắp
nhỏ như con muỗi, vậy mà nét in rõ ràng
sạch sẽ hết sức, không có một chút
nào có thể chê được. So sánh một
tờ báo Nhựt với một tờ báo Tàu vào
hạng tốt nhứt, như Thân-báo
ở Thượng-hải, sự khác xa nhau kể
trời với vực. Người Nhựt tự
chế ra được cái máy sắp chữ theo
kiểu Monotype của
Âu Mỹ để sắp chữ Hòa-văn. Báo Triều-nhựt
vừa sắp chữ theo lối thường,
vừa dùng máy sắp chữ kiểu riêng nói
đây. Không
phải báo Triều-nhựt
chỉ phát-hành ở Đại-bản và ở
Đông-kinh mà thôi, họ còn phát-hành những
tờ báo địa-phương, rải rác có 29
nơi ở trong nước, mà nơi nào cũng
mang cái tên báo đó và có máy in riêng cả. Gặp
khi có việc biến-động gì quan-hệ, ví
dụ như lúc Nội-các thay đổi, tức
thời báo Triều-nhựt
in ra số báo đặc-biệt (numéro spécial),
rồi cho mười mấy chiếc phi-cơ
của nhà báo bay đi phân-phát khắp các
phủ huyện. Họ cốt làm cho tin-tức thông
báo, cực kỳ mau lẹ hoàn toàn. Đội
phi-cơ của nhà báo phải bay đi ban đêm
là sự thường lắm. Ngoài
ra số báo mỗi ngày, nhà báo Triều-nhựt còn xuất-bản nhiều
thứ tuần-báo, về chánh-trị, về
kinh-tế, về thể-dục, về
phụ-nữ, về nhi-đồng, về
nghệ-thuật ; còn có những tạp-chí
mỗi tháng ra một kỳ và mỗi mùa, mỗi
năm cũng có một hiệu tạp-chí riêng
nữa. Ấy là các báo bằng chữ Nhựt.
Muốn làm quảng-cáo cho nước Nhựt
khắp trong thế-giới, báo Triều-nhựt
phát-hành mấy thứ tuần-san tạp chí
bằng chữ Anh, để gởi tặng các nước
ngoài. Chắc ít người mình được
ngó thấy mấy thứ báo nầy ; ai ngó
thấy tất phải ghê sợ cách in của
Nhựt-bổn khéo léo tốt đẹp lạ lùng.
* Luôn
dịp, tưởng nên nói qua cho biết sự
cạnh-tranh của mấy tờ báo lớn ở
Nhựt ra thế nào ? Hai
báo Triều-nhựt
và Mỗi-nhựt
(1) cạnh-tranh nhau từ ly từ chút, không ai
chịu thua ai ; nhưng họ cạnh-tranh một
cách vĩ-đại, hùng-hồn, chớ không
phải cạnh-tranh bằng những ngón
tiểu-nhơn đâu. Ví dụ năm 1914, báo Mỗi-nhựt
cất tòa báo cao 5 từng, thì năm sau, báo Triều-nhựt
dựng lên báo-quán cao ngất 8 từng. Hay là năm
1924, Mỗi-nhựt
phái một chiếc thủy-phi-cơ bay khắp nước
Nhựt để cổ-động cho báo ;
tức thì Triều-nhựt
cho một chiếc phi-cơ cất cánh bay ngang Si-bê-ri
(Sibérie) và Nga-quốc rồi tuốt xuống
tới kinh-thành Ba-lê nước Pháp, để
chụp hình và điều-tra về phong-cảnh
nhơn-vật. Mỗi-nhựt
tức mình quá, vì thấy mình làm gì, Triều-nhựt
cũng làm cho hơn, Mỗi-nhựt
bèn mua một lúc năm chiếc máy bay dùng làm
quảng-cáo, không dè mấy hôm sau, Triều-nhựt sắm 10 chiếc máy bay dùng
để đem tin và chở báo đi lại
trẹn không-trung từ Đại-bản lên
Đông-kinh. Hai
báo ganh hơi tức khí nhau đến đỗi
nhà báo nào cũng in ra một số báo riêng để
cho dân mù đọc. ----------------- (1)
Người sáng-lập báo Mỗi-nhựt
(Mainichi) là Bổn-sơn Ngạn-nhứt (Motoyama
Hikoichi) cũng tạ-thế hồi năm 1933. Cuộc
cạnh-tranh từng nước của hai tờ báo
nầy, có kết-quả rất hay cho địa-vị
báo-giới Nhựt-bổn được cao thêm
lên hoài và người đọc báo được
hưởng những sự lợi-ích mới
mẻ về mặt kiến-văn tin-tức luôn
luôn. Vì
lẽ cạnh-tranh, nhà báo nào cũng quăng
tiền bạc ra như rác, không hề thập thò
tiếc rẻ, miễn có tin-tức mau chóng mà thôi.
