Sau
hơn một năm kể từ khi trở
về Việt Nam làm việc tại Khu Công
nghệ cao TP Hồ Chí Minh, Tiến sĩ
Nguyễn Chánh Khê, người có 35 bằng
phát minh được công nhận tại
Mỹ, cũng đă có hai phát minh tạo nên
những bước đột phá cho nền
khoa học nước nhà, đó là mực in
phun và than nano “lỏng”. Sau đây là
cuộc tṛ chuyện của anh với Nhân Dân
điện tử trong một ngày giáp
Tết.
- Thưa Tiến sĩ Nguyễn Chánh Khê,
điều ǵ đă thôi thúc anh trở
về Việt Nam làm việc?
- Từ khi tôi nhận biết được
những cống hiến khoa học và công
nghệ của ḿnh đă mang lại siêu
lợi nhuận cho các công ty hi-tech (công
nghệ cao) ở Nhật và Mỹ, và cũng
từ khi tôi cảm thấy tự tin có
thể tạo được những đột
phá khoa học gây được sự quan tâm
rộng răi đối với các đồng
nghiệp trên toàn thế giới, tôi đă
bắt đầu tự hỏi ḿnh rằng:
“Tại sao tôi vẫn chưa có một đóng
góp thiết thực cho đất nước
Việt Nam?”
Thật ra, sau ngày đất nước hoàn
toàn giải phóng, tôi đă được
về thăm quê hương vào cuối tháng
12-1982, để rồi từ đó đă
khởi hành trên con đường đóng
góp cho khoa học Việt Nam. Tôi bắt đầu
bằng những chuyến viếng thăm cùng
với các nhà khoa học mà cũng là
thầy dạy của tôi ở đại
học Nhật Bản, những chuyến giao
lưu kèm theo các cuộc hội thảo để
phổ biến kiến thức khoa học và
công nghệ cao cho trí thức trong nước.
Sau đó, tôi có những công tŕnh trợ
giúp những chuyên đề khoa học cho
Viện Khoa học Việt Nam, hướng
dẫn đề tài nghiên cứu cho các trường,
viện trong nước...
Thế nhưng, sau gần cả 20 năm
dấn thân, tôi chưa thấy một thành
tựu nào được hoàn chỉnh theo ư
muốn. Có đề tài bị bỏ dở
nửa chừng, có đề tài được
chuyển giao thành công th́ lại mất liên
lạc, hoặc không được báo cáo,
hoặc cũng có đề tài không hề
được theo đuổi nghiêm túc ngay
từ đầu. T́nh trạng này dẫn
đến những phí phạm về thời
gian, nhân lực, vốn và thậm chí
vật tư chuyển giao từ nước
ngoài về để sử dụng cho các
dự án. Trong số các dự án đó,
có nhiều đề tài nếu được
chuyển giao công nghệ thích hợp,
chắc chắn sẽ có ư nghĩa rất
nhiều trong mục tiêu CÔNG NGHIỆP HÓA và
HIỆN ĐẠI HÓA của đất nước.
Tôi đă trăn trở rất nhiều
với những công tŕnh không trọn vẹn
này và quyết định trở về nước
làm việc.
Ngay sau khi Trưởng Ban quản lư Dự
án Khu Công nghệ cao TP Hồ Chí Minh Phạm
Chánh Trực gặp tôi giải thích về
chức năng và nhiệm vụ tương
lai của Khu Công nghệ cao TP Hồ Chí
Minh, tôi cảm thấy rằng, đó là
nơi tôi có thể thực hiện hoài
băo đóng góp chuyên môn công nghệ cao
của ḿnh cho đất nước. Ngay
cả trước và sau khi nhận lời
hợp tác với Khu Công nghệ cao TP Hồ
Chí Minh, tôi vẫn c̣n nhận được
nhiều lời mời từ các công ty
hi tech ở Mỹ. Lúc ấy, tôi đă suy nghĩ:
“Có tiếp tục làm việc ở Mỹ
th́ cũng được tiếp tục
nhận thêm lương mới cao hơn, và
thuế lợi tức cũng sẽ cao hơn
nhưng điều ấy không giải đáp
được nỗi băn khoăn trong ḷng
cả mười mấy năm nay”.
- Được biết, trong năm
2003, Tiến sĩ đă công bố hai sáng
chế: mực in phun và than nano lỏng. Làm
thế nào để trong điều kiện
thiếu thốn về thiết bị như
ở Việt Nam, anh vẫn giữ được
“tốc độ” sáng chế 1-2 phát minh/năm
như khi c̣n ở Mỹ?
- Tất cả phát minh sáng chế đều
bắt nguồn từ những động cơ.
Tôi rất say mê nhiếp ảnh kỹ
thuật số và tôi thường tự in
ảnh. Nhưng sau khi về nước định
cư, tôi mới thấy mực vi tính trong nước
quá đắt, khiến cả tôi cũng
phải ngần ngại sử dụng. Đây
là động cơ chính thôi thúc tôi suy nghĩ
về cách làm ra mực phun để cá nhân
tôi và mọi người Việt Nam đều
có thể sử dụng dễ dàng được.
Một động cơ khác là mực
nhập kể cả mực hiệu, vẫn
không mang lại những mầu sắc trung
thực với cảm xúc lúc chụp
ảnh, tôi cần chọn công thức
mực thể hiện đúng mầu sắc
và các yêu cầu của bức ảnh.
