Bố Tôi

Đây là bài viết của cháu Thanh Phương, thứ nữ của Cố Exryu Nguyễn Văn Chuyển. Cháu Thanh Phương hiện nay đang là Phát thanh viên của đài truyền h́nh TBS - Nhật Bản. Bài này nguyên tác đăng trên trang web của đài truyền h́nh TBS, bản dịch của chị Diễm Nghi - Exryu Japan. - Xem bản chính

 

こんにちは、山内あゆです!

Yamanouchi Ayu xin chào tất cả các bạn,

小倉弘子キャスター産休にあたり、ピンチヒッターとしてニュースを担当することになり、はや2ヶ月・・・。

Tôi đảm nhận công việc thay cho Phát thanh viên Ogura Hiroko nghỉ sinh con thấm thoát đă đươc 2 tháng rồi đấy!

小倉さんは無事ママになり、私は少しニュースの空気に慣れ、東京の桜も咲きました。

Trong lúc ở Tokyo hoa Anh Đào đang đua nở, th́ chị Ogura Hiroko đă trở thành một người mẹ, b́nh an vô sự, c̣n tôi th́ bắt đầu quen với không khí của các bản tin rồi.

  相変わらず各方面にご心配・ご迷惑をおかけしながらの放送ですが、春ですし、明るい気持ちでお仕事しよう!と思っている今日この頃です。

Mặc dù trong các lần phát thanh, ḿnh vẫn c̣n là mối băn khoăn lo lắng cho nhiều người khắp nơi, nhưng v́ mùa xuân đă đến, bản thân ḿnh tự nhủ phải làm việc trong tinh thần vui tươi!

  さて、小倉さんにも家族が増えたということで、私も今日は家族の話をしようと思います。ターゲットは、父です。

Gia đ́nh chị Ogura đă tăng thành viên, thế th́ nhân đây tôi cũng xin viết về gia đ́nh. Và người được nhắc đến hôm nay là Bố tôi.

  私の父はベトナム人です。母は日本人なので、私はいわゆる「ハーフ」ということになります。しかし、同じアジア人ゆえ顔つきはとってもジャパニーズ。苗字も名前も日本名なので、滝川クリステルさんや葉山エレーヌさんのようにパッとわかるはずもありません。お二人にならって改名すると・・・山内タイフォンです。なにかアイドル性にかけるような・・・。

Bố tôi là người Việt Nam, Mẹ là người Nhật, tôi là “con lai” như vẫn gọi. Nhưng mà vẻ mặt ḿnh đầy nét Nhật Bản và v́ cùng là người Á Châu mà cả họ lẫn tên đều là tiếng Nhật nên không thể nhận ra ngay như cô Takigawa Kurisuteru hay cô Hayama Erenu. Nếu đổi thành tên kiểu như hai cô này th́ sẽ là Uchinoyama Thanh Phương, có vẻ ǵ thiêu thiếu tính chất thần tượng...

  父は19歳の頃、ベトナムからの国費留学生として来日し、日本の大学に進みました。卒業後は帰国し、戦争で疲弊しきった祖国をよくしようという大志を抱いて、本当によく勉強したそうです。当時女子大生だった母とはダンスパーティで知り合い、大学院の時に結婚。まだベトナムは戦争中だったため、ふたりは帰国を断念し日本で新婚生活を始めました。それでも、祖国に平和が訪れたらすぐに帰国するつもりで、母はベトナム語を学び、サイゴンの気候にあった夏服をダンボールにまとめ、いつでも運び出せるようにしていました。

Bố tôi đă đến Nhật với tư cách là Du học sinh quốc phí từ Việt Nam lúc khoảng 19 tuổi. Ông đă vào học ở một Đại học Nhật Bản. Nghe nói ông hoc hành thật chăm chỉ,v́ nuôi một ư chí to tát là sau khi tốt nghiệp sẽ trở về nước xây dựng lại tổ quốc đă bị tàn phá trong chiến tranh. Bố tôi quen với Mẹ ở một buổi khiêu vũ, thuở ấy bà đang là nữ sinh viên đại học. Hai người đă lấy nhau khi bố tôi đang học cao học. V́ lúc ấy chiến tranh đang c̣n tiếp diễn nên hai người đành bỏ ư định quay trở về Việt Nam mà đă bắt đầu cuộc sống của những ngày mới cưới nhau tại Nhật Bản. Mặc dù như thế hai người cũng đă chuẩn bị sẵn để quay trở về với Tổ quốc ngay sau khi ḥa b́nh trở lại. Mẹ th́ học tiếng Việt và xếp sẵn những quần áo mùa hè hợp với khí hậu Sài G̣n vào thùng các-tông để bất cứ lúc nào cũng có thể mang đi được.