Tức như hồi năm 1923, có nạn động-đất
dữ-dội ở thành Đông-kinh, ai nấy còn
nhớ ; kỳ đó báo Mỗi-nhựt
xài hết tới 440.000 viên, là tiền phái người
đi điều-tra chụp hình và tiền đánh
giây-thép về nhà báo ở Đại-bản. Sợ
dùng những phương-pháp thông tin thường
dùng, e có khi bị chậm-trễ hay hư-hỏng
gì chăng, nên chi hai nhà báo cạnh-tranh, đều
đặt ra nhà máy vô-tuyến-điện riêng,
rất là hoàn-toàn và nuôi nhiều chim bồ-câu
giúp việc cho các nhà phỏng sự thông-tin. Hồi
năm 1926, Đại-chánh Thiên-hoàng lâm bịnh,
hai báo Triều-nhựt, Mỗi-nhựt cạnh-tranh về cách thông-tin
mới ghê. Ngay lúc bịnh vua chưa lấy gì làm
trầm-trọng lắm, hai báo đã mướn
nhà ở gần hoàng-cung để cho phỏng-viên
của mình ở luôn đêm ngày, dò la tin-tức.
Phỏng-viên hai báo giấu lén nhau ngộ quá,
đến nỗi báo nầy tưởng báo kia không
biết làm cách mướn nhà ở dọ tin như
mình. Trong nhà đó, họ đặt máy nói, máy
điện-báo và sửa-soạn máy chớp bóng
sẵn sàng ; lại dự-bị những máy bay,
những xe mô-tô, chim bồ-câu, để bất
cứ giờ khắc nào, hễ phỏng-viên có bài
vở hình-ảnh gì, tức-thời gởi
về Đại-bản cho nhà báo in liền. Chỉ
vì nghe ngóng bịnh-tình của vua, mà báo Triều-nhựt
phái đi tới số 60 người ở bên hoàng-cung
ròng-rã 4 tháng, kể cả trợ-bút, phỏng-viên,
cùng là sốp-phơ, loong toong và đầy-tớ
của họ đem theo hầu-hạ nấu ăn
nữa. Báo Mỗi-nhựt cũng phái đi một số người
đông như thế. Hai báo làm vậy là chỉ
cốt tranh nhau đăng tin-tức về
bịnh-tình Thiên-hoàng cho được sớm hơn
các báo độ mươi lăm phút đồng-hồ
thôi. Coi
một việc mà họ phái đi nhiều người
như vậy, đủ biết số người
phục-dịch của mỗi nhà báo đông
đến thế nào. Số người làm trong
báo Triều-nhựt
trên kia đã nói ; còn số người làm
của báo Mỗi-nhựt
còn đông hơn : cả thảy 2.465 người,
trong đó có 405 trợ bút. Cách tổ-chức bên
trong của báo nầy đại-khái cũng như
báo kia. Huê-lợi
của hai báo đều lấy tiền lời rao
và số báo bán ra làm gốc. Mỗi năm
họ thâu-nhập về hai khoản đó