Tôi có cơ hội tiếp cận khá
nhiều công nghệ ghi chép thông tin để
qua đó, tôi có thể dự đoán một
cách khoa học các yếu tố thành phần
cần thiết cho vật liệu. Các nguyên
tắc cơ bản về in kỹ thuật
số (digital printing) đă được công
bố từ năm 1981 cho đến nay
với nhiều sản phẩm công nghệ
cao như vi tính, máy in, màn h́nh... Nếu ai
quan tâm, sẽ có cơ hội nắm vững
những nguyên tắc cơ bản đó và tùy
sáng tạo của mỗi người qua chuyên
ngành của ḿnh mà ḿnh sẽ phát huy
được những công nghệ mới.
- Tiến sĩ đă bắt đầu
nghiên cứu về vật liệu nano từ
bao giờ?
- Tôi đă có quá tŕnh tham gia nghiên cứu
vật liệu nano từ năm 1989 và có
một phát minh được công nhận
ở Mỹ năm 1990. Mặc dù lúc ấy,
cả Kodak lẫn cá nhân tôi đều chưa
biết được rằng ḿnh đă làm
được vật liệu nano, và v́
ứng dụng thời bấy giờ không
giống với ứng dụng về nano bán
dẫn mà Tiến sĩ Ijima, nhà khoa học
của hăng Sony, Nhật Bản đă khám phá
về ống than nano (carbon nano tube) năm 1991.
Và thật ra, khám phá của Ijima năm 1991 nhưng
gần đây mới được thế
giới quan tâm khi Intel và tổ chức
quốc tế SEMATECH theo đuổi những
đột phá về transistor có độ
lớn dưới 100nm.
- Tiến sĩ đă chế tạo
than nano “lỏng” ở Việt Nam như
thế nào?
- Tại Việt Nam, tôi chỉ bắt đầu
chương tŕnh nghiên cứu vật liệu
và công nghệ nano sau khi tham gia Khu Công
nghệ cao TP Hồ Chí Minh vào tháng 9-2002 . Tuy
vậy, lúc đó quan tâm về nano của tôi
đang hướng rất nhiều về hướng
đi của Intel, tức là có mơ ước,
được góp phần vào thành tựu
của nano vi mạch của thế kỷ 21.
Tôi không định cạnh tranh với Intel,
nhưng tôi hy vọng Việt Nam có thể len
lỏi vào công tŕnh chung của SEMATECH
bằng những vật liệu giúp Intel đạt
được mục tiêu sau cùng của
họ là chế tạo bộ vi xử lư
(microprocessor) có 1 tỷ transistor, tức là 1
tỷ logic gates.
Sau khi Đại học Quốc gia TP Hồ
Chí Minh, với sự đầu tư của
World Bank, kêu gọi những nhà khoa học
quan tâm đến vấn đề nâng cao
chất lượng giáo dục và đào
tạo ngành vật liệu mới, tôi đă
mạnh dạn đề xuất hướng
đi “Công nghệ và Vật liệu Nano” vào
cuối tháng 3-2003.
Và từ đó, tôi bắt đầu suy
nghĩ nên nghiên cứu ǵ trong nano. Từ lâu,
tôi đă quan tâm về sự tương quan
cơ bản giữa Si trong công nghệ vi
mạch và C v́ cả hai cùng nằm trên
một cột trong bảng phân loại
tuần hoàn.
Và tôi đă đề xuất rồi
triển khai ư tưởng chế tạo
ống than nano qua giai đoạn than nano
“lỏng” trước, kết hợp
với dự án Nghiên cứu công nghệ nano
và chương tŕnh đào tạo thạc sĩ
khoa vật liệu của Đại học Bách
khoa.
- Khu công nghệ cao do Tiến sĩ
phụ trách nghiên cứu về những lĩnh
vực nào?
- Có bốn lĩnh vực sẽ được
triển khai theo những hướng phát
triển cụ thể :
a) Bán dẫn gồm vi mạch và phát sáng
b) Vật liệu và công nghệ nano bao
gồm ứng dụng than nano “lỏng”
trong công nghệ thông tin, bán dẫn, năng lượng.
c) Sinh học điện tử, đặc
biệt là vấn đề đo đạc
đột biến gene.
d) Cơ khí chính xác, cụ thể là
thiết bị bán dẫn.
- Tiến sĩ dự định
sẽ nghiên cứu tiếp về những
vấn đề ǵ trong năm 2004?
- Tôi sẽ hoàn thành thủ tục
đăng kư sở hữu trí tuệ
quốc tế về than nano “lỏng”;
tiếp tục những thí nghiệm ứng
dụng của than nano trong công nghệ thông
tin, vi mạch, năng lượng, bán
dẫn, ống than...; t́m các phương pháp
chế tạo vật liệu nano mới
từ kim loại, hữu cơ. Tôi cũng
sẽ hoàn thành cuốn sách “Cơ sở
chế tạo vi mạch”, xin thành lập
Trung tâm nghiên cứu phát triển R&D và
chuẩn bị cho nghiên cứu kế tiếp
trong bán dẫn phát sáng.
- Chúc những dự định
của Tiến sĩ sẽ thành hiện
thực.
HỒNG VÂN thực
hiện
|