  そして1975年、ついにベトナム戦争は終結します。明くる年生まれる私を連れ、家族5人でベトナムへ帰国します、と父はサイゴンの祖父へ連絡しました。しかし、祖父は反対したのです。今はまだ戻るな、と。ベトナムは貧しく混乱した状態であり、日本で暮らすほうが家族が豊かに暮らせると。

Và rồi cuối cùng th́ chiến tranh đă kết thúc vào năm 1975. Bố đă báo cho ông nội ở Sài G̣n biết là muốn dắt tôi, sẽ ra đời vào năm kế tiếp đó, cùng với gia đ́nh gồm 5 người trở về Việt Nam. Thế nhưng ông tôi phản đối, khuyên rằng chớ có về bây giờ, rằng Việt Nam đang ở trong t́nh trạng lộn xộn nghèo nàn, nán lại Nhật th́ đời sống gia đ́nh sẽ xung túc hơn.

  翌年生まれた私に、父はベトナム国籍を選びました。私は「あゆちゃん」と日本名で呼ばれていましたが、それは通称であり、戸籍にはベトナムの名のみが記されていました。それこそがタイフォンちゃんです。朝の食卓では父によるベトナム語ミニ講座が開かれていました。

Bố đă chọn quốc tịch Việt Nam cho tôi khi tôi ra đời vào năm kế đó. Tôi đă được mọi người gọi bằng tên Nhật là “ Ayu- chan”, nhưng đây chỉ là tên để gọi, chứ trong tờ hộ tịch th́ chỉ có ghi tên tiếng Việt thôi. Tên đấy chính là Thanh Phương-chan. Bố cũng thường mở lớp nhỏ dạy bài tiếng Việt cho tôi trên bàn ăn vào các bữa ăn sáng.

  時は流れ、私は二重国籍を申請し、ベトナム行きのダンボールは片付けられ、ベトナム語講座もいつしか開かれなくなりました。それでもベトナムは豊かにはならず、父は日本の永住権を取りました。

Thời gian trôi qua , tôi th́ xin 2 quốc tịch, thùng các-tông chuẩn bị để về Việt Nam đă được dọn đi mất và các buổi học tiếng Việt dần dà cũng không c̣n. Thế mà Việt Nam vẫn chưa khá ra và bố tôi đă xin vĩnh trú tại Nhật.

  いつ、どんな話し合いがあってベトナムに戻らないことになったのか、私にはわかりません。でも、時々考えることがあります。あったかもしれない、ベトナムでのもうひとつの私の人生。白いアオザイで通学していたのかしら? 日本語は忘れてしまっていたかしら? それとも母の国に憧れて、日本へ行きたいと願っていたかしら? そして父にはどんな人生があったのかしら、と。

Với tôi, th́ tôi không hiểu được bố mẹ đă bàn với nhau từ bao giờ và như thế nào mà sau đó không trở về Việt Nam. Nhưng lâu lâu tôi cũng suy nghĩ về một cuộc sống đă có thể xảy ra cho ḿnh tại Việt Nam. Có thể là tôi đă mặc áo dài trắng đến trường mỗi ngày? Cũng có thể là tôi đă quên mất tiếng Nhật rồi chăng? Hay là đang mơ ước được trở về Nhật Bản quê hương của Mẹ? Về phần Bố tôi, không hiểu ông đă có thể sống một cuộc đời ra sao nhỉ?

  いまでは日本のジョークもわかるようになmった父は19歳の想いをいくらか実らせ、日本とベトナムを往復しながら医療や公害問題の共同研究をしています。そんな父のささやかな夢は、ホーチミンに小さな家を持つことです。祖父も叔父も亡くなり、父には帰るべき家がなくなってしまいました。川には巨大な食べられるエビがいて、庭にはマンゴスチンやパパイヤがたわわになる家。まだ建ててもいないその家の話をして、「あゆも自由に使っていいぞ!」という父は、なかなかいいと思います。

Hiện nay khi mà bố tôi đă hiểu được kiểu nói đùa của Nhật Bản, Ông đi đi về về giữa Nhật Bản và Việt Nam để cùng nghiên cứu các vấn đề y tế và ô nhiễm, thực hiện được một phần nào các mơ ước của tuổi 19. Ông tôi và bác tôi đều đă qua đời, cho nên bố tôi không có nhà nào để về ở. Bố tôi hiện đang có một giấc mơ nho nhỏ, đó là việc sở hữu một căn nhà nhỏ ở TP Hồ Chí Minh. Một căn nhà trong vườn có đầy những trái xoài và đu đủ nặng trĩu, gần bên con sông với những con tôm càng ăn được. Tôi thấy ông rất hay ở chỗ là hay nói về một căn nhà chưa xây, “Ayu cũng được sử dụng căn nhà đó tự do ”.