Trang đặc biệt: Nhớ Anh Trần Đ́nh Tưởng

&&&

 

VỀ  NƠI  CUỐI  TRỜI  

  Chiều về rồi, con đường xám trong mưa thật buồn. Tôi vừa trở về từ một ngôi chùa nuôi trẻ mồ côi ở Long Thành, sau khi đến thăm và tặng quà Trung Thu cho các trẻ em bất hạnh. Đă năm ngày trôi qua, kể từ khi tôi nhận được tin buồn, rất buồn là người Bạn lớn, người Anh, người Thầy của tôi: anh Trần Đ́nh Tưởng đă vĩnh viễn chia tay với anh chị em chúng ta và với cuộc đời này.

  Trong một ngôi chùa đơn sơ hẻo lánh, nơi an trú của hai trăm trẻ mồ côi bất hạnh, trong đó có em bị đem bỏ rơi trước cổng chùa khi c̣n đỏ hỏn, nay em đă chập chửng bước vào lớp 1, tôi chắp tay kính lễ Đức Phật, tâm quán chiếu đến sự vô thường của vạn vật và kiếp người. Mỗi phút trôi qua có người đang vật vả sống, và cũng có người thanh thản vừa rời bỏ chúng ta trở "về nơi cuối trời". Trong khói hương tôi cảm nhận người bạn lớn của chúng ta: anh Tưởng đang trên đường trở về ở một chốn nào đó, chắc chắn nơi đó anh sẽ an vui hơn chúng ta v́ anh không c̣n trôi nổi trong ṿng sinh, lăo, bệnh, tử.

  Khi vừa được tin anh Tưởng ra đi, tôi điện thoại sang Úc cho chị Hoà, tôi bàng hoàng cả người khi nghe từ điện thoại nhà anh, giọng nói của Anh vẫn c̣n giữ trong máy điện thoại phát ra bằng tiếng Anh. Tôi đă nghe chị Hoà tâm sự: hơn hai năm trời chống chọi với bệnh tật và sự đau đớn, nhờ anh giác ngộ Phật Pháp, thấy ai ai rồi cũng phải già, bệnh, rồi chết, nên anh có ĐAU mà không có KHỔ, anh ra đi rất là thanh thản. Anh dặn ḍ an ủi chị Hoà rất nhiều, trong bệnh viện anh hay cười, một nụ cười rất hiền, đến nổi các cô y tá phải khen là “ TRAN, you have a beautiful smile “…..

  Tôi nghĩ nụ cười của anh là nụ cười của một triết gia đă” NGỘ: cuộc đời như một giấc mơ, một cuộc dạo chơi “ Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một lát, nào ngờ đâu ở măi đến hôm nay … “, nhưng đối với anh đây là một giấc mơ đẹp, một cuộc dạo chơi kỳ thú, và đă đến lúc ḿnh phải…. trở về.

  Tôi có một quan hệ sâu sắc và đặc biệt với anh Tưởng- chị Hoà. Mùa hè năm 1971, khi tôi đang học ở đại học Chi Ba và ở tại cư xá Chiba Ruugaku- ryoo, chị Hoà lúc ấy vừa ở VN sang, đang học Nhật Ngữ chị Hoà xuống ChiBa ở chơi với tôi để ôn bài, một hôm anh Tưởng t́nh cờ xuống thăm tôi, tôi đă giới thiệu hai người với nhau, đây là cuộc gặp gỡ “định mệnh”, anh chị đă bị coup de foudre từ buổi đầu gặp gỡ. C̣n“ Bà mai”này Tết năm 1972 đă đến thăm cả hai gia đ́nh ở VN để “báo cáo” mối “lương duyên” của hai người. Tôi nhớ ngôi nhà của chị Hoà bên bờ sông ở Thị xă Sa đéc, gia d́nh chị đông anh em và mẹ chị Hoà cũng rất hiền hậu xinh đẹp.