lối 10 triệu tới 14 triệu. Trừ
mọi việc chi-phí rồi, năm nào mỗi báo
cũng được lời 2 triệu viên. Người
làm hai nhà báo nầy lương bổng khá
lắm. Chủ-bút báo Mỗi-nhựt
có số lương mỗi năm tới 30.000 viên,
chớ số lương quan thượng-thơ
chỉ có 12.000, và lương quan tri-sự
mỗi phủ huyện (cũng như
chủ-tỉnh hay tổng-đốc mỗi
tỉnh ở nước mình) có 7.000 thôi. Khỏi
phải nói rõ, chắc độc-giả cũng lượng
biết những cơ-quan ngôn-luận ở
Nhựt-bổn tổ-chức một cách lớn
lao, mới mẻ, trọn vẹn như tờ báo
nói đây, tự-nhiên có ảnh-hưởng
tốt đẹp cho văn-hóa, cho dư-luận
đã đành, lại còn có thế-lực
lớn đối với chánh-trị trong nước
nữa. Đến
thế-kỷ nào, nước Nam mình mới có
một tờ báo như Triều-nhựt
hay Mỗi-nhựt ? NGHỀ
IN TẤN PHÁT CŨNG GHÊ. - Lấy thời-gian và công
việc mà so sánh thử chơi, cùng là khoảng
đường 30 năm, kể từ chỗ
cất bước phát đi, nghề báo nghề
in ở nước Nhựt chạy bằng hai
cặp giò con thỏ, còn nghề in nghề báo
của mình đi chậm quá con rùa. Nói
là 30 năm, chớ sự thiệt chưa hết
cái thời-gian ấy thì sự-nghiệp báo-chí và
xuất-bản của người Nhựt đã
sắp hàng với mấy anh chị bực
nhứt trong thiên-hạ rồi. Lời thề
của họ cả quyết sửa sang mau lẹ
cho bằng Âu Mỹ, thiệt họ đã làm
đúng y, bất cứ phương-diện nào.
Vào
khoảng bắt đầu chúa Trịnh ở
đời Lê nước ta, thì Đức-xuyên
Gia-khang
(徳川家康
- Tokugawa Ieyasu) nổi lên làm
chúa ở nước Nhựt, sai thợ khắc
ra 30 muôn chữ rời bằng cây để in ngũ
kinh tứ thơ và các sách xưa của
bổn-quốc phát cho dân học. Tới
khoảng đầu thế-kỷ 17 (lối
chừng 1614), họ lại biết đúc ra 20 muôn
chữ bằng đồng nữa mới là
kỳ hơn. Nhờ họ sớm biết
khắc chữ cây rời, đúc chữ đồng
rời như thế, thành ra nghề in đã có căn-cơ
vững vàng tốt đẹp và kinh kia sách
nọ được rải trong dân-gian được
rộng lắm rồi. Chắc
hẳn “chữ rời” chẳng phải là
việc phát-minh của người Nhựt đâu
; thuở nay họ chỉ thánh bắt chước,
chớ không phát-minh được gì. Cụ
Khổng ngày xưa nói mình “Thuật
nhi bất tác, 述而不作
- ??”
