|
|
Hồi
Ức
Tôi gặp chị lần đầu tại trại mùa Đông ở Okutama
đầu năm 1970. Lúc đó có lẽ chị vừa mới lập gia đ́nh. Chị đẹp như
thiên thần và tràn đầy hạnh phúc.
Sau đó, bẵng đi một thời gian tôi không gặp chị. Chị
bận việc gia đ́nh, học tập; tôi vùi đầu thi cử. Vài năm sau, tôi vào
cư xá Sosei, thường xuyên gặp chị hơn ở những buổi họp mặt sinh viên,
những kỳ tổ chức cứu trợ lạc quyên giữa phố Ginza hay bán thức ăn
tại Gogaku-sai trường Todai. Đối với mọi người, lúc nào chị cũng có
một nụ cười rạng rỡ dù chị vui hay chị buồn, một thái độ ân cần ḥa
đồng dù sơ giao hay thân t́nh.
Lúc cháu Nin c̣n bé th́ chị tay bế tay bồng, khi
cháu Nin lớn lên một chút hai mẹ con dẫn nhau đi như h́nh với bóng.
Chị thường gởi cháu ở nhà Sosei để anh em trông nom một buổi chiều
hay buổi tối, để chị đi học hay đi "baito" kiếm thêm chút tiền. Cháu
Nin, hồi đó, độ 3, 4 tuổi ǵ đó, ốm yếu, có đôi mắt to giống chị.
Mùa Đông, cháu hay bị ho, mũi dăi ḷng tḥng, nhưng lanh lợi và rất
thông minh. Có những lúc chị đến đón cháu trễ, trời khuya không ít
lần tôi đưa chị và cháu về nhà ở Hongo san-chome. Con đường từ Sosei
đến Hongo, nhiều dốc lên dốc xuống. Nhưng đi với chị dường như tôi
quên cả những khoảng đường dốc. Chị cười cười nói nói, từ chuyện học
hành, bạn bè đến chuyện gia đ́nh. Có những vấn đề tôi c̣n quá trẻ để
thông cảm với chị, tôi thường ậm ừ cho qua chuyện. Nghĩ lại thật có
lỗi. Chị thường mở đầu câu chuyện với câu, "Để tui nói cho ông nghe...".
Chị cố gắng sửa lại giọng Nam để tôi hiểu, nhưng đối với tôi sao vẫn
c̣n đặt sệt giọng Huế!
Chị thích ăn ochazuke. Sau này, tôi đi chơi Huế ăn
món cơm hến mới biết tại sao chị thích cái món Nhật đơn giản này.
Chị không thích uống rượu. Nhưng có một lần chị buồn, mua về một
chai whisky loại rẻ tiền, lên tầng hai nhà Sosei uống một ḿnh đến
say mềm, rồi ngủ đến sáng. Một buổi tối vào một ngày cuối năm 1974,
chị hối hả đến gặp tôi ở Sosei để nói lời giă từ, bảo rằng phải ra
phi trường đi Pháp. Tôi sững sờ nh́n chị, rồi Nin-chan làm sao?
Không, tui trở lại mà, ông đừng lo, đi vài tháng thôi rồi về đón
Nin-chan, tui sẽ viết thư cho ông. Tôi có linh tính là chị không trở
lại và thật sự chị ra đi vĩnh viễn. Từ Pháp chị viết thư cho tôi nhờ
tôi làm một việc quan trọng. Chị viết như một người đang bị nước
cuốn trôi, cố vùng vẫy bám víu t́m một cái phao. Nhưng tôi không làm
được ǵ cho chị v́ nó vượt xa khả năng. Tôi ân hận lắm chỉ biết xin chị nhận
đây một lời xin lỗi.
Tôi sang Úc năm 1977 để tiếp tục việc học, biết
được chị đang theo học quá tŕnh tiến sĩ ở một trường đại học Pháp.
Tôi gởi cho chị vài món quà Úc và những lời chúc phúc. Nhận được quà
chị vui lắm, nhưng sau đó vài năm th́ bặt vô âm tín.
Chị xứng đáng nhiều hơn những ǵ chị đă có và được
đối xử. Nỗi bất hạnh lớn của người phụ nữ là sinh con mà không nuôi
con được và nh́n thấy con khôn lớn. Nỗi buồn và nỗi nhớ xa con đó có
lẽ sâu xa lắm, nhưng có bao người thông cảm với nỗi đau của chị ở
trong cái tập thể thích nói giáo điều mông lung nhưng thiếu vắng
những cơ bản t́nh người.
Thôi nhé, chị Hoa. Cứ mỗi lần đọc câu "Lá trúc che
ngang mặt chữ điền", là khuôn mặt với nụ cười bao dung của chị lại
thoáng hiện về. Chị hăy xem những ǵ tôi viết là những điều cuối
cùng tôi muốn nói với chị. Xin chị yên giấc ngàn thu, đừng luyến
tiếc chi đến cơi tạm này. Mong chị có thật nhiều hạnh phúc ở cơi
vĩnh hằng và tiêu diêu dưới ánh từ bi của Đức Phật.
Trương Văn Tân
|
|