  Một năm sau, anh chị làm lễ cưới. Sau này tôi cũng là người trong Ban Tổ Chức lễ cưới cho anh chị. Đám cưới anh chị tổ chức ở Chùa sau đó chiêu đăi ở Asia Bunka Kaikan, tôi nhớ những kỷ niệm vui vui ngày ấy anh chị em sinh viên ḿnh ai cũng nghèo, đám cưới là xúm nhau vào làm, đâu có thuê mướn nhà hàng sang trọng. Thức ăn Việt Nam tự làm, và tôi cũng đă rất vất vă với món xôi ṿ đậu xanh, và chả gị đăi khách. Các bạn Hoàn, Kiều Hùng bị tôi phân công băm hành tây cay quá, la toáng lên: trời ơi đám cưới mà bắt tụi tui khóc chảy nước mắt …

  Chúng tôi thường chọc ghẹo anh Tưởng: “ từ khi anh có chị Hoà, anh yasashii hẳn ra, bớt kibishii với kohai chúng em.” Ba mươi hai năm trôi qua chúng tôi thật mừng anh chị đă sống với nhau thật trọn vẹn t́nh nghĩa và hạnh phúc cho đến giây phút cuối cùng của Anh.

  Anh Tưởng là thế một con người nhân hậu, t́nh cảm và thuỷ chung.. Bề ngoài anh có vẻ khép kín, cô độc, nhưng không phải, thân cận với anh mới thấy anh thông minh, nhạy cảm và hóm hỉnh nữa.

  Là đàn em của anh về tuổi đời, cũng như học vấn tôi đă thọ nhận từ anh sự giúp đỡ chân thành, tận tuỵ trong những năm du học ở Nhật, cũng như dược anh trao đổi, chia sẻ cùng anh quan điểm về lư tưởng yêu nước, về tuổi trẻ và cuộc sống.

  Anh Tưởng sống đơn giản và mẫu mực, làm việc ǵ cũng hết sức có trách nhiệm, giúp ai là giúp hết ḷng. Anh học giỏi nổi trội, có năng khiếu sư phạm, diễn tả vấn đề khúc chiết, mạch lạc, tuy tôi học về kinh tế, không được anh d́u dắt nhiều về khoa học, nhưng anh đă dạy tôi phương pháp học tiếng Nhật rất là hiệu quả, đồng thời khuyến khích tôi đừng bỏ quên vốn liếng tiếng Anh, tiếng Pháp của ḿnh. Những ngày du học ở Nhật tôi có hai Sempai mà tôi rất kính quư, thương mến ; một người tôi xem như chị gái ruột thịt: đó là chị Mai Huệ Hường, và người thứ hai là anh Trần Đ́nh Tưởng. Ngày chị Hường mất, tôi đă đưa chị về quê hương, ôm b́nh tro thi hài chị trên chuyến máy bay Tokyo – Saigon vào một buổi sáng mùa thu tháng 10 năm 1970, tôi nhớ lời anh dặn ḍ tôi ở phi trường: “ cô phải can đảm, mạnh mẽ, cô không được khóc v́ chính cô là người phải b́nh tỉnh an ủi gia đ́nh cô Hường, nhất là mẹ cô Hường “. 

  Ba mươi tám năm đă trôi qua, Anh Tưởng giờ đây đă ra đi vĩnh viễn, dấu vết sự sống của anh cũng chỉ là một b́nh tro được an trí trong một Thiền viện ở nước Úc xa xôi. Không gian, thời gian đă giới hạn tôi không có cơ hội được thắp nén nhang trước bàn thờ và di ảnh của anh, để tạ ơn một người Bạn, một người Anh, một người Thầy. Tôi chỉ biết quán tưởng Anh với tất cả tấm ḷng bi mẫn và cầu nguyện cho Anh siêu thoát về cỏi Phật.

  C̣n nếu anh có phải tái sanh ở cơi ta bà này, tôi cũng chân thành cầu nguyện cho Anh  thọ nghiệp an lành, gặp được Phật pháp, và thiện hữu tri thức, hoàn tất những ước mơ giúp người, giúp đời c̣n dang dỡ.

  Xin Vĩnh biệt Anh, Anh Trần đ́nh Tưởng kính quư.

TP. HCM ngày 24/9/2004

Phùng Kim Yến


Mời bấm vào đây để viết cảm tưởng

......................

Cảm tưởng (1)