|
Tôi, Lai-Văn-Khiết, bạn đồng song với anh
Nguyễn-Văn-Chuyển. Trong khuôn khổ của Kế Hoạch Columbo, vào tháng
tư năm 1963, anh Chuyển, 6 anh chị khác nữa, và tôi đă được Bộ Giáo
Dục Nhật Bản cấp học bổng để sang Nhật học về các ngành Ngư Nghiệp,
Nông Nghiệp, Hàng Hải Thương Thuyền và Kinh Tế.
Vào ngày 16 tháng 6, 2008 vừa qua, tôi được thư
của anh Phạm-Mạnh-Kha chuyển đi từ Nhật, báo rằng anh Chuyển đă qua
đời tại Tokyo sau cơn xuất huyết quá lớn trong năo. Tôi thật bàng hoàng,
và không tin chuyện đó là có thực. Đến bây giờ, tôi vẫn không
tin như vậy. Tuy nhiên, tâm trạng của tôi lúc ấy thật bối rối, hoang
mang, tiếc thương về sự qua đời quá đột ngột và quá sớm của một
người bạn hiền, nhân hậu, có tài, có đức. Tôi xin mượn mấy gịng thơ
dưới đây của cụ Nguyễn-Khuyến diễn tả nỗi ḷng của cụ khi được tin
người bạn của cụ, cụ Dương-Khuê, vừa qua đời, để nói lên tâm trạng
của tôi lúc đó và bây giờ nữa:
“Bác Dương Thôi Đă Thôi Rồi”
“Nước Mây Man Mác Ngậm Ngùi Ḷng Ta”
Tôi gặp anh Chuyển trong một lớp học Anh Văn, học vào buổi tối, vào cuối năm 1962 tại
Đại Học Ngoại Ngữ Sài G̣n. Anh
giới thiệu anh tốt nghiệp từ Trường Trung Hoc Chu-Van-An, Ban A (Ban
Vạn Vật). Cuối năm 1962, sau khi biết Nha Kế-Hoạch và Du-Học đang thông cáo nhận hồ
sơ tuyển sinh viên sang
Nhật học về các ngành Ngư Nghiệp, Nông Nghiệp, Hàng Hải Thương
Thuyền, và Kinh Tế, tôi đă báo cho anh biết. Anh nộp hồ sơ xin học
về Nông Nghiệp, c̣n tôi xin học về Ngư Nghiệp. Cuối Tháng Hai năm
1963, chúng tôi nhận được giấy thông báo rằng đă được Bộ Giáo Dục
Nhật Bản chấp thuận, cấp học bổng để sang Nhật du học. Với tôi, và
gia đ́nh tôi, đó là một tin vui vô hạn, v́ gia đ́nh tôi là một gia
đ́nh nghèo, và v́ thế tôi không bao giờ giám mơ ước là sẽ được ra
nước ngoài để học tập cả. Cuộc đời của chúng tôi đă bước sang một
khúc ngoạt mới kề từ ngày tháng đó.
Trong những ngày c̣n lại ở Việt Nam và trước khi
sang Nhật, vào năm 1963, tôi c̣n nhớ đă đến thăm nhà anh Chuyển vài
lần. Nhà anh năm trong khu Bàn Cờ ở Sài G̣n. Tôi được gặp cụ ông
thân sinh ra anh. Tôi cũng được gặp người Mẹ kế của anh cùng người
chị nuôi nữa. Bà Mẹ kế của anh một mực rất thương yêu anh. Ngược lại,
đối với Ba và người chị nuôi, anh cũng rất yêu thương và kính trọng.
Sau khi sang Nhật vào đầu tháng tư, 1963, ngoài 2
sinh viên học về ngành Kinh Tế ra, 6 người trong chúng tôi đều sống
tại cư xá của sinh viên ngoại quốc ở Inage thuộc tỉnh Chiba. Nơi
chúng tôi học là Trường Sinh Viên Ngoại Quốc (Ryu Gakusei Katei)
thuộc Đại Học Chiba.