; chính người Nhựt cũng vậy đó. Tôi
đoán chắc hồi thế-kỷ 15, Gutenberg
ở Đức phát-minh ra máy in và chữ
rời, về sau có những cố-đạo
Bồ-đào-nha hay mấy chú lái buôn Hòa-lan, mom
men qua Nhựt giảng-đạo, buôn bán, đem
việc phát-minh của Gutenberg nói cho người
Nhựt nghe rồi họ bắt chước
tức thời, chớ không chi lạ ! Đã
sẵn có cốt-cách lâu đời vậy
rồi, tự-nhiên đến thời-kỳ duy-tân
vừa mở ra, nghề in phải theo
thời-thế mà Âu-hóa, người Nhựt
tự biết đúc ra chữ chì mà in sách in báo
ngay, không phải đặt làm ở Âu Mỹ. Mà
nghề in tấn-tới bồng-bột, cũng là
sự thường. Thời-kỳ
duy-tân đi tới chừng nào thì nghề in và
số sách hoặc soạn hoặc dịch cũng
đi tới chừng ấy. Chỉ xem hai con
số sau đây cũng đủ thấy rõ : Năm
Minh-trị thứ 10, số sách in ra cộng 5.441
quyển trong đó 232 quyển là sách phiên-dịch
(dịch sách Âu Mỹ ra chữ bổn-quốc) và
464 quyển là sách phiên-khắc (in lại y
bổn của người ta). Tới
năm Minh-trị 37, số sách in ra lên tới
26.610 quyển, mà trong đó chỉ có 28 quyển
là sách phiên-dịch, còn phiên-khắc thì không có
một quyển nào. Là
bởi nước Nhựt sau 30 năm Minh-trị
duy-tân, được liệt-cường Âu
Mỹ xem ngang vai đồng bực rồi, thì
Nhựt có vô hội đồng-minh bảo-hộ
bản-quyền của liệt-cường, thành
ra sự phiên-dịch và phiên-khắc sách ngoài, không
phải tự-do được như trước,
sách vở người ta, mình muốn dịch
của ai cứ dịch, muốn in lại của
ai cứ in, chẳng phải xin phép tác-giả hay
nạp thuế bản-quyền gì hết, mà cũng
chẳng ai biết đó là đâu. Vả lại
sau 30 năm duy-tân rồi, việc giáo-dục
tấn-tới mở-mang lắm, hạng văn-nhơn
học-sĩ tự viết sách soạn sách
lấy khá nhiều, mà số độc-giả có
thể tự hiểu văn-tự Thái-tây cũng
thêm đông lên rồi, không cần phải
nhờ sách dịch nữa vậy. Nghề
in mới, họ bắt chước Thái-tây
tới cực điểm đã đành, nhưng
có một nghề in cũ họ gìn-giữ và
sửa-sang thêm, chính người Âu Mỹ cũng
phải thưởng-ngoạn. Ấy là lối in
tranh vẽ nhiều màu sắc mà in bằng
bản khắc cây, gọi là “Đông-cẩm
hội 東錦繪 - ??”,
một món mỹ-thuật tổ-truyền. Lối
nầy đã đem những bức tranh đẹp
từ đời xưa của Nhựt in ra khoe
với thế-giới. Nhưng tay thợ khắc
cây tinh-xảo đến đâu, mà mỗi
bức tranh phải khắc từ 30 bản
tới 100 bản cây riêng mỗi màu mỗi nét
để sau in chồng lên nhau, công-phu quá
nhiều và giá vốn quá mắc, thành ra không bì
được với mỹ-nghệ màu bằng
đá bằng điễn của đời nay
vừa mau vừa khéo hơn. Dầu vậy
mặc lòng, nó cũng tỏ ra nghề in của
Nhựt từ xưa đã có giá-trị
mỹ-thuật riêng là thế nào rồi.
Lời cuối
của bản điện tử :
Ngoài ra để làm tài liệu cho quý vị nào quan tâm, chúng tôi có soạn một tập riêng gồm danh sách những nhân vật liên quan đến Duy Tân mà cụ Đào Trinh Nhất đã nêu lên trong sách. Danh sách này gồm có (1) : Tên
tiếng Hán (2) : Tên chữ Kanji (3) :
Âm đọc tiếng Nhật (4) : Link vào Tự
Điển Bách Khoa Wikipedia
Nhật (ウィキペディア
百科事典
Mời quý vị nào quan tâm vào dùng. Chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến để bổ túc bảng danh sách này. Trong tương lai (khi về hưu ?) chúng tôi sẽ dịch và chuyển vào Wikipedia Việt Nam để mọi người có thể dùng. Quý vị nào quan tâm muốn cộng tác xin liên lạc cho biết. Yoroshiku onegai itashimasu Trần Thanh Việt và anh em Exryu Cuối Tuần ( japan_ob@yahoo.com)
|
[ Trở về ]