Những ngày đầu tiên mới tới Nhật là những ngày hồn
nhiên, vô tư và vui sướng nhất. Chúng tôi, như đàn chim non, thấy
cái ǵ cũng lạ, cái ǵ cũng thích. Khi việc học bắt đầu, v́ áp lực
học thông, viết thạo tiếng Nhật trong một thời gian ngắn từ nhà
trường, từ thành quả nổi bật của những sinh viên đàn anh đi trước,
th́ nổi lo lắng trong chúng tôi càng ngàu càng dâng cao, v́ phải bảo
vệ danh dự của đất nước, v́ phải tiếp tục thành tích học tập vẽ vang
của các thế hệ đàn anh đi trước. Cuối cùng với sự nổ lực vượt bực
của chính bản thân, với sự giúp đỡ tận tuỵ, với sự chỉ bảo và động
viên chân thành về học tập của những sinh viên đàn anh, chúng tôi đă
vượt qua được những khó khăn và thử thách ban đầu trong việc học tại
xứ người.
Năm đầu học tại Inage, anh Chuyển đă gia nhập club
Karate do sinh viên Nhật thuộc Đại Học Chiba tổ chức, dành cho sinh
viên ngoại quốc. Mỗi sáng, anh đều dậy thật sớm, tập Karate cùng
nhiều sinh viên bạn khác. Sau này, anh nói với tôi rằng nhờ tập
Karate hồi đó và những năm kế tiếp mà sức khoẻ của anh trở nên tốt
hơn, giúp anh chịu đựng được nhiều hơn, mặc dầu phải làm việc rất
vất vả về đầu óc.
Học hết năm thứ nhất, tôi và hai sinh viên khác
học về Ngư Nghiệp chuyển lên Tokyo, vào học tại Đại Học Thuỷ Sản
Đông Kinh (Tokyo Suisan Daigaku) và sống tại cư xá sinh viên ngoại
quốc ở Komaba. Anh Chuyển th́ tiếp tục học ở Chiba hơn một năm nữa
v́ anh đi về Nông Nghiệp. Cuối cùng nhờ thành tích học tập tốt ở
Trường Sinh Viên Ngoại Quốc, anh được đua vào Đại Học Tokyo (Todai),
học về Hóa Học Nông Nghệ (Nogei Kagaku). Học hết năm thứ
tư bậc Đại Học, với thành tích ưu tú, anh đă được nhà trường nhận
thẳng vào ban Master mà không cần phải qua kỳ thi vào Cao Học như
một số sinh viên khác. Sau hai năm ở Master, anh tiếp tục lên ban
Doctor. Ba năm sau anh hoàn thành luận án Tiến Sĩ và được Đại Học
Đông Kinh (Todai) trao bằng Tiến Sĩ Nông Học (Nogaku Hakasei) vào
năm 1973.
Vào cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970,
chiến tranh Việt Nam mỗi ngày một lan rộng và khốc liệt hơn trên cả
hai miền Nam Bắc. Tin tức về chiến tranh Việt Nam được loan truyền
rộng răi trên các phương tiện truyền thông đại chúng ở Nhật. Trước
sự can thiệp và leo thang cuộc chiến của chính phủ Mỹ tại Việt Nam,
với những đoàn phi cơ B52 xuất phát từ Guam và Thái Lan bay tới Việt
Nam, mở nhiều phi vụ ném bom trăi thăm, bất phân biệt, trên cả hai
miền đất nước, gây ra không biết bao nhiêu tang thương và đổ nát về
người lẫn của, thỉ t́nh yêu quê chân thành và nồng nàn của sinh viên
Việt Nam tự nhiên trổi dậy, mỗi ngày một lớn mạnh hơn, trên khắp các
châu lục, theo với các phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam của
Mỹ, bùng nổ ra ại nước Mỹ, tại Châu Âu, tại Nhật và tại nhiều quốc
gia khác. Trong bối cảnh đó, một số anh em sinh viên, trong đó có
anh Chuyển, đă cùng nhau đúng ra thành lập Phong Trào Tranh Đấu cho
Ḥa B́nh và Thống Nhất Đất Nước (Betonamu Heiwa to Touitsu Undo, gọi
tắt là Beheito). Đây là mục tiêu tranh đấu thật lư tưởng, thật lâu
dài, v́ những năm đó, giấc mơ về ḥa b́nh và thông nhất hai miền Nam
Bắc của tổ quốc là điều khó có thể nghĩ tới, và khó có thể trở thành
hiện thực được.
Cuối tháng 4 năm 1975, cuộc chiến Việt Nam kết
thúc. Đất nước thông nhất. Những năm kế tiếp t́nh h́nh thay đổi rất
nhanh. Nến kinh tế bao cấp, tập trung, chính sách sản xuất và lưu
thông hàng hóa bị hạn chế, việc buôn bán của tư nhân bị giới hạn, đă
đưa đất nước rơi vào cuộn khủng hoăng kinh tế trần trọng, không lối
thoát. Đời sống người dân càng ngày càng bị xáo trộn, thiếu thố,
cùng cực, gian truân. Thêm vào đó, chính sách xă hội, phân biệt đối
xử đối với những người sống dưới thể chế của chính phủ Miền Nam cũ,
đă gây ra sự chia rẽ và bất măn giữa những người có cùng một huyết
thống, có cùng một tổ quốc. Trong những năm đen tối và kinh hoàng đó,
nhiếu người Việt Nam đă liều ḿnh ra đi, t́m tới định cư tại nhiều
quốc gia trên thế giới. Tôi v́ hoàn cảnh gia đ́nh nên đă rời Nhật
sang định cư ở Mỹ. Trong những năm dài đăng đẵng ấy, sự liên lạc
giữa tôi và anh Chuyển bị cát quảng.
Lần đầu tiên tôi gặp lại anh Chuyển là tại nhà anh
chị Nguyễn Bá Vinh và Lê Thị Hàn ở New York khi tôi đưa cháu gái út
của tôi san ghọc Đại Học Swarthmore College ở tiếu bang
Pennsylvania. So với thời sinh viên, anh Chuyển vẫn không thay đổi
mấy, và tôi rất mừng khi được biết anh đă trở thành Giáo Sư Đại Học
Nihon Joshi Daigaku (Japan Women University) ở Tokyo.
Sau này từ cuối thậ niên 1990, mỗi năm anh Chuyển
đếu sang làm việc tại pḥng nghiên cứu của anh Vũ Hữu Thành tại Đại
Học Stanford ở tiếu bang California. Nhà tôi cũng ở gần đó, cho nên
năm nào tôi cũng được gặp anh.
Trong các hoạt động nghiên cứu, anh nói anh cũng
có nhiều dự án nghiên cứu chung với một số hăng dược phẩm của Nhật.
Anh cho tôi một số lọ thuốc bổ, lấy ra từ một số thực vật như wild
bilberry và ginkgo biloba.
Ngoài công việc ở trường ra, anh c̣n được chọn vào
làm nhân viên trong hội đồng thẩm định khoa học của chính phủ Nhật
Bản. Hội đồng này có mục đích xét duyệt các đề án nghiên cứu trong
ngành Hóa Học Thực Phẩm mà những người trong ngành gửi tới để xin
chính phủ Nhật Bản tài trợ các đế án nghiên cứu của họ.
Qua câu chuyện, tôi được biết anh được các bạn
đồng nghiệp tại Nihon Joshi Dai rất nễ trọng. Mỗi năm quỹ nghiên cứu
của anh đều nhiều, đứng nhất, nh́ trong số các giáo sư trong học
khoa của anh. Mặc dù là người nước ngoài, không mang quốc tịch Nhật
Bản, vẫn giữ quốc tịch Việt Nam, nhưng anh đă được bầu giữ chức Học
Khoa Chủ Nhiệm (Gakkacho) mấy nhiệm kỳ liên tiếp.
Anh cho biết, sinh viên xin vào oḥng nghiên cứu
của anh rất đông, trên dưới muời mấy em, chủ yếu là sinh viên bậc
Đại Học và ban Master. Anh nói sinh viên tốt nghiệp từ pḥng nghiên
cứu của anh, lúc ra trường, đại đa số đều xin được việc làm. Bên
Nhật, các giáo sư đều có liên lạc với các hăng mà sinh viên ḿnh tới
xin việc, để gửi gấm, để yêu cầu giúp đỡ.
V́ cùng đă từng làm công việc nghiên cứu thời hậu
Đại Học (Post Doc) ở một Đại Học nhỏ và một Đại Học lớn bên Mỹ, tôi
biết rất rơ rằng các giáo sư phải rất vất vả, phải rất tận tuỵ và
phải có nhiều thành quả nghiên cứu tốt, cộng thêm phải quen biết
nhiều, phải giao thiệp rộng răi với những cơ quan cấp tiền nghiên
cứu, th́ mới hy vọng những đề án nghiên cứu của ḿnh sẽ được người
ta để ư tới mà cứu xét, rồi cấp tiền cho. Kiếm được tiền nghiên cứu
cho pḥng của ḿnh là khó lắm, vất vả lắm, chứ không phải dễ dàng
đâu. Như để chứng minh gián tiếp cho sự nhận xét của tôi, anh Chuyển
đă tâm sự với tôi rằng để cho các đồng nghiệp người Nhật của anh nễ
trọng anh, coi anh ngang hàng với họ, anh đă phải cố gắng bỏ công,
bỏ sức và làm việc gấp rưởi họ. Tôi cho đây là tâm sự chung của
người Việt ḿnh, thuộc thế hệ thứ nhất, khi lập nghiệp tại xứ người,
là phải phấn đấu, nhẫn nại và chịu đựng muôn vàn gian khổ, để t́m
một chỗ ngồi xứng đáng và b́nh đẵng với những người bản địa.
Với các em sinh viên Việt Nam mới sang Nhật, anh
Chuyển đếu hết ḷng giúp đỡ và gần gủi. Anh đứng ra bảo lănh cho một
số em sinh viên do anh Nguyễn Đức Hoè, hiệu trưởng trường Nhật Ngữ
Đông Du, ở Sài G̣n đưa qua. Cháu gái của tôi hiện đang học tại Nhật,
cũng thuộc diện này. Cháu nói các em sinh viên Đông Du đều rất quư
trọng thấy Chuyển, coi đó là một tấm gương rất sáng để các em cố
gắng học tập, noi theo.
Với người trong nước, mỗi năm anh Chuyển đều về
Việt nam hai lần, một lần vào mùa hè và một lần cuối năm. Những lần
như vậy, anh đều mở các buổi hội thảo về dinh dưỡng tại một số viện
nghiên cứu ở Sài G̣n và hà Nội.
Anh cũng xin được một số học bổng để đưa một số em
đă tốt nghiệp y khoa, hoặc chuyên môn về dinh dưỡng ở các viện
nghiên cứu tại Sài G̣n hay Hà Nội, sang Nhật nghiên cứu, và viết
luận án Tiến Sĩ, dưới sự chỉ đạo của một số giáo sư mà anh quen biết
và gửi gắm. Số em như vậy, cách đây mấy năm, anh nói cũng được 9 em.
Tôi vẫn nhớ rất rơ, trong lần gặp đầu tiên ở
California của anh Chuyển với một số sinh viên Việt Nam học ở nhật
trước đây, anh nói sự giúp đỡ người trong nước là về mặt trí tuệ .
Trí tuệ ở đây tôi hiểu được là về kiến thức, về kinh nghiệm. Có kiến
thức, có kinh nghiệm th́ đất nước mới phát triển được. Không có kiến
thức, không có kinh nghiệm, th́ sự phát triển của đất nước sẽ dậm
chân tại chỗ, hoặ bị tụt hậu, so với các nước chung quanh.
Sau nhiều năm xa cách, lần đầu tiên tôi trở lại
Nhật Bản là khoảng hơn 3 năm trước đây. Cảm tưởng đầu tiên của tôi
là đất nước họ đă tiến rất nhiều. Nhà cửa, các ga xe điện đă trở nên
lớn hơn, sạch hơn, đẹp hơn, sáng sủa hơn, tiện nghi hơn, tự động hóa
nhiều hơn và trên tất cả là giàu có hơn.
Mặc dù rất bận, trăm công ngh́n việc, nhưng anh
Chuyển vẫn bỏ ra nhiều thời giờ để đưa tôi trở lại những nơi tôi
từng sống, từng học, tới cả một vùng đất mới, nhân tạo, bên vịnh
Tokyo, và gặp lại một số anh chị em đă học ở Nhật thời tôi. Tôi đến
thăm pḥng nghiên cứu của anh và thấy tận mắt nhiều máy móc nghiên
cứu đắt tiền mà anh đă mua được cho pḥng nghiên cứu của ḿnh. Anh
nói, một số pḥng nghiên cứu khác thường đến nhờ anh cho họ được sử
dụng những máy móc đó. Anh đă không từ chối, mà ngược lại c̣n tạo
điều kiện để họ có thể sử dụng chúng một cách nhanh chóng, dễ dàng.
Lúc ra về, anh tiễn tôi ra tận cổng trường. Một bà
thư kư thấy anh, vội vàng xin anh chữ kư để cho một sinh viên được
đi sang Mỹ trong chương tŕnh trao đổi sinh viên giữa đại học của
anh và một đại học đối tác bên Mỹ. Nhân dịp đó, anh nói với tôi một
câu và tôi nhớ măi “Ḿnh làm được việc ǵ giúp ích cho người khác là
ḿnh vui rồi. Thấy người khác vui là ḿnh cũng vui. Thấy người ta
thất bại là ḿnh cũng thấy như ḿnh thất bại vậy”.
Trong những năm là bạn của anh, tôi chưa bao giờ
thấy anh dùng bất cứ một từ khiếm nhă nào, hoặc chê bai nào về người
khác. Anh luôn nể trọng người anh đối thoại, dù lớn hơn anh hoặc nhỏ
hơn anh về mặt tuổi tác. Anh lúc nào cũng tích cực, nghiêm túc trong
thảo luận. Anh luôn luôn động viên người khác để làm việc tốt, việc
thiện. Với bạn bè cùng năm, cách cư xử của anh vẫn như thời c̣n là
sinh viên vậy. Vẫn cười, vẫn nói tự nhiên, vẫn chân thành, vẫn có
t́nh, có nghĩa với nhau. Sau này, dù đă trở thành người có địa vị,
được nể trọng về tinh thần trong xă hội Nhật Bản, nhưng anh vẫn
khiêm nhường, từ tốn với mọi người, thân thiện với mọi người, dù là
những người sang học tại Nhật sau anh nhiều năm đi chăng nữa.
Khi tôi và nhà tôi lấy nhau, thời tôi c̣n là sinh
viên, anh Chuyển và một người bạn khác rất thân thiết của tôi, anh
Nguyễn Ngọc Quân, đă tự động đứng ra điều động anh em sinh viên tổ
chức tiệc cưới cho chúng tôi ở cư xá Komaba. Rồi c̣n sắp xếp vé xe
điện, khách sạn cho chuyến đi trăng mật của chúng tôi nữa. Tôi rất
cảm động v́ không ngờ lại có được những người bạn tốt đến như vậy.
Tôi cho đó là tinh cảm chân thành và cao quư của bạn bè. Tiền bạc
không thể mua được những t́nh cảm quư báu đó. Với tôi, tôi rất trân
trọng và giữ ǵn những t́nh cảm đẹp và chân t́nh ấy, măi măi trong
cuộc sống của tôi.
Chuyện gia đ́nh của anh, anh ít nói lắm. Có hỏi
anh mới nói. Anh có 3 cháu. Hai cháu đầu là hai cháu gái. Cháu thứ
ba là cháu trai. Cháu gái đầu ḷng của vợ chồng anh có tên Việt Nam
là cháu Anh Đào. Thời đại học, anh đưa cháu Anh Đào sang học Y Khoa
bên Đông Đức. Sau này tốt nghiệp, cháu đă kết hôn
với một sinh viên đàn anh, cùng học Y Khoa, người Đức. Giờ hai vợ
chồng cháu đang làm việc trong ngành Y, tại thu đô Berlin của một
nước Đức thống nhất, và đă có hai con, một gái, một trai, trông rất
dễ thương. Cháu gái thứ hai là cháu Ayu, trước
kia là sinh viên đại học Hitotsu Bashi. Giờ cháu là một trong những
xướng ngôn viên của đài truyền h́nh Tokyo (Tokyo TV) và đă lập gia
đ́nh với một nhân viên thuộc thành phần quản lư cùng hăng. Vợ chồng
hai cháu đă có một bé trai. Người con thứ ba của vợ chồng anh Chuyển
là một cháu trai, có tên Việt Nam là Cửu Long. Có lẽ như để gửi gấm
tấm ḷng của ḿnh đối với đất nước, anh đă chọn từ Cửu Long để đặt
tên cho cháu. Rất tiếc, cháu nằm quá ngày trong bụng mẹ, cho nên lúc
sinh ra, cháu bị thiếu dưỡng khí, khiến một phần năo bộ của cháu bị
ảnh hưởng. Và cũng v́ thế cháu đă bị tật nguyền ngay từ lúc mới chào
đời. Đây là một sự việc không may, và có thể xảy ra cho bất cứ một
gia đ́nh nào. Vợ chồng anh, đặc biệt chị Ryuko, đă phải hy sinh, tận
tụy săn sóc cháu Cửu Long, cả ngày lẫn đêm, từ thuở cháu mới lọt
ḷng mẹ, cách đây hơn 30 năm rồi, cho tới tận ngày nay. Trong hoàn
cảnh gia đ́nh như thế, anh không bao giờ tỏ ra bất măn khổ đau, hay
than thân trách phận. Thật là đáng thán phục về một người cha trong
gia đ́nh như thế, theo tôi. Sau này, mẹ ruột của chị Ryuko về già,
đi lại khó khăn, anh chị đă mời cụ về nhà để sống với vợ chồng anh,
và cũng để vợ chồng anh chăm sóc.
Qua tư cách của anh, cuộc sống của anh, và việc
làm của anh, tôi thường nói với một số bạn bè của tôi rằng “Chuyển
có cái tâm Phật”. Với tôi, anh đă thể hiện được t́nh yêu gia đ́nh,
t́nh yêu quê hương và t́nh yêu đồng loại, một cách thật tự nhiên, tự
nhiên như hơi thở của sự sống, nhưng cũng rất sôi động, nồng nàn.
Đây là những t́nh cảm thiêng liêng nhất, cao quư nhất của con người,
theo tôi.
Khi nghe tin anh đă qua đời, tuy thật xót xa,
nhưng tôi lại ư thức thêm hơn nữa tính “Vô Thường” và tính “Không”
của các pháp, hai triết lư lớn trong đạo Phật. Mọi việc đều biến
chuyển không ngừng, đấy là Vô Thường. Sự vật lúc có đó, rồi mất đó,
lúc mất đó rồi lại có đó, đấy là tính Không. Như để xoa dịu ḷng
ḿnh, để giảng giải cho sự việc ra đi quá sớm và quá đột ngột khỏi
cơi đời này của một người bạn hiền, tôi xin trích dẫn lại đây mấy
câu thơ của thi hào Nguyễn Du, viết trong Văn Tế Thập Nhị Chúng Sinh,
đă được truyền tải trong đĩa DVD “Lịch Sử Phật Giáo và những ngôi
chùa Việt Nam” do Michael Huỳnh thực hiện
"Kiếp Phù Sinh Như H́nh Như Ảnh
Có Chữ Rằng Vân Cảnh Giai Không
Ai Ơi Lấy Phật Làm Ḷng
Tự Nhiên Siêu Thoát Khỏi Trong Luân Hồi"
Phật dạy, theo tôi hiểu, là tượng trưng cho trí
tuệ, cho sự giác ngộ, cho ḷng từ bi vô hạn, dẫn tới con đường giải
thoát khỏi ṿng sinh đi, tử lại, của một kiếp người.
Trong cuộc sống, mọi người đều có nhiều h́nh ảnh
để tŕu mến, để tôn thờ, để cố noi theo, với hy vọng cuộc sống của
ḿnh sẽ tốt đẹp hơn, sẽ trong sáng hơn, sẽ có ư nghĩa hơn . Với tôi
cũng vậy. Trong đời sống đạo đức, đời sống trí thức, đời sống tinh
thần và đời sống tâm linh của tôi, ở mỗi đời sống như thế tôi đều có
những h́nh ảnh lớn mà tôi hằng tôn kính. Anh Chuyển đă là một trong
những h́nh ảnh lớn đó, ngự trị trong tâm trí tôi từ lâu rồi.
Ước mong hương linh anh sẽ sớm siêu thoát về thế
giới măi măi trong sáng, măi măi thanh tịnh ở bên kia, và độ tŕ cho
chị Ryuko cùng gia đ́nh vượt qua được những khó khăn hiện tại khi
không c̣n anh bên cạnh.
Lại Văn Khiết